Hôm nay,  

Chảy Máu Bao Tử

16/04/201100:00:00(Xem: 10689)

Chảy Máu Bao Tử

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

Bệnh nhân là một đàn ông 75 tuổi, có tiểu sử phong thấp thoái hoá khớp xương đã từng uống Ecotrin và Naprosyn. Bệnh nhân nói bị đi cầu phân đen hơn 10 lần hôm qua, trước khi nhập viện. Bệnh nhân được đưa tơí phòng cấp cứu và nơi đây cho biết bệnh nhân có vẻ xanh xao như mất máu.

Trước đây, bệnh nhân chưa bao giờ có tiểu sử chảy máu đường tiêu hoá. Bệnh nhân chưa bao giớ bị ói ra máu hay bị đau bụng. Chưa bao giờ có tiểu sử bị công phạt vì bất cứ thuốc gì đã từng uống trước đây. Bệnh nhân có tiểu sử cao huyết áp, cao mỡ, loãng xương, và sưng nhiếp hộ tuyến. Chưa bao giờ giải phẫu trước đây. Ngoài thuốc Naprosyn và Ecotrin, bệnh nhân còn uống những thuốc trị cao huyết áp, trị sưng nhiếp hộ tuyến, và loãng xương. Không hút thuốc lá, không uống rượu. Không có tiểu sử gia đình đáng lưu ý. Tiểu sử bệnh lý không có triệu chứng nhức đầu hay mắt nhìn một thành hai. Không có tiểu sử bệnh tim phổi như khó thở hay đau ngực. Không có tiểu sử tai biến mạch máu não.

Khám bệnh thấy bệnh nhân không ở trong tình trạng cấp cứu. Nhịp tim: 102/phút. Nhiệt độ 97F. Huyết áp 127/89. Nhịp hô hấp 20/phút. Không thấy đau đớn chỗ nào. Khám mắt thấy vàng tròng mắt. Mồm và cổ họng không thấy gì. Phổi nghe và khám không thấy gì. Tim đập đều và đúng nhịp. Khám bụng mềm, không thấy đau, không báng nước, cơ quan trong bụng như gan hay lá lách không lớn. Khám hậu môn thấy có máu đen. Khám chân tay không bị chứng hình thùy, không bị chứng xanh tím, không phù thũng. Không bị thần kinh tê liệt. Kết quả thử nghiệm thấy BUN 62, creatinine 0.9, glucose 120, bạch huyết cầu (white count) 13,000, hemoglobin 9, hematocrit 27.6, AST 15, ALT 14, alkaline phosphatase 49, PT 13.4, và PTT 27.6.

Assessment: Chảy máu phần trên của bộ phận tiêu hoá (Upper gastrointestinal bleed), có lẽ do lở loét bao tử sau khi uống thuốc loại Nonsteroid. Bệnh nhân được chuyền Protonix qua gân máu. Bác sĩ chuyên khoa nội soi bao tử, nội soi tá tràng thấy bệnh nhân bị viêm tá tràng và chảy máu nhiều từ đường dẫn trong tá tràng. Bác sĩ chuyên khoa chích 4cc epinephrine vào đáy vết lở, rồi đốt bằng BICAP probe. Máu ngưng chảy sau khi điều trị. Bệnh nhân được chuyền 2 đơn vị máu (2 units of pack cell transfusion).

Ba (3) ngày sau, bác sĩ chuyên khoa nội soi bao tử lại và thấy không còn chảy máu từ tá tràng. Chỗ duonenal bulb có vết lở nhỏ, đáy mầu trắng, không chảy máu. Soi khám phần thứ 2 của tá tràng thấy bình thường. Bệnh nhân đươc xuất viện. Khuyên bệnh nhân nên tránh không tiếp tục dùng những thuốc như Ecotrin, hay thuốc Nonsteroid nào khác. Bệnh nhân uống Omeprazole 40mg ngày một viên, Carafate 1 gam, ngày 2 lần. Tạm ngưng thuốc trị cao huyết áp nhưng nếu khi về nhà đo áp xuất máu thấy cao thì uống thuốc hạ huyết áp trở lại.

Mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng 250 ngàn người bị chảy máu phần trên bộ phận tiêu hoá (upper gastrointestinal bleeding). Khoảng 4-10% bị tử vong. Khoảng phân nửa bệnh nhân là những người già trên 60 tuổi. Tuổi càng cao thì tỉ số tử vong càng cao. Phần lớn tử vong là do chảy mất máu chứ không phải do biến chứng. Phần lớn do ói ra máu hay chảy máu phân đen. Chảy máu ruột bao tử là một loại bệnh cần điều trị khẩn cấp và bắt buộc phải nội soi.

Những nguyên nhân gây chảy máu bao tử:. Lở loét bao tử. Tổng số gây tử vong 4%. Ở Hoa Kỳ, tỉ số tử vong thấp hơn vì một phần ngày nay có thể nạn nhiễm H. Pylori giảm thấp, bệnh nhân được dùng thuốc ANSAIDs an toàn hơn, và bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc PPIs thường xuyên hơn để phòng ngừa nguy cơ chảy máu bao tử cao. Tăng cao huyết áp cửa (portal hypertension) gây chảy máy phần trên ruột bao tử, 10-20%. Tĩnh mạch ống thực quản giãn gây chảy máu nhiều hơn. Chảy máu do tĩnh mạch giãn ở bao tử hay tá tràng, hay do tăng huyết áp cửa ở bệnh bao tử. Khoảng 25% bệnh nhân bị xơ gan gây giãn tĩnh mạch ống thực quản. Tử vong do điều trị y tế khá hơn ở Mỹ, giảm tử vong từ 40% xuống 15% trong vòng 20 năm qua. Tuy nhiên, chảy máu phần trên ống thực quản tái phát hay do những biến chứng bệnh gan gây tử vong từ 60-80% trong vòng 1 tới 4 năm sau. Bệnh rách vùng giữa bao tử và ống thực quản (Mallory-Weiss tears) gây chảy máu phần trên bộ phận tiêu hoá (5-10%). Những bệnh do dị tật mạch máu bộ phận tiêu hoá cũng có thể gây chảy máy ruột và bao tử kinh niên hay cấp tính. Bệnh bướu bao tử gây chảy máu phần trên ống thực quản (1%). Viêm bao tử ăn mòn (erosive gastritis) đôi cũng khi gây chảy máu trầm trọng (chiếm gần 5%) do thuốc ANSAIDs, rượu, hay những bệnh nội thương hoặc giải phẫu (liên hệ màng nhày). Chảy máu phần trên ống thực quản có thể do lở loét viêm ống thực quản do đồ ăn dội ngược bao tử thực quản kinh niên (chronic gastroesophageal reflux). (Current Medical Diagnosis & Treatment, 2010). Bệnh nhân cần được các bác sĩ chuyên khoa bao tử và đường ruột chữa trị.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
Tạp chí Consumer Reports vừa công bố phát hiện rằng nhựa vẫn hiện diện “rộng rãi” trong thực phẩm bất chấp các nguy hại về sức khỏe, và kêu gọi các cơ quan chức trách đánh giá lại mức độ an toàn của nhựa khi tiếp xúc với thực phẩm trong quá trình sản xuất. Tổ chức vô vụ lợi này cho biết rằng 84 trong số 85 mẫu thực phẩm ở siêu thị và thức ăn nhanh mà họ vừa kiểm tra gần đây có chứa “chất hóa dẻo” (plasticizers) được gọi là phthalates, một loại hóa chất được sử dụng để làm cho nhựa bền hơn.
Cách đâu 30-40 năm, lúc người tỵ nạn Việt mới định cư ở Mỹ và bắt đầu làm quen với các tập tục kể những tập quán về y tế ở Mỹ, trong y giới Mỹ cũng như các nước tây phương khác đang tranh cãi rất nhiều về chỉ định có nên cắt bao quy đầu theo thông lệ (routine circumcision) cho trẻ em sơ sinh hay không. Thuật ngữ “circumcision”, gốc latinh “circumcisio”. Từ "cắt bao quy đầu" xuất phát từ các từ Latin circum và caedo (circum: “xung quanh”; caedo: “tôi cắt”), có nghĩa đen là "cắt xung quanh". Từ epitome trong tiếng Hy Lạp cũng có nguồn gốc từ gốc có nghĩa là "cắt" hoặc "vết mổ". Trong tiếng Hebrew (Do Thái), phép cắt bao quy đầu được gọi là “peritomy”, xuất phát từ tiếng Hy Lạp peritomy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.