Hôm nay,  

Putin Và Tập Cận Bình

30/05/201400:00:00(Xem: 4752)

Chuyến công du của Tổng Thống Nga Vladimir Putin sang Trung Quốc vào tháng 5-2014 có thể được ví với việc Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon sang Bắc Kinh vào năm 1972 – cả hai lần đều nhằm một mục đích tạo ra thế chân vạc mới trên bàn cờ quốc tế. Nhưng trái với cuối thế kỷ thứ 20 khi Mỹ muốn bắt tay với Trung Quốc để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô thì nay Nga lại tìm hậu thuẫn với Hoa Lục nhằm tranh giành với thế lực từ Tây Phương.

Năm 1972 Hoa Kỳ bị sa lầy tại Việt Nam; năm 2014 Nga bị cô lập vì xâm chiếm Crimea. Không rõ do sắp xếp thế nào mà các nhà lãnh đạo của hai cường quốc này vốn đang gặp khó khăn lại phải đến Trung Quốc để tìm thế liên minh – cho dù Hoa Lục không phải là nước mạnh nhất, nhưng vẫn tạo cho Bắc Kinh thế thượng phong trước khi các cuộc thương thuyết bắt đầu. Mục tiêu đầu tiên của Hoa Lục là theo phương châm của Gia Cát Khổng Minh dưới thời Tam Quốc Chí “Bắc cự Tào Tháo, Đông hoà Tôn Quyền” để lực lượng tránh không bị phân tán phải đối phó với đối phương từ hai phía khác nhau. Kế tiếp Bắc Kinh đòi hỏi nhiều hợp tác thuận lợi cho sự tăng trưởng của Trung Quốc: trước đây Mỹ mở cánh cửa đầu tư và trao đổi công nghệ, nay Nga tăng cường cung cấp năng lượng và kỹthuật quốc phòng.

Tuy không hài lòng với hoàn cảnh hiện thời do Hoa Kỳ nắm thế thượng phong nhưng cả hai nước Nga-Trung đều thận trọng để không phá vỡ trật tự thế giới. Bằng chứng là Moskva không dùng đến quân đội chính quy mà chỉ tung ra các toán lính đặc biệt che mặt và không mang quân hiệu khi khuấy động vùng Crimea, còn Bắc Kinh xử dụng rồng phun nước thay vì súng đạn đế bảo vệ dàn khoan dựng lên trái phép trong lãnh hải Việt Nam. Bởi một khi súng đạn nổ ra giữa hai quân đội sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng làm gián đoạn giao dịch thương mại và quan hệ chính trị toàn cầu mà cả Bắc Kinh lẫn Moskva vẫn chưa lường trước được. Hơn nữa những đối tượng bị nhắm đến tức Ukraine và Việt Nam đều lẻ loi với hệ thống chính trị và kinh tế lệ thuộc nặng nề vào hai nước láng giềng khổng lồ mà lại không có liên minh quân sự với NATO hay Hoa Kỳ che chở, cho nên là những mục tiêu tốt để doạ nạt, phá hoại và xâm chiếm mà chưa cần đến sức mạnh quân sự.

Cho đến nay cả Nga và Trung Quốc chỉ cho thấy ý đồ bành trướng khu vực để dành lại các quyền lợi “truyền thống” hay “lịch sử”, tức là khuất phục những quốc gia lân bang biến thành chư hầu. Tuy nhiên quá khứ cho thấy một khi cán cân lực lượng thay đổi thì tham vọng cũng tăng thêm và khi đó sẽ trở thành mối đe dọa trực tiếp cho toàn bộ khối các nước dân chủ.

Dù vậy Tây Phương vẫn chưa tìm ra biện pháp đáp trả hữu hiệu đối với các hình thức tiến công phi quy ước (unconventional). Từ lính bịt mặt xuất hiện ở vùng cận Nga cho đến tàu hải giám Trung Quốc phun vòi rồng ở biển Đông, các sự kiện tuy nghiêm trọng nhưng không đủ để vận động dư luận tại các nước dân chủ hậu thuẫn những biện pháp trả đũa cứng rắn. Riêng tại Hoa Kỳ dân chúng đã mỏi mệt với hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan; Mỹ lại can dự quá vào nhiều các tranh chấp không có đoạn kết như Bắc Hàn, Iran, và phong trào Hồi Giáo cực đoan. Lo ngại lớn nhất của Hoa Kỳ là bị lôi kéo vào một cuộc chiến dai dẳng khác trong lúc dư luận quốc nội chưa thống nhất còn các nước đồng minh lại thiếu quyết tâm nên dễ bị chia rẽ vì quyền lợi.

Trở lại chuyến công du của Putin sang Bắc Kinh: theo bài học của thập niên 70 thì sau khi Trung Quốc hoà hoãn với Hoa Kỳ họ đã tấn công “dạy cho Việt Nam một bài học”. Liên Xô không dám trả đũa bảo vệ cho nước đàn em nên bị Đặng Tiểu Bình chế nhạo là “có gan sờ đuôi cọp mới biết cọp giấy”. Từ đó Hoa Lục tập trung vào canh tân đất nước, không còn xem Liên Xô như hiểm hoạ từ phương Bắc.

Câu hỏi đặt ra rằng Trung Quốc có tấn công Việt Nam hay không sau khi đã bắt tay với Putin? Có lẽ chưa đến lúc bởi vì Bắc Kinh còn nhiều phương thức khác để phá hoại nền kinh tế và khích động căm phẫn của dân chúng đối với nhà cầm quyền nhằm lung lạc tinh thần đoàn kết và ý chí đề kháng. Nhưng một khi Việt Nam chứng tỏ quyết tâm, chẳng hạn tìm kiếm liên minh quân sự với Hoa Kỳ thì sẽ là cơ hội để Hoa Lục tấn công để “nắn gân” Mỹ có đủ ý chí để can thiệp vào vùng sân nhà của Trung Quốc hay không? Phản ứng của Hoa Kỳ trái lại tuỳ thuộc vào thái độ của Việt Nam khi đó có dứt khoát thực hiện dân chủ và đoàn kết để bảo vệ bờ cõi thì họ mới có thể vận động dư luận quần chúng nhằm can thiệp tận tình, còn trái lại nếu vẫn tiếp tục mập mờ đu dây thì họ sẽ khai thác mối bất hoà đủ để làm hao mòn tiềm lực của hai nước Việt-Trung mà không cần tham dự quá sâu.

Một trường hợp khác mà Hoa Kỳ và Phi đang dự phòng là sau vụ dàn khoan HQ 891 Bắc Kinh sẽ thách thức thế nào với Philippines vốn là nước có hiệp ước phòng thủ với Mỹ? Trung Quốc biết cam kết của Mỹ đối với Phi nhẹ hơn rất nhiều so với Nhật nên đây là mắt xích yếu kế tiếp để bẻ gãy. Dù khả năng Hoa Kỳ can thiệp về quân sự sẽ rất ít trừ phi sự cố bộc phát ngoài dự đoán, nhưng Mỹ và Nhật sẽ gấp rút yểm trợ cho Philippines chuẩn bị cho các cuộc đụng độ lớn hơn về sau này.

Câu hỏi đặt ra là khi đó Bắc Kinh sẽ áp lực Hà Nội im tiếng để đổi lấy một số nhượng bộ nhỏ nhằm phá vỡ thế liên minh Việt-Phi. Dân Phi đã biểu tình ủng hộ khi Việt Nam bị Trung Quốc xâm lăng, liệu người Việt Nam có sẽ đáp đền ân tình khi nước bạn bị đe doạ hay không?

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.