Hôm nay,  

Toàn Cầu Hóa Thoái Lui

02/03/201600:00:00(Xem: 7121)

Việt Nam gia nhập cuộc chơi ấy khi toàn cầu hóa có thể bị khựng, từ năm tới trở đi.

Việt Nam đang chính thức bước vào sân chơi toàn cầu hoá khi thành hội viên của Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, của Thị trường chung ASEAN và đối tác thương mại của Liên hiệp Âu châu. Mở đầu một thời kỳ mới với nhiều triển vọng vào năm tới, Việt Nam nên quan tâm đến loại vấn đề gì thuộc mặt trái của hiện tượng toàn cầu hoá nói trên? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về đề tài ấy qua cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa do Nguyên Lam thực hiện.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sau các hiệp ước tự do thương mại được ký kết năm ngoái, Việt Nam sẽ hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế toàn cầu. Nhưng, triển vọng rộng mở vẫn còn nhiều mặt tiêu cực vì Việt Nam có thể chậm cải cách để gia nhập sân chơi của quốc tế, là điều chúng ta đã nhiều lần tìm hiểu. Lần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trao đổi về mặt trái hay rủi ro của việc toàn cầu hoá đó. Lý do là môi trường quốc tế đang có biến động lớn mà nổi bật nhất là phản ứng chống tự do mậu dịch tại Hoa Kỳ trong cuộc tranh cử sôi nổi năm nay. Câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam nên tự chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra ở bên ngoài?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Theo tập quán của diễn đàn là trình bày nghịch lý, tôi xin được nói là Việt Nam chưa gặp hoặc thấy ra những rủi ro hay vấn đề trong năm tới sau khi các hiệp ước đó được ngần ấy quốc gia thông qua. Ngay trước mắt, tình hình chỉ là sự đình trệ và nghe ngóng cho tới khi Quốc hội khóa mới hoàn tất việc chỉ định nhân sự cầm đầu các cơ chế Nhà nước.

- Trong khi ấy, tốc độ tăng trưởng tại Đông Á có thể giảm sút vì thị trường xuất khẩu thu hẹp, chủ yếu do chu kỳ sa sút tại Trung Quốc và chưa phục hồi tại Nhật Bản. Đó là bức tranh toàn cảnh. Song song, các chấn động kinh tế từ năm 2008 cũng dội ngược vào Hoa Kỳ và gây bất mãn trong quần chúng vào một năm có tổng tuyển cử khiến tinh thần tự do mậu dịch truyền thống của nước Mỹ đang bị đẩy lui. Điển hình là phản ứng chống đối hay nghi ngờ Hiệp ước TPP và cả trào lưu toàn cầu hóa trong số ứng cử viên ra tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ.

- Trong khung cảnh đó, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn được duy trì ở mức 6% và chưa giảm sút mạnh. Khi hy vọng cùng bơi trên một dòng nước, dù kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm nhẹ và nhập khẩu ít hơn, Việt Nam vẫn chưa bị ảnh hưởng nặng như các xứ Đông Á khác. Một phần không nhỏ cũng do sự hiện hữu và tác động của cộng đồng người Việt sống tại Mỹ!

Nguyên Lam: Trên diễn đàn này, ông hay cảnh báo về những thách đố Việt Nam có thể gặp, lần này, ông lại có vẻ lạc quan! Ông có thể giải thích vì sao không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trên diễn đàn này, quả thật là ta đã liên tiếp cảnh báo về nỗi khó khăn Việt Nam sẽ gặp, từ tình trạng thiếu thông tin khiến dân chúng và doanh nghiệp chưa biết rõ về luật chơi mới, cho đến các vấn đề về lao động và nông nghiệp, những đòi hỏi về cải cách doanh nghiệp và ngân hàng, v.v.... Tuy nhiên, nghịch lý nếu có ở đây chỉ là vấn đề thời điểm. Ngay trước mắt, sự lạc quan vẫn là quy luật phổ biến và có nói thì cũng chẳng ai nghe. Sự lạc quan ấy sẽ thổi lên cả chục trái bóng đầu cơ để vơ vét mẻ cuối, sau đấy mới là thực tế não nề.

Nguyên Lam: Thực tế não nề ấy là gì, làm sao người ta có thể thấy trước được?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước công nghiệp hóa Âu-Mỹ tiên tiến đi sớm nhất vào toàn cầu hóa lại hoài nghi tự do mậu dịch. Tại Âu Châu thì chủ yếu vì an ninh. Tại Hoa Kỳ thì do nạn mị dân từ cả hai phía tả hữu cực đoan nhất trong cuộc tranh cử. Như đã trình bày từ năm ngoái, người ta kết án Việt Nam là làm dân Mỹ mất việc! Chuyện ấy sai về kinh tế nhưng hấp dẫn về chính trị. Cho nên Việt Nam sẽ còn lạc quan và chỉ thấy thành quả của thiểu số sôi nổi ở mặt ngoài mà chưa nhìn ra một làn sóng đáy đang thách đố chính phạm trù toàn cầu hóa.

Nguyên Lam: Ông đã từng đề cập tới mặt trái của hiện tượng ấy khi phân tách phản ứng bảo hộ mậu dịch và bảo vệ nông sản tại các nước giàu khiến các xứ đang phát triển như Việt Nam có thể bị thiệt hại mà cứ tưởng là từ nay nhờ toàn cầu hoá mà mức sống người dân nghèo sẽ được cải thiện. Vấn đề có nằm ở đó chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và đây là vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm. Vấn đề là thời điểm và giác độ khảo cập, cái phương hướng tìm hiểu nội vụ.

Nguyên Lam: Xin ông trước tiên trình bày bối cảnh của vấn đề, sau đó phân tách các yếu tố quyết định rồi ảnh hưởng của chúng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hiện tượng toàn cầu hóa hay kinh tế nhất thể hoá trên thế giới thực ra chỉ trở nên toàn diện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ngẫu nhiên trùng hợp với sự sụp đổ của Liên Xô và lý luận kinh tế chính trị học Mác-Lênin. Từ đấy, thương mại và đầu tư tài chính bành trướng mạnh và thực tế nâng mức sống người dân các nước nghèo, kể cả các nước Đông Âu hay Trung Âu. Biến chuyển ấy cũng trùng hợp với quyết định đổi mới của Việt Nam sau năm năm do dự chỉ đổi mới ở khẩu hiệu và biểu ngữ. Kể từ 1991, người ta mới ca tụng tự do mậu dịch và kinh tế thị trường rồi càng hồ hởi lạc quan vì hiệu ứng của cách mạng công nghệ tín học, của nền kinh tế tri thức, v.v... Thế rồi....

Nguyên Lam: Thế rồi, nghĩa là ông đang nói đến làn sóng đáy, thế rồi chuyện gì đã xảy ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế rồi vụ khủng hoảng và Tổng suy trầm năm 2008 làm người ta khám phá rằng thành quả của toàn cầu hóa lại không được phân phối đồng đều cho người dân ở hai thế giới xin tạm gọi là giàu và nghèo. Đây là một nghịch lý lạ có thể giải thích các vấn đề Việt Nam sẽ còn gặp sau này. Kết quả của toàn cầu hoá là các nước nghèo càng tham dự thì mức sống người dân tại đấy càng sung túc hơn, một cách tương đối theo tốc độ gia tăng lợi tức. Điển hình là tại Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và cả các nước Âu châu trong khối Xô viết cũ lẫn các xứ Hồi giáo Trung Đông. Mạnh nhất và nhanh nhất là tại Đông Á với lợi tức đồng niên một đầu người tăng bình quân là hơn 6% một năm trong nhiều năm. Hiệu ứng thịnh vượng ấy kéo theo sự lạc quan phổ biến trên các thị trường.

- Nhưng, mặt trái của vấn đề là người dân tại các nước giàu lại thấy là họ nghèo đi. Hoặc lợi tức hay lương bổng không tăng mạnh như mong đợi hoặc đã thấy tại các xứ khác. Nói cho dễ hiểu là dân Đức hay dân Pháp thì thấy việc làm và lợi tức của họ chảy qua Ba Lan hay Hungary; dân Mỹ thì cho là họ mất việc và mất lương vì hãng xưởng dời qua Mexico, đầu tư tại Hoa lục hay đặt làm gia công tại Ấn Độ, Việt Nam.... Nói cho gần gũi thì nhiều shop may của người Việt tại Mỹ đã phải đóng cửa và nhà đầu tư vượt Thái Bình Dương về lập cơ sở sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu ngược về Mỹ. Dân Việt tại Việt Nam có thêm việc làm mà dân Việt tại California phải tìm việc khác, nhiều người bèn tìm cơ hội mới tại Việt Nam và kiếm ra tiền còn nhanh hơn. Nhiều người Mỹ thì e rằng sau khi áp dụng Hiệp ước TPP, họ sẽ bị thất nghiệp!

Nguyên Lam: Ông đang trình bày một hiện tượng rất lạ mà xét ra cũng có vẻ hợp lý. Nhưng, thưa ông, đó là cảm quan ấn tượng của thị trường và xã hội hay là thực tế của kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quy luật của kinh doanh là tìm nơi sản xuất ra rẻ nhất với lợi nhuận cao nhất. Tại Hoa Kỳ, người ta có thể tìm đến tiểu bang có môi trường kinh doanh thông thoáng và nhẹ thuế, đó là hiện tượng “out-sourcing” mọi người cho là bình thường. Nhưng khi doanh nghiệp tìm đến các quốc gia khác, gọi là off-shore, thì lại bị cánh tả kết án. Lần này thì cả tả hữu vì cũng đều đả kích việc đó!

- Nguyên nhân của loại quyết định kinh doanh chính đáng ấy là tỷ trọng của lương bổng hay lợi tức công nhân viên bị giảm sút khi doanh nghiệp đầu tư ra ngoài, hoặc đặt làm gia công ở bên ngoài, ở các nước nghèo có khả năng thỏa mãn doanh nghiệp. Người dân ở các nước nghèo có thêm việc làm và nếu có trình độ tay nghề cao – là trường hợp chưa xảy ra cho Việt Nam - thì họ còn góp phần nâng cao năng suất và lợi tức của doanh nghiệp đầu tư, từ các nước giàu.

- Ngược lại, phần vụ lao động - là lực lượng công nhân viên tại các nước đã phát triển - lại chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tư bản. Lực lượng ấy không thấy lợi tức của họ gia tăng đáng kể. Ít ra tăng không nhanh bằng thành phần lao động của các nước nghèo. Đồng thời, cuộc cách mạng về công nghệ tin học còn khiến họ bị mất việc ngay trong lĩnh vực họ tưởng là có ưu thế cao là công nghệ thông tin. Họ tự thấy là nạn nhân của toàn cầu hoá. Vì sống trong các nước dân chủ - ta không thể trở thành công nghiệp tiên tiến nếu không có dân chủ - họ bèn vận động chính trường và sử dụng các chính khách mị dân. Cuộc tranh cử tại Mỹ đang cho thấy điều ấy.

Nguyên Lam: Thưa ông, đó chỉ là hiện tượng cục bộ tại Hoa Kỳ, hay một số quốc gia công nghiệp hay là trường hợp phổ biến trong các nước giàu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là xu hướng này có thể thấy tại mọi nơi, từ môt xứ ít vấn đề và có kinh tế và tương lai gắn bó với Á châu là Australia. Nó là trào lưu phổ biến tại Pháp, Đức, Nhật, Ý hay Tây Ban Nha và nay là Hoa Kỳ. Tại nhiều nơi, họ nói đến chủ nghĩa kinh tế dân tộc, là hạn chế tự do đầu tư và mậu dịch để bảo vệ quyền lợi quốc gia, hoặc chống di dân vì sợ khủng bố. Tại Hoa Kỳ, người ta than rằng là công nhân viên không được tưỏng thưởng đúng mức, lợi tức tăng quá chậm vì toàn cầu hoá. Người ta nói đến mậu dịch công bằng, fair trade, thay vì mậu dịch tự do, free trade. Đấy là chuyện lếu láo, nhưng chìm sâu bên dưới còn có làn sóng chống tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường nữa. Chính làn sóng đáy ấy mới tạo ra hình ảnh khá kỳ cục của nước Mỹ vào mùa bầu cử năm nay.

Nguyên Lam: Ông đang chấm vào một điểm bất ngờ mà nhức nhối của toàn cầu hoá. Theo như ông dự đoán thì tình hình sẽ ra sao và ảnh hưởng thế nào tới Việt Nam khi đang hồ hởi hội nhập vào một sân chơi mới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta khó biết chắc mọi chuyện về tương lai, nhưng căn cứ trên những biến động chưa dứt từ năm 2008, đây là điều có thể xảy ra với xác suất cao từ giữa năm trở đi, tức là sau khi Việt Nam hết reo vui vì viễn ảnh toàn cầu hóa.

- Thứ nhất, vì kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng chậm hơn do hiệu ứng suy sụp tại Trung Quốc, suy trầm tại Âu Châu và cả Hoa Kỳ, các nước sẽ cạnh tranh kịch liệt hơn để giành thị phần xuất khẩu. Kết quả là phản ứng bảo hộ mậu dịch sẽ chỉ tăng chứ không giảm giữa các nước.

- Thứ hai, toàn cầu hóa sẽ bị khựng và các nước sẽ thỏa hiệp song phương hoặc từng nhóm với nhau để trao đổi và chia sẻ lợi ích. Hiện tượng kinh tế nhất thể hoá có thể bị chặn và thay thế bằng kinh tế tự do trong từng khối với hậu quả bất lợi cho các nước nghèo. Thứ ba, tại các nước giàu, thị trường bị chính trường chi phối mạnh hơn, doanh nghiệp tiếp tục bị kiểm soát kỹ hơn để hãm đà đầu tư vào các nước nghèo và bảo vệ quyền lợi công nhân viên ở nhà. Vì vậy, họ thận trọng hơn khi đầu tư vào các nước nghèo như Việt Nam nếu môi trường nơi đó không thực sự thông thoáng và có lợi.

- Nói chung, sự thăng trầm của thị trường hay tâm lý của tác nhân kinh tế chỉ là chu kỳ, có lúc triều cương, có khi thoái trào. Việt Nam gia nhập cuộc chơi ấy khi toàn cầu hóa có thể bị khựng, từ năm tới trở đi.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.