Hôm nay,  

Suối Nguồn Tâm Thức, Tuyển Tập Thơ Thái Tú Hạp

9/2/202011:59:00(View: 4069)

Tháng 11 năm 1990, từ miền Đông Hoa Kỳ về Nam California nắng ấm, anh chị Thái Tú Hạp - Ái Cầm ghé thăm và tặng mấy món quà, trong đó có tập thơ Miền Yêu Dấu Phương Đông. Anh chia sẻ, bây giờ xa cố hương, nơi chốn mịt mù… khi nào nhớ thì đọc. Vài tuần sau tôi viết cảm nghĩ về tập thơ nầy: Thái Tú Hạp & Miền Yêu Dấu Phương Đông cho tờ Saigon Times của anh. Lúc đó còn chân ướt chân ráo, chưa có phương tiện nên viết trên giấy, gởi về tòa soạn.

Đúng 15 năm sau, cảm nhận từ những bài thơ với Quê Hương & Người Tình, vài tập thơ khác đã ấn hành, nhiều bạn văn đã viết rất chân tình. Với tôi, cùng nơi chốn ở phố cổ Hội An nên khi đọc thơ anh đã “dẫn dắt” tôi trở về cố hương từ dòng sông, con đường, góc phố, mái trường… với bao kỷ niệm của thuở học trò. Tôi viết: Thái Tú Hạp, Quê Hương & Ngôn Từ vào năm 2005 (bài vết nầy còn lưu trên trang web Saigon Times USA).

blank


Ngoài những bài về văn học nghệ thuật, viết về bạn bẻ, thân hữu… cho tờ Saigon Times, tôi không viết về thơ văn của anh bởi đã quá nhiều cây bút xa, gần đề cập đến tác phẩm mới vừa ấn hành.

Và, lần nầy, đúng 15 năm, nhận được tuyển tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức của anh, nhà xuất bản Sông Thu ấn hành vào tháng 9 năm 2019, nhưng lúc đó anh bị bệnh tim phải giải phẫu nên sau khi được hồi phục mởi gởi tặng thân hữu. Với tôi, tuyển tập thơ nầy như “đứa con tinh thần” mang nhiều ý nghĩa: kỷ niệm nhà thơ ở tuổi 80, tình nghĩa vợ chồng và 60 năm góp mặt trên thi đàn Việt Nam từ trong nước đến hải ngoại.

Hơn nữa, theo lời anh, cô em gái ở Việt Nam góp nhặt những trang báo cũ của các tạp chí Văn Học xuất bản ở ở Sài Gòn có in thơ anh cất dấu trong các ngăn sách mối nhấm lâu năm gởi qua nên mới tìm lại những bài thơ kỷ niệm. Tuy nhiên cũng có một số bị hư hỏng phai nhòa qua thời gian nên không hoàn chỉnh như ý nguyên bản.

Nhà thơ Trần Hoài Thư là người bỏ nhiều công sức để thực hiện “Di Sản Văn Hóa Miền Nam VN” đã sưu tập được một số bài trơ của anh Thái Tú Hạp trong các tạp chí văn nghệ ở thư viện tại đại học Cornell đẻ phổ biến trên Thư Quán Bảo Thảo và đăng trên tuyển tập nầy.

Tuy sống trong thời chinh chiến nhưng hầu như anh em chúng tôi đều có “tủ sách gia đình”, sau 30/4/1975 bị đi tù, thân nhân ở nhà hoảng sợ nên đốt đi vì nếu lưu giữ, khi bị khám xét nhà sẽ kết tội “tàng trữ văn hóa đồi trụy”! Đó là thảm kịch như thời Tần Thủy Hoàng. 

Tuyển tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức (SNTT) dày 738 trang, hơn 250 bài thơ, 33 bài thơ dịch sang Anh ngữ (Phan Tấn Hải, Thanh Thanh, Nguyễn Hữu Lý), 6 bài viết của thân hữu & 10 trang hình ảnh gia đình. Trong tuyển tập tập thiếu những bài thơ của anh được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc, nếu in vào cũng khoảng 800 trang, lưu niệm tuổi 80.

Từ bài thơ đầu tiên Mùa Xuân Trên Quê hương đến bài thơ cuối cùng Chuyển Hóa Tâm Từ Ái… ý thơ trang trải qua dòng thời gian.

Trong thời chinh chiến, các nhà thơ miền Trung như Luân Hoán, Triều Hoa Đại, Trần Hoài Thư, Phan Nhự Thức… khi khoác áo chiến y đã sáng tác nhiều bài thơ về lính. Nhà thơ Thái Tú Hạp cũng đề cập đến nhưng với hình ảnh khác về quê hương, mẹ và người tình:

“Rồi ngày mai các anh về đơn vị

Mỗi cánh chim mang nhung nhớ phương trời

Em ở lại già nua đời phố cũ

Bầy tương tư muôn cọi vấn vương đời

… Anh về đâu miền Tây nao nức nhớ

Sớm Hậu Giang chiều Đồng Tháp Cà Mau

Tiếng quân reo dậy đôi bờ Sông Cửu

Tin khải hoàn chuyển lửa ấm tình nhau”

(Xin Lời Mang Tuổi Mộng)

“Tôi đi giữa làng quê Việt Nam

Hơi thở ngát thơm hương lúa mới

… Mai quân về giữa thủ đô

Đèn hoa thắp sáng đôi bờ yêu thương

Chừ thôi nhắc chuyện lên đường

Tóc mây em khép mười phương tang bồng”.

(Hẹn Em Ngày Trở Về)

“Ngày lên đường luyến lưu bao nỗi nhớ

Những đồi trăng hư ảo mộng mơ xưa

Đêm tỏ tình giữa trời cao chứng giám

Nghìn thu sau mộng ước vẫn chưa phai

… Mai anh đi chắc em buồn tuổi dại

Rồi bướm hoa ai dệt mấy vần thơ

Cho em thẹn như ngày vừa mới lớn

Bàn tay ngà che nửa miệng ngây thơ”.

Bài thơ Ước Mơ Của Người Lính Trẻ trong thời chinh chiến với tâm hồn nhân bản mong ước mới và lạ nào là “Khi vũ khí… thành lưỡi cuốc lưỡi cày. Khi viên đạn… trở thành bình hoa trong phòng khách. Khi giao thông hào biến thành con kinh… Khi ngọn hỏa châu thắp sáng như ngân hà… 

Thực thà kể chuyện đoàn viên

Người lính mơ ước thanh bình hạnh ngộ”

Thế nhưng ước mơ đó ngược lại quá phũ phàng với hình ảnh:

“Giấc mơ xưa đã điêu tàn

Nghe da diết nhớ lòng mênh mông buồn

… Đến rồi đi cũng trắng tay

Kiếp phù sinh đó vơi đầy nỗi đau”.

(Nỗi Buồn Mai Sau)

Giữa anh và chúng ta trong cơn binh lửa, hình ảnh người mẹ cao cả, bao la, thương yêu, lúc nào cũng mang nỗi buồn, lo lắng cho con. Và, tâm trạng của nhà thơ cũng là tâm trạng chung:

“Mẹ u hoài vì đàn con đôi ngã

Chiều chiến tranh âm ỷ cháy trong tim

Giọng u sầu hiu hắt nỗi oan khiên

… Mẹ chua xót mang niềm đau thế kỷ

Nỗi buồn cao như núi cả sông dài

Hồn như mây theo con ngoài vạn lý

Nhớ thương hoài dòng tóc đẫm sương phai”

(Lòng Mẹ)

Với người tình, trong Chinh Phụ Ngâm: Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ... Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây” hình ảnh nầy thấp thoáng trong những dòng thơ:

“Từ buổi ngựa hồng anh rong ruổi

Em vẫn đợi chờ sau liếp mây

Từng nắng chiều qua khung cửa nhớ

Núi sầu xa mãi bóng chim bay”

(Ngoài Chân Mây)

Đọc bài thơ nầy chợt nhớ đến bài Mòn Mỏi của Thanh Tịnh với hình ảnh bi thương:

“Có bóng tình quân muôn dặm ruổi

Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ

… - Ngựa hồng đã đến bên hiên,

Chị ơi, trên ngựa chiếc yên... vắng người!”

Trang 79 trong tuyển tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức trích đăng lần lượt với 2 thi phẩm Chim Quyên Lạc Ngàn (1982) và Miền Yêu Dấu Phương Đông (1987).

Trang 585, bài viết của nhà báo Bùi Bảo Trúc đề cập đến 2 thi phẩm nầy với dòng kết “Miền Yêu Dấu Phương Đông với ngôn ngữ ân cần của lục bát và cảm động của bảy chữ là mọt tập thơ đáng yêu như phương đông yêu dấu của ông”.

Nhà thơ tự ví mình như chim quyên mà hình ảnh đó, thi hào Nguyễn Du đề cập “Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên”, theo truyền thuyết, hồn Thục Đế An Dương Vương khi con gái Mỵ Châu bị lừa, trao nỏ thần cho chồng là Trọng Thủy nên phải thua trận, An Dương Vương và nhảy xuống biển tự tử. Vì nhớ nước nên hóa thành Đỗ Quyên, chim Cuốc, chim Quốc ngày đêm kêu lên những tiếng não ruột. Theo điển tích của Trung Hoa thì Thục Đế là vua nước Thục tên Đỗ Vũ bị bầy tôi dấy binh làm phản, Thục Đế thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng, khổ sở, nhớ ngai vàng, nhớ nước, Thục Đế chết hoá thành chim Đỗ Quyên ngày đêm kêu "cuốc cuốc” hay “quốc quốc”.   
     

Trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, có câu:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Đứng trước thành Cổ Loa, xưa kia là cung miếu của vua Thục An Dương Vương, nhà thơ Chu Mạnh Trinh cảm nhận cảnh điêu tàn quạnh quẽ dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải trong đêm khuya vọng lên buồn bã:

“Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu

Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm”

(Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt

Trăng mở khắc khoải cuốc kêu thâu)

Nhà thơ Yên Đổ Nguyễn Khuyến bày tỏ nỗi niềm của người dân yêu nước bị ngoại bang xâm lược: 

“Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ

Năm canh máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ”

Những dòng thơ của anh Thái Tú Hạp tiếp nối tâm trạng, nỗi bi thương, thống hận như các bậc tiền nhân khi mất quê hương đành lưu lạc xứ người.

Trang 245 với thi phẩm Hạt Bụi Nào Bay Qua. Những dòng thơ của anh đã thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo. Theo lời tâm tình của nhà thơ: “Thời trung học nhà tôi gần ngôi Chùa cổ Hội An. Tôi thích cái không khí tĩnh mịch, yên lặng, nên hay rủ bạn bè vào chùa ngủ những đêm trăng sáng. Tiếng chuông khua trong  chiều cô liêu, sân chùa thoảng mùi hương ngọc lan, mùi trầm hương từ  chánh điện. Tôi cảm thấy tâm hồn  an bình êm ả vô cùng, lòng yêu thương như giòng sông Thu tỏa rộng hòa nhập với đại dương. Nhờ thời  gian lui tới nơi chốn thanh tịnh đó, tôi đã biết yêu thơ của các thiền sư Khuông Việt, Vạn Hạnh, Mãn Giác, Ngộ Ấn, Hương Hải, Không Lộ... biết những tên tuổi lừng lẫy của  Đường Thi qua những tài danh lỗi  lạc như Lý Bạch, Thôi Hiệu, Vương Duy, Lý Thương An, Đỗ Phủ... mới biết thế giới của André Gide, Hemingway, Kafka, Jean Paul Sartre, Nietzsche, Heidegger... cho dù tôi  chỉ mới đứng ở bờ mé  của biển học mênh mông tuyệt vời  đó... và đang chỉ là hạt cát ngu dốt trên bờ sông Hằng.

Tôi đã vô hình chung thẩm thấu ít nhiều hơi thở của tư tưởng Phật Giáo thế là tôi thầm lắng đi vào cõi thơ lãng đãng những mùi trầm hương và những đóa hoa sen giữa nguyệt hồ. Càng trải qua những biển dâu tang điền, tuổi càng ngất ngưỡng ở cửa tri thiên mệnh, tôi càng chiêm nghiệm lẽ vô thường, mọi hiện hữu đều sinh diệt như những ảo ảnh không thật, như huyễn hóa, như bọt  sóng, như sương trên cành. Và tôi hiểu chỉ có con đường trở vào cõi tâm mới là nơi chốn an bình. Đích thực là thế giới thanh tịnh của Chân Như…”.

Giáo sư Vũ Ký (1922-2008) gốc Quảng Nam, dạy học từ Hà Nội năm 1943, Quốc Học Huế, Petrus Ký Sài Gòn… nhà văn, nhà biên khảo, nhà phê bình văn học. Sau 30/4/1975, GS bị bắt giam tại Sài Gòn và ở cùng trại tù với anh Thái Tú Hạp tại Tiên Lãnh, Quảng Nam. Khi định cư tại Bỉ, GS Vũ Ký được mời làm Giám Khảo Viện Tú Tài Quốc Tế tại Genève (Thụy Sĩ), Viện Đại Học Southamotom và Đại Học Bath ở Anh Quốc.

Trong bài viết của GS Vũ Ký giới thiệu về thi phẩm Hạt Bụi Nào bay Qua trang 689 đã dẫn chứng khá dài với đoạn kết: “Suốt tập thơ của Thái Tú Hạp là một đóa tâm tư vương rất nhiều ánh sáng hoàng hôn đầy những ngổn ngang hoài niệm với cung điệu xa vắng thuở nào, pha chút ít đó đây kỳ vọng mơ hồ của ản ảnh để gọi là sắc bình minh nở trên miền đất lạ…”.

Luân Hoán & Thái Tú Hạp là bạn học từ thập niên 50 ở phố cổ Hội An, hai nhà thơ nầy như có “duyên” với nhau từ thuở học trò, thời quân ngũ và bốn thập niên ở hải ngoại. Trang 606, bài viết của nhà thơ Luân Hoán: Thái Tú Hạp, Hạt Bụi Nào Bay Qua. Trong bài viết nầy anh Luân Hoán viết về chân dung người bạn, tình yêu với chị Ái Cầm và trích dẫn những tác giả viết về anh Thái Tú Hạp. Tôi thấy cũng đủ nên không đề cập đến các bài viết khác.

Là Phật Tử thuần thành từ nhỏ, học triết học Đông Phương và sau nầy tìm hiểu triết lý trong Phật Giáo nên khi đọc thi phẩm Hạt Bụi Nào Bay Qua, cảm nhận được vi diệu trong nhân sinh quan mà anh Thái Tú Hạp đã “ngộ” được nên trang trải trong ý thơ.

“Mây huyễn hoặc cõi phương đông

Hạt kinh khuya rớt xuống dòng tịch liên”

(Màu Hoa Tự Tại)

“Nhất quán rồi – mộng mai sau

Tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi”

(Luân Hồi Có Nhau)

“Cái vô lượng nhập với đời

Cái trong chánh niệm với trời vô chung

… Tâm hoài niệm vũ trụ ngoài

Cõi thiên đường đó miệt mài yêu nhau”

(Trong Tùng Sát Na Tâm)

“Ta về cổ tự nghe kinh

Suối mây chim hót trên cành tĩnh tâm

… Bụi nào xóa sắc sắc không

Nghe chuông đại nguyện hóa thân chim trời”

(Thắm Tờ Kim Cang)

“Thời gian miên viễn vô cùng tận

Lòng ta nguyên thủy với núi sông

Lên cao cảm thọ đời hư huyễn

Định mệnh đôi bờ sắc với không”

(Đôi Bờ Sắc Không)

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc” trong kinh Bát Nhã, nói lên lẽ vô thường, vạn vật cứ thế biến đổi tuần hoàn trong vòng sinh tử luân hồi… Bản dịch của ngài Huyền Trang được chuyển sang Hán Việt để trì tụng hằng ngày: “Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị...” (Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế…). Với Ngũ Uẩn:

Sắc uẩn, bao gồm bốn yếu tố địa đại (chất rắn), thủy đại (chất lỏng), hỏa đại (nhiệt độ) và phong đại (chất khí) hình thành nên cơ thể sinh vật lý của con người và thế giới vật chất bên ngoài con người, trong đó có các đối tượng tiếp xúc của các giác quan. Thọ uẩn là những cảm giác, cảm nhận phát sinh do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp… Tưởng uẩn là những tri giác, suy nghiệm về sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và những khả năng hồi tưởng, liên tưởng, tưởng tượng. Hành uẩn, là thái độ, ý chí, ý muốn. Hiện tuợng tâm lý biểu hiện thôi thúc, dẫn dắt tâm ý theo xu hướng thiện hoặc ác qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần sẽ sinh ra sáu thức là nhãn thức (cái biết của mắt), nhĩ thức (tai), tỉ thức (mũi), thiệt thức (lưỡi), thân thức (cái biết của thân) và ý thức (cái biết của ý) của con người.

Nói về sát na, ý niệm trong Phật Giáo là một đơn vị đo thời gian. Ông Vallée Poussin, khi nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này, đã diễn tả rằng: “Trong Phật Giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. Chỉ có sát na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm”. 

Thời gian trong cuộc sống có thời gian quy ước, định luật tự nhiên (ngày giờ phút giây còn gọi là vật lý) và thời gian tâm lý (cảm nhận thời gian khi cô đơn buồn bã thì thấy lâu, khi vui thì thấy qua mau)… Theo triết học thì đó là thời gian vô tình và thời gian hữu tình.

Trong bài Sát Na Hạnh Ngộ của anh Thái Tú Hạp:

“Có không nào ai biết

Hoa cỏ giuẫ hư không

Trong sát na hạnh ngộ

Niết bàn cõi tánh không

… Em có bao giờ hiểu

Trong từng sát na tâm

Buồn vui không nói hết

Thôi cũng đành vô ngôn”.

Và, theo anh: “Tất cả mọi thứ trên thế gian nay đều ẩn chứa những ý nghĩ trải nghiệm qua tâm lỉnh, hoàn cảnh thực tế bằng trí tuệ riêng tư của nó để chuyển hóa vào đại dương như Dòng Thơ Suối Nguồn Tâm Thức...”.

“Trong mỗi sát na

Hiện thực trong đời sống

An bình quán tưởng

Tĩnh tâm nguyện cầu”

(Chuyển Hóa Tâm Từ Ái).

“Còn gì trong sát na

Đời buồn mai thức dậy”

(Say Chút Rượu Trầm Luân)

Sát na là khoảng thời gian rất ngắn, có thể là 1/90 giây nhưng cũng có thể dài vô tận như thời gian tâm lý:

“Trăm mùa xuân hốt hoảng

Sát na tưởng chừng dài hơn thế kỷ lo âu”

(Hạnh Phúc Đời Ban Cho)

“Cuộc đời tàn theo ta

Sát na rồi vỡ nát”

(Dấu Tan Ngoài Cuộc Huyễn)

 “Tìm thấy được gì em

Những hoài nghi phi lý

Những biến đổi vô thường

Từng sát na mù mịt”

(Về Qua Phố Hội An)

Khi anh Thái Tú Hạp lâm trọng bệnh, chị Ái Cầm gọi điện thoại cho biết tình trạng của anh quá nguy cập, khi giải phẫu về tim thì chết sống trong gang tấc. Trong giờ phút sinh tử nầy, tùy theo đức tin tôn giáo mà cầu nguyện, gia đình chị chỉ cầu mong Hồng Ân Tam Bảo gia hộ. Khi anh được bình phục, chị Ái Cầm báo tin vui như ước nguyện của anh

“Buổi sáng cầm tay em

Đất trời hoa rực rỡ

Buổi chiều vuốt tóc em

Mây ngàn bao dung mở”

(Mùa Tịnh An)

Đúng 30 năm, chúng tôi gặp nhau nơi đất khách quê người, cách nhau 15 năm với một bài viết về người bạn, người cố quận: nhà thơ Thái Tú Hạp. Mỗi dịp Xuân về, anh chị gọi điện thoại cho biết về Giai Phẩm Xuân của Saigon Times phải có bài của tôi. Thôi thì tùy anh chị, chọn bài nào cũng được. Đã bao lần anh chị nói với tôi viết về “tình sử” thưở xa xưa ở phố cổ Hội An, món nợ nầy đành chịu thua!

Little Saigon, Sept 01, 2020

Vương Trùng Dương

 

Reader's Comment
9/26/202019:49:57
Guest
70 năm trước, người viết đã khoác áo chiến binh, THIÊU ĐỐT tuổi xanh của mình ngoài mặt trận Thừa Thiên Quảng Ngãi, cũng đã khóc các bạn chiến binh trên đối cát Quảng Bình, Nên muốn quên, quên hết...
Nay viết mấy câu thơ sau khi cởi bỏ áo lính, nhìn trời đã sang mùa:
Trời đã vào thu, nắng chợt vàng,//
Mây trời đôi sợi bỗng bay ngang,//
Ta nghe bừng thức hồn thơ dậy,//
Viết vội đôi câu, được mấy hàng.//
......................................
Anh có thấy ven sườn núi đỏ,//
Su7o7nng mù lững thững nhẩn nha bay.//
Mẹ ta xưa,//
Đã qua đó,//
Đưa ta về//
Con nhớ quá,//
Mẹ ơi...//
...................
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.