Hôm nay,  

Đô La Lên Giá Mới Khổ

14/12/201600:00:00(Xem: 8405)

Kể từ năm 2014 dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh hao hụt mất một phần tư...

Trong tuần này, nhiều phần thì Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ tăng lãi suất với hậu quả trước mắt là đồng Mỹ kim lại lên giá so với các ngoại tệ khác. Các nền kinh tế đang phát triển mà vay mượn quá nhiều bằng tiền Mỹ sẽ bị ảnh hưởng trước tiên. Nguyên nhân vì sao, mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sau đây...

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Như nhiều người chờ đợi, tuần này Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể tăng lãi suất làm Mỹ kim sẽ lên giá so với các ngoại tệ khác, sau khi đã lên giá từ hai năm qua. Từ mươi ngày qua, Việt Nam lên cơn sốt vì đồng bạc Việt Nam sụt giá mạnh so với đô la Mỹ và đã có lúc vượt qua ngưỡng 23 ngàn mới ăn một Mỹ kim. Vì vậy, kỳ này, thưa ông Nghĩa, Diễn đàn Kinh tế đề nghị ông trình bày về nguyên nhân và hậu quả của việc Mỹ kim lên giá.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau khi Ngân hàng Trung ương Mỹ nâng lãi suất ngắn hạn 25 điểm bách phân tức là 0,25% cách nay một năm, hầu hết mọi người đều chờ đợi là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng sau kỳ họp tuần này của Ủy ban Tiền tệ và Tín dụng Hoa Kỳ, gọi tắt là FOMC. Lý do cơ bản là kinh tế Mỹ hồi phục nhanh hơn và thất nghiệp giảm mạnh sau khi thống kê lao động được công bố hôm Thứ Sáu đầu tháng. Lý do quan trọng hơn vậy là Tổng thống Tân cử Donald Trump sẽ áp dụng chính sách kinh tế có nội dung tăng chi, giảm thuế và thậm chí bảo hộ mậu dịch để giữ việc làm cho nhân công Mỹ nên nhiều phần thì lạm phát sẽ tăng với hậu quả là trong năm tới, lãi suất tại Hoa Kỳ còn tăng nữa, ít ra là hai lần. Kết cục thì việc Mỹ kim lên giá từ năm 2014 sẽ còn tiếp tục và đấy là vấn đề cho nhiều nước chứ không chỉ có Việt Nam.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, dù có sản lượng kinh tế lớn nhất vì bằng với gần một phần tư sản lượng toàn cầu, vì sao đồng bạc Mỹ lại có thể gây nhiều ảnh hưởng như vậy cho các nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ta nên cẩn thận khi theo dõi và nhận định chuyện này vì tính trật là lại mất tiền! Tôi còn nhớ là sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 và Hoa Kỳ liên tục hạ lãi suất tới sàn rồi bơm tiền ào ạt, nhiều người, kể cả tại Hoa Kỳ, vội nói đến ngày tàn của tư bản chủ nghĩa và vai trò của kinh tế Hoa Kỳ trong khi nhiều xứ hưởng lợi nhờ đô la rẻ như bèo. Từ giữa năm 2013, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo quyết định họ gọi là “vuốt nhọn chính sách tiền tệ” là giảm dần việc bơm tiền và có khi tăng lãi suất, thì người ta thấy Mỹ kim lên giá. Khi ấy, chương trình chuyên đề của chúng ta đã cảnh báo việc đó. Rằng kinh tế Hoa Kỳ có thể bị suy trầm nhưng so với nhiều khối tiên tiến khác như Âu Châu hay Nhật Bản, thì Mỹ kim vẫn là ngoại tệ đáng tin cậy hơn cả, hoặc ít tệ nhất để bảo vệ giá trị tài sản của mình và nếu tưởng tiền Mỹ rẻ mà đi vay thả dàn thì sẽ khốn khi đô la lên giá. Ta nên nhớ lại chuyện xưa để khỏi lầm chuyện sau khi thiên hạ cứ nói đến ngày tàn của nước Mỹ!

Nguyên Lam: Nếu vậy, thưa ông, ta trở lại chuyện xưa, là vì sao Mỹ kim lại ngự trị trong luồng giao dịch toàn cầu khiến các nước bị chấn động mỗi khi đồng bạc xanh lên hay xuống giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chúng ta phải trở ngược lên một năm Thân, cách nay 72 năm, thì mới hiểu vì sao Mỹ kim trở nên một ngoại tệ dự trữ của toàn cầu, rồi sau mỗi khi thăng trầm thì thiên hạ lại mất tiền và oán Mỹ! Trước khi Thế chiến II chấm dứt vào năm 1945 thì từ năm 1944, Hoa Kỳ và các đồng minh Tây phương đã xây dựng lại một kiến trúc tài chính quốc tế khác để tránh loại biến động tài chính và khủng hoảng kinh tế đã góp phần gây ra chiến tranh. Đó là Hội nghị tại Bretton Woods và sự ra đời của các định chế tài chính toàn cầu như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hay Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế là tiền thân của Ngân hàng Thế giới ngày nay. Hội nghị ấy quy định rằng ngoại tệ của các nước không còn giàng giá vào vàng, tức là từ bỏ chế độ “kim bản vị”, mà neo giá vào tiền Mỹ theo tỷ lệ nhất định giữa đồng đô la Mỹ và vàng. Đại lược là 35 Mỹ kim ăn một troy ounce, khoảng 31 gram vàng. Sau đó, cách nay đúng 70 năm, kế hoạch viện trợ Marshall của Mỹ nhằm tái thiết Âu Châu từ năm 1947 đã bơm tiền Mỹ vào việc phục hồi Âu Châu. Khi ấy, là cường quốc ít bị thiệt hại về chiến tranh, Hoa Kỳ là đầu máy tái thiết các nước và Mỹ kim trở thành ngoại tệ phổ biến nhất, đến độ các nước Âu Châu còn phát hành công khố phiếu để vay tiền mà là trái phiếu yết giá bằng tiền Mỹ. Người ta gọi đó là “Đô la Âu châu”, hay Euro-Dollars!

- Tháng Tám năm 1971, khi bội chi gia tăng một phần vì phí tổn của cuộc chiến tại Việt Nam, Hoa Kỳ từ bỏ chế độ giao hoán thiết lập từ Hội nghị Bretton Woods, là hết giàng Mỹ kim vào vàng như trước, và gây chấn động nặng khiến nhiều người lại nói đến ngày tàn của nước Mỹ và thiên hạ chẳng xài đô la mất giá nữa. Sự thật không như vậy vì vụ khủng hoảng dầu khí sau đó vẫn khiến các nước cần đô la mua dầu vì dầu thô của xứ Saudi Arabia lại giàng giá vào Mỹ kim và dẫn tới sự xuất hiện của đồng “Đô la Dầu hỏa” hay Petro-Dollars, được các nước trao đổi với nhau và sau cùng vẫn lại gửi vào ngân hàng Mỹ để kiếm lời cho an toàn.

Nguyên Lam: Khi ông nhắc lại bối cảnh lâu dài như vậy thì ta mới thấy ra vị trí khác thường của đồng bạc xanh. Nhưng ông có nói đến vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 khiến nhiều người lầm tưởng là tư bản chủ nghĩa bị khủng hoảng và tiền Mỹ mất luôn vị trí thống trị. Sự thể diễn biến ra sao mà ngày nay, và tuần này, xứ nào cũng lo rằng Mỹ kim lại tăng giá?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta lầm khi cho rằng khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Mỹ với sự sụp đổ của các tập đoàn đầu tư Bear Sterns vào Tháng Ba rồi Lehman Brothers vào Tháng Chín năm 2008. Thật ra, cả Âu Châu lẫn Hoa Kỳ có chính sách bơm tiền và vay mượn dễ dãi, nhất là các ngân hàng Âu Châu vay mượn bằng tiền Mỹ, và thổi lên trái bóng gia cư địa ốc. Bên trong khối tiền này là nhiều khoản nợ xấu được gói kín như trong kén nợ mà xấu chừng nào thì chẳng ai biết. Khủng hoảng tài chính manh nha từ năm 2007 tại Âu Châu rồi mới bùng nổ dữ dội tại Hoa Kỳ. Khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại đẩy lui nạn ách tắc tín dụng của các ngân hàng với biện pháp tiền tệ dễ dãi làm Mỹ kim sụt giá. Rồi vì tiền Mỹ quá rẻ trong sự trì trệ của khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật, tư bản chảy vào các nước đang phát triển để kiếm lời. Tức là người ta vay nhau vẫn bằng đô la tưởng rẻ như bèo. Khi Mỹ kim lên giá chầm chậm từ hai năm qua thì các nước lỡ vay quá nhiều bắt đầu hụt hơi. Chuyện hôm nay là tiền Mỹ sẽ tăng giá mạnh và nhiều nước đang phát triển sẽ thiếu Mỹ kim để trả nợ và lâm khủng hoảng!

Nguyên Lam: Sau khi nhắc lại khung cảnh ngày trước, xin ông tổng kết cho bức tranh ngày nay và vị trí của đồng Mỹ kim trong luồng giao dịch toàn cầu để thính giả của chúng hiểu được vì sao mà nhiều nước sẽ khổ khi đô la lên giá.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dù lâu lâu thiên hạ lại nói Hoa Kỳ sắp bị khủng hoảng, đồng Mỹ kim vẫn là ngoại tệ phổ biến nhất vì được sử dụng trong hơn 85% nghiệp vụ giao dịch ngoại hối của thế giới, 39% các khoản nợ toàn cầu được yết giá bằng Mỹ kim và tiền Mỹ nằm trong hơn 63% của dự trữ ngoại tệ của các nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi kinh tế Âu Châu, Tầu và Nhật đều gặp khó khăn thì người ta thấy rằng lưu giữ tài sản bằng tiền Mỹ là cách an toàn nhất. Nghịch lý ở đây là thiên hạ vẫn cần tiền Mỹ trong khi thế giới lại lo rằng với việc ông Donald Trump là Tổng thống Tân cử thì Hoa Kỳ sẽ trôi vào giai đoạn bất trắc. Điều bất trắc thật ra là thiên hạ sẽ thiếu đô la và kinh tế thế giới thiếu thanh khoàn để giải quyết nhu cầu chi dụng!

Nguyên Lam: Một cách cụ thể, thưa ông, các nước sẽ gặp những rủi ro gì khi Mỹ kim lên giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là rủi ro ấy không đồng đều vì tùy hoàn cảnh từng nước căn cứ trên ba yếu tố là có khối dự trữ ngoại tệ nhiều hay ít, mắc nợ bằng Mỹ kim cao hay thấp và có trương mục vãng lai hay cán cân chi phó bằng ngoại tệ bị thiếu hụt hay không và người ta so sánh ba yếu tố ấy căn cứ trên Tổng sản lượng của từng nước. Trên cơ sở đó, hiện nay, các nước như Venezuela, Turkey, Chile, và Ai Cập đang bị nguy nhất trong tám nước sẽ bị rủi ro, sau đó mới là cảnh ngộ ngặt nghèo của sáu bảy nước khác, trong đó có Hy Lạp, Argentina, Mexico, Peru và cả Việt Nam nữa vì mắc nợ quá nhiều mà dự trữ ngoại tệ chưa đủ dầy! Nhưng ngoài mười mấy quốc gia đó, chính là kinh tế Trung Quốc mới đáng ngại hơn cả và tuần này khi thiên hạ nói đến việc Mỹ kim lên giá là thị trường cổ phiếu Thượng Hải rơi rớt thê thảm.

Nguyên Lam: Thưa ông, Trung Quốc có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ nhì thế giới và bề gì họ vẫn có dự trữ ngoại tệ trị giá hơn ba ngàn tỷ Mỹ kim thì vì sao tình hình lại đáng ngại nhất khi Mỹ kim lên giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Trung Quốc lâm thế kẹt khi tưởng đã thành đại gia kinh tế. Thứ nhất, họ vẫn giàng giá đồng bạc vào tiền Mỹ và khi Mỹ kim lên giá thì từ 18 tháng nay, họ phá giá, là ấn định tỷ giá đồng Nguyên thấp hơn so với tiền Mỹ khoảng 12% kể tử đầu năm 2014. Tưởng là tiền rẻ sẽ giúp xuất khẩu để kích thích sản xuất nhưng họ bị hậu quả bất lường là nạn tẩu tán tư bản, là doanh nghiệp tìm tiền Mỹ đầu tư ra ngoài. Để tránh tình trạng đó, Bắc Kinh ra biện pháp trái ngược là bán Mỹ kim nhằm giữ giá đồng Nguyên cho cao thì lại càng mất ngoại tệ. Kể từ năm 2014 dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh hao hụt mất một phần tư, từ gần bốn ngàn tỷ thì chỉ còn hơn ba ngàn. Bây giờ, khi tiền Mỹ lên giá thì dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc càng bị bào mỏng hơn. Vậy mà tuần trước, Bắc Kinh vẫn bị Tổng thống Tân cử Donald Trump đả kích là lũng đoạn hối đoái khi phá giá đồng bạc và cảnh báo rằng Hoa Kỳ sẽ có biện pháp trả đũa. Hậu quả là làm đồng Nguyên càng sụt giá và nạn tẩu tán tư bản càng tăng.

- Kết luận ở đây là Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa tăng lãi suất thì việc thị trường dự báo đồng đô la Mỹ còn lên giá khiến Trung Quốc càng lúng túng. Thay vì áp dụng chính sách ngoại hối ổn định, họ cố can thiệp, khi nâng khi hạ giá đồng bạc và rơi vào tư thế còn vất vả hơn nữa, đó là mắc tội lũng đoạn hối đoái để tìm lợi thế thương mại. Cách nay đúng 15 năm, Bắc Kinh được Hoa Kỳ chấp nhận cho gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO kể từ ngày 11 Tháng 12 năm 2001. Khi ấy, họ được điều kiện đặc miễn dù nền kinh tế chưa hội đủ tiêu chuẩn gọi là kinh tế thị trường. Chuyện đặc miễn ấy nay phải chấm dứt mà Bắc Kinh vẫn can thiệp vào thị trường thì sẽ bị gần 160 thành viên WTO còn lại khiếu nại và trừng phạt về tội lũng đoạn. Đúng lúc ấy, Mỹ kim lại lên giá thì Trung Quốc càng rơi vào cảnh lưỡng nan khó xử!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.