Hôm nay,  

Cầu Dầu Trơn Trượt

26/07/200800:00:00(Xem: 9901)
Già néo đứt dây nên dầu tuột giá!

Trong ba năm, dầu thô đã tăng giá gấp ba trên thế giới và dự đoán giá dầu trên thế giới là việc đầy rủi ro mà ít ai dám bàn nữa. Nhưng, sau khi chờn vờn trên đỉnh cao kỷ lục gần 148 đồng một thùng, giá dầu có khi đã chóng mặt nhìn xuống vực thẳm ở dưới. Và có thể giảm.

Thông thường, khi giá một sản phẩm nào tăng thì số cầu của sản phẩm đó tất giảm. Chuyện ấy, có lẽ ai cũng có thể biết và hiểu được. Nhưng, có hai loại sản phẩm trên đời mà giá tăng số cầu chưa chắc đã giảm. Lương thực là một, năng lượng là hai.

Gạo có lên giá, ta vẫn cần ăn và có khi ăn ít thịt hơn và... độn gạo nhiều hơn. Năng lượng như dầu thô, khí đốt và xăng cũng thế, giá có tăng người ta vẫn cần, vì sản xuất kinh tế lệ thuộc rất nhiều vào loại nhiên liệu đó.

Tuy nhiên, khác với lương thực là loại sản phẩm sinh tử - không ăn là chết - năng lượng là loại sản phẩm chiến lược - vì giá tăng quá mạnh làm phí tổn gia tăng và sản xuất sa sút. Khi sản xuất sa sút, nhà máy đình đọng, nhân công bị sa thải, số cầu về xăng dầu có thể giảm. Nếu số cầu mà sút giảm thì giá cả có thể giảm mạnh hơn, chứ không theo cùng một tỷ lệ (thuật ngữ kinh tế gọi là độ đàn hồi co giãn rất cao của giá cả so với số lượng cung ứng trên thị trường). Một thí dụ mà các nước bán dầu và các nền kinh tế Đông Á đều còn nhớ: sau vụ khủng hoảng Đông Á vào các năm 1997-1998, nạn suy trầm kinh tế khiến số cầu về dầu khí giảm mất 10% trên thế giới.

Số cầu ấy kéo giá dầu sụt mất 75%, có lúc tuột dưới 10 đô la một thùng, vào năm 1999.

Chúng ta có thể gọi đó là quy luật "già néo đứt dây!"

Chuyện ấy có đang xảy ra không sau khi dầu thô vượt 147 đồng một thùng ngày 11 vừa qua và khi toàn cầu đang nói đến nguy cơ suy trầm hay suy thoái kinh tế" Câu hỏi ấy đáng được nêu ra vì từ Thứ Sáu 11 tháng Bảy đó đến Thứ Sáu 25 tháng Bảy, giá dầu đã giảm 24 đồng trong hai tuần, một mức sút giảm đáng kể, gần 19%. 

Muốn giá giảm, người ta phải hoặc tăng số cung hoặc hạ số cầu.

Số cung hiện đã lên tới mức gần như tối đa nếu so với số cầu nên chuyện cung cầu ấy là nguyên nhân chính của nạn dầu thô lên giá. Các yếu tố khác như an ninh hay thiên tai có thể đánh sụt số cung - vì khủng bố, chiến cuộc, nguy cơ xung đột, bão lụt trong khu vực khai thác dầu khí như trận bão Dolly vừa qua - làm xăng dầu bốc giá lên trời theo từng tin xấu. Chuyện "đầu cơ xăng dầu" không là yếu tố thổi giá mà vẫn được các chính khách thổi lên để chứng tỏ là họ quan tâm đến túi tiền của dân chúng, ta sẽ không đề cập tới ở đây.

Trong các quốc gia sản xuất và xuất cảng dầu khí, duy nhất một quốc gia vẫn còn khả năng bơm thêm dầu cho thị trường quốc tế, đó là Saudi Arabia.

Nhưng Hoàng gia Saudi chẳng chơi dại mà bơm thêm dầu quá nhiều, vì không quên kinh nghiệm hai chục và 10 năm trước là khi dầu thô tuột giá tới mức tám đồng một thùng làm xứ này bị mắc nợ. Từ mấy năm qua, nhờ dầu thô lên giá, mỗi ngày xứ này thu vào một tỷ đô la để đầu tư và tung hoành, như phóng tài hoá thu nhân tâm và trở thành một thế lực đáng kể cho thế giới Hồi giáo.

Tuy nhiên, dù là thế lực đáng kể, Saudi Arabia cũng biết sợ khi thấy giá dầu lên tới trăm rưởi. Với giá đó thì các đại gia cũng chết - kể cả Hoa Kỳ. Nghĩa là kinh tế bị suy trầm, lạm phát gia tăng và cả xã hội sẽ nghĩ lại về cách tiêu thụ ít hơn hoặc sản xuất ra loại năng lượng thay thế.

Chuyện ấy đang xảy ra tại Hoa Kỳ khi cả nước nói tới khủng hoảng, nào gia cư nào tín dụng, nào ngân hàng, và tranh luận về nhu cầu đào dầu quốc nội, hoặc đầu tư vào các nguồn năng lượng khác. Ngoan cố và mê sảng về chuyện năng lượng như đảng Dân Chủ giờ đây cũng hiểu rằng hai phần ba dân Mỹ nay đã ủng hộ việc đào thêm dầu trong lãnh thổ và lãnh hải của Mỹ! Bài này không nói về chuyện vặt đó, nhưng khi Tổng thống  Bush chính thức nói tới yêu cầu đào dầu, dấu hiệu thay đổi tại Mỹ được Hoàng gia Saudi hiểu ngay.

Hôm sau, giá dầu bắt đầu hạ vì có người sợ bị đứt dây khi kinh tế Mỹ đứt hơi vì dầu.

Là một xứ hiếm hoi trong Hiệp hội các nước bán dầu (OPEC), Saudi Arabia còn khả năng gia tăng số cung, dù không nhiều (một triệu thùng mỗi ngày) thì cũng là chỉ dấu quan trọng cho thị trường. Thứ hai, Saudi Arabia còn có khả năng chính trị: với cả ngàn tỷ Mỹ kim trong tay, Hoàng gia Saudi có thể gây ảnh hưởng trong khối Á Rập, trong thế giới Hồi giáo, và tại khu vực Trung Đông. Gây ảnh hưởng qua nỗ lực hoà giải để giảm bớt nguy cơ giao tranh trong vùng, tức là đẩy lui yếu tố rủi ro về an ninh có thể làm dầu thô lên giá. Rủi ro an ninh như mâu thuẫn giữa Israel với Palestine hay Syria, hoặc giao tranh trong eo biển Hormuz làm nghẽn đường tiếp vận dầu khí, v.v... Chuyện ấy dường như đang xảy ra. Và thứ ba, đã nói đến việc tung tiền, vì sao không tung tiền vào các thị trường tài chánh và ngân hàng đang bị rúng động tại Hoa Kỳ và Âu Châu" Chuyện ấy, có khi nay mai ta sẽ thấy!

Đấy là nói về phía cung.

Về phía cầu, khi xăng dầu lên giá quá bốn đồng một ga lông thì lạc quan như dân Mỹ cũng chột dạ mà đạp thắng. Dù chưa nhiều, số tiêu thụ có giảm chừng 5% cũng là dấu hiệu tâm lý quan trọng  - chưa từng thấy từ mấy chục năm nay. Giá xăng trung bình tại Mỹ đã giảm từ 4,09 đồng xuống 4,00 đồng một ga lông cũng chẳng là ngẫu nhiên vì s1ô cầu giảm nên lượng dầu tồn kho đã tăng làm giá xăng có nới. Kế tiếp, tin xấu dồn dập trên các thị trường Hoa Kỳ, Âu Châu và cả Nhật Bản (sau 15 năm bị nạn giảm phát và ba năm giá cả ổn định, lần đầu tiên xứ này nói tới nguy cơ lạm phát vì thương phẩm tăng giá) cũng báo hiệu một sự sút giảm đáng kể của sản xuất và số cầu về dầu khí trong tương lai. Nghĩa là con gà đẻ trứng vàng cho Hoàng gia Saudi nay đã mệt mỏi, e rằng mai này có thể toi. 

Cho nên cả hai yếu tố cung cầu đều lên tới đỉnh và có khi đổ: số cầu sẽ giảm, số cung sẽ tăng. Mà chỉ cần tình trạng cung cầu căng thẳng được nới một đôi chút là giá sẽ hạ. Khi hạ thì hạ rất nhanh và rất mạnh. Là điều người ta có thể thấy tử tháng Tám trở đi, và sẽ thành rõ rệt hơn trong quý ba, trước ngày dân Mỹ đi bầu.

Một xứ bán năng lượng có thể nghĩ khác, là Liên bang Nga. Nhưng, dùng dầu khí làm võ khí để gây sức ép với Âu Châu hoặc xúi giục Iran gây rối thì  trước tiên sẽ khiến một lân bang chí thiết vỡ mặt. Đó là Trung Quốc, một xứ đói ăn và khát dầu nay đang bấm bụng lên sân khấu Thế vận biểu diễn cho xong màn trình diễn đắt tiền của mình.

Vì vậy, nếu giá dầu có giảm mạnh, ta không nên ngạc nhiên.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.