Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Al-qaeda Nào? Ở Đâu?

14/07/200700:00:00(Xem: 8244)

Tình báo Mỹ lại báo động là al-Qaeda có thể lại tấn công nữa! Al-Qaeda nào"

Tuần qua, chính trường Hoa Kỳ lại om xòm với một vụ tranh luận kép: ngoài tình hình Iraq là việc al-Qaeda có thể sẽ lại tấn công nữa. Và vụ này đổ dầu vào mồi lửa của vụ kia!

Đầu đuôi là do một lượng định của tình báo Hoa Kỳ bị tiết lộ hôm Thứ Năm 12... trước khi hoàn tất.

Bản Lượng định Tình báo Quốc gia (National Intelligence Estimate) mới chỉ trong giai đoạn sơ thảo và cần sự đồng ý của trước sau 16 cơ quan tình báo Hoa Kỳ. Nhưng dù mới chỉ là sơ thảo, văn kiện lại được ai đó ở trong cuộc tiết lộ cho báo chí, vào đúng thời điểm khi Quốc hội tới tấp tấn công chính quyền Bush về chuyện Iraq.

Vụ tiết lộ chỉ là đòn du kích chính trị đã thành truyền thống của nước Mỹ khiến thế giới coi thường cả truyền thông lẫn giới lãnh đạo và các viên chức công quyền Mỹ. Nước Mỹ là nơi mà đấu tranh chính trị đã vượt khỏi mọi cân nhắc về quyền lợi quốc gia hay đạo đức chức nghiệp. Chuyện ấy đã thành nhàm.

Đáng nói ở đây là nội dung những điều bị tiết lộ: mối đe dọa của al-Qaeda.
Sở dĩ đáng nói vì hôm Thứ Tư 11, lượng định của Trung tâm Quốc gia Chống khủng bố (National Counterterrorism Center) soạn thảo trước đấy cũng lộ ra ngoài, dưới tựa đề giật gân: "Al-Qaeda trong tư thế khá hơn để tấn công Tây phương". Đại để là al-Qaeda đã có khả năng hành động mạnh hơn năm ngoái và đang củng cố với tiềm lực chưa hề thấy kể từ năm 2001.

Trong khi trung tâm chống khủng bố đánh giá al-Qaeda là mạnh hơn năm 2001 thì bản sơ thảo của Tình báo Quốc gia cho biết al-Qaeda đang tăng cường nỗ lực đưa đặc công khủng bố vào Hoa Kỳ và đã thụ đắc hầu hết mọi phương tiện cần thiết để tấn công nước Mỹ - thí dụ như võ khí sinh hoá, nguyên tử, hay cả bom "bẩn".
Tại cuộc họp báo ngày Thứ Năm, Tổng thống Bush gián tiếp xác nhận rằng lực lượng al-Qaeda - đã tấn công Hoa Kỳ năm xưa - nay có mặt tại Iraq và người ta không nên coi thường khả năng tấn công của al-Qaeda trên toàn thế giới.
Vấn đề đặt ra ở đây là al-Qaeda nào, ở đâu"

Trước hết, ta cần nhớ tới nhóm khủng bố chuyên nghiệp đã mở ra vụ tấn công 9-11 vào lãnh thổ Hoa Kỳ năm 2001, sau một loạt nhiều đòn khủng bố nhắm vào quyền lợi hay cơ sở Mỹ từ 1993 đến năm 2000, dưới thời lãnh đạo của Tổng thống Bill Clinton. Lãnh tụ nhóm này là Osama bin Laden, người Saudi Arabia, và nhân vật số hai là Ayman al-Zawahiri, người Egypt. Al-Zawahiri hiện còn sống, có thể là trong vùng biên giới giữa Pakistan và Afghanistan, và mới tung ra hai loạt tài liệu tuyên truyền nhằm huy động dư luận Hồi giáo.

Kể từ khi Hoa Kỳ ra quân lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan (tháng 10 năm 2001), nhóm khủng bố siêu hạng này không tung ra một đòn tấn công nào khác, ngoài các tài liệu tuyên truyền được thế giới thi nhau loan tải. Riêng Osama bin Laden thì đã im hơi lặng tiếng sau băng hình quảng bá ngày một tháng Bảy năm ngoái. Người lên tiếng nhiều nhất là al-Zawahiri, hai lần liền trong tuần qua (mùng bốn và 11 tháng Bảy).

Lực lượng al-Qaeda nguyên thủy và siêu hạng này coi như đang chìm vào trong dân và hết còn thi thố tài năng với mức chuyên nghiệp và công phá dữ dội như trong vụ 9-11.

Khi bộ phận cốt lõi của al-Qaeda bị tê liệt như vậy, người ta thấy xuất hiện một loại al-Qaeda thứ nhì, tạm gọi là "al-Qaeda gia công". Đây là các nhóm khủng bố xưng danh là có liên hệ với al-Qaeda nguyên thủy. Nhân vật tiêu biểu cho thế hệ hay tầng lớp al-Qaeda hạng nhì này là Abu Musab al-Zarqawi, người tự xưng là lãnh tụ của al-Qaeda tại Iraq, và bị các đơn vị Mỹ hạ sát ngày bảy tháng Sáu năm ngoái - có thể là do sự điềm chỉ của các lãnh tụ Sunni.

Gọi là "khủng bố gia công" vì thành phần này chịu ảnh hưởng tinh thần và có thể là được yểm trợ - rất ít - từ nhóm al-Qaeda siêu hạng, nhưng không nằm trong tổ chức hay dưới sự điều động của bin Laden hay al-Zawahiri. Chẳng những vậy, al-Qaeda không hề công khai xác nhận mối liên hệ với al-Zarqawi cho tới khi tay trùm khủng bố này bị giết thì mới được al-Zawahiri rồi bin Laden ca tụng.

Nếu có dịp theo dõi, người ta còn thấy là al-Zawahiri nhiều lần kêu gọi các nhóm khủng bố "gia công" này viện trợ phương tiện cho mình và còn phê phán sai lầm của khủng bố Thánh chiến tại Iraq khi tấn công vào cộng đồng Sunni, tức là gián tiếp phê bình al-Zarqawi.

So sánh thì "al-Qaeda nguyên thủy" có tầm nhìn rất xa và khả năng tấn công nhiều đòn liên tiếp để đạt mục tiêu chiến lược, trong khi "al-Qaeda gia công" chỉ đạt kết quả chiến thuật, đôi khi ác liệt nhưng không đáng sợ bằng thế hệ đi trước. Một thí dụ là vụ tấn công Madrid vào tháng Ba năm 2003, đây là một đòn tấn công chiến lược của al-Qaeda nguyên thủy, với kết quả là làm Chính quyền thân Mỹ tại Spain bị thất cử. Ngược lại, al-Qaeda gia công đã ra tay nhiều lần nhưng không đạt kết quả tương tự.

Các nhóm "al-Qaeda gia công" này tự xưng danh al-Qaeda mà không nhất thiết là nằm trong tổ chức cốt lõi, hoặc đã được al-Qaeda nguyên thủy yểm trợ, hay huấn luyện. Họ chiếm thương hiệu al-Qaeda để thu phục ảnh hưởng hay uy tín trong khối Hồi giáo quá khích chứ không có khả năng liên lạc rộng lớn trên toàn cầu để giáng những đòn chí tử vào lãnh thổ Hoa Kỳ.

Ở cấp thứ ba, ở vòng ngoài nên rộng mà loãng hơn, là sự xuất hiện của nhiều lực lượng al-Qaeda nội hoá, địa phương, hay tự phát. Những người Hồi giáo gốc Nam Á (Pakistan hay Ấn Độ) đã tấn công Luân Đôn vào năm kia hoặc vừa bị sa lưới vào đầu tháng này tại Anh có thể là tiêu biểu cho lực lượng al-Qaeda tự phát. Họ không có khả năng chuyên nghiệp cao và dù có thể tấn công vào thành phố hay phi trường, họ không là lực lượng so sánh nổi với các nhóm Thánh chiến tại Iraq ("al-Qaeda gia công") và càng không sánh nổi với al-Qaeda nguyên thủy. Scotland Yard đã điều tra mãi mới tìm ra là một trong các nghi can mới bị bắt tại London có thể đã có tiếp xúc rất xa xôi mơ hồ với al-Qaeda ("nguyên thủy".)

Thành phần ô hợp, lãng mạn và tài tử này có khi đang phát triển cơ sở tại Anh, đang tìm cách xâm nhập vào Mỹ qua ngả Âu châu, hoặc từng ra tay tại Egypt, Morocco, Pakistan, Indonesia hay Philippines, nhưng vẫn chỉ là cái bóng của al-Qaeda mà thôi.



Tuy nhiên, sợ bóng sợ gió là phản ứng bình thường của dân Mỹ. Rất dễ sợ mà lại chóng quên vì ham vui ham sống nên dù chỉ bị bóng đè của al-Qaeda, dân Mỹ cũng hốt hoảng. Và cứ hốt hoảng là đổ lỗi cho chính quyền. Đây là một dân tộc trẻ thơ với những phương tiện dồi dào chỉ có trong giấc mơ của các xứ khác.

Cho nên, cứ nghe nói đến khủng bố là dân Mỹ liền nghĩ tới al-Qaeda. Tuần qua, họ được giới hữu trách xác nhận rằng al-Qaeda nay đã mạnh bằng thời 2001 và còn chuẩn bị xâm nhập để tấn công nước Mỹ. Truyền thông thấy tin tức sốt dẻo là cứ ào ào loan theo.

Vấn đề là giới tình báo phải nhìn sâu và thấy xa hơn quần chúng.

Cớ sao các cơ quan hữu trách (các chuyên gia soạn thảo bản lượng định vừa bị tiết lộ, hay nhân viên trung tâm chống khủng bố) lại không phân biệt được cấp độ hay tổ chức của ba thế hệ al-Qaeda" Cớ sao chính Tổng thống Bush lại xác nhận al-Qaeda đang tung hoành tại Iraq, nghĩa là đồng hóa al-Qaeda nguyên thủy với al-Qaeda gia công"

Chúng ta có thể tìm ra nhiều giải đáp giả định cho câu hỏi này.

Đang bị tấn công từ nhiều phía về vụ Iraq, Chính quyền Bush phải nhắc nhở dư luận về mối nguy khủng bố, về sự liên hệ giữa al-Qaeda 9-11 với al-Qaeda đang hoạt động tại Iraq. Nếu giả thuyết ấy đúng thì đây là một đòn chính trị ngụy trang tình báo, khiến ông Bush đứng ngang hàng với đảng Dân chủ về khả năng vô trách nhiệm cao độ!

Như mọi tổ chức hành chánh Mỹ, thường xuyên bị truyền thông tấn công hay hài tội, có thể là các cơ quan tình báo Mỹ phải thủ thân bằng cách báo động, hầu bớt bị trách nhiệm nếu như họ để xảy ra một vụ khủng bố. Khi chính Tổng trưởng bộ Nội an là Michael Chertoff tới tấp xác nhận rủi ro ấy với báo chí trong ngày Thứ Năm 12, chúng ta nên chột dạ! Lý do là nếu cơ quan an ninh phải dùng đòn hành chánh che lưng và làm dân chúng bị lờn - hốt hoảng bậy mãi rồi sẽ hết tin lời báo động - thì nước Mỹ quả thật là đã suy đồi.

Giả thuyết khác là hệ thống tình báo và an ninh của Mỹ bao trùm lên 16 cơ quan mà cơ quan nào cũng cố tranh thủ hậu thuẫn chính trị - và ngân sách - nên cơ quan nào đó có thể đã soạn thảo hay tiết lộ một số chi tiết nhằm đấu tranh trong hậu trường, để đòi gia tăng ngân sách hay phương tiện chẳng hạn. Nếu giả thuyết này đúng, Hoa Kỳ không đáng lãnh đạo thế giới về tài quản trị! Nhất là quản trị chuyện an ninh sinh tử cho quốc gia.

Giả thuyết thứ tư là tình báo Mỹ phải báo động trong mục tiêu đập cỏ dọa rắn, tức là tung hoả mù hầu những ổ đặc công đang tính ra tay phải chột dạ nghe ngóng. Nếu đây là lý do thì tình hình quả là đáng ngại. Khi đã nắm vững nội tình của đối phương tới mức độ biết trước là al-Qaeda đang bành trướng khắp nơi, và cố xâm nhập vào Mỹ để tung ra một đợt khủng bố mới, thì cơ quan hữu trách về tình báo hay an ninh phải ra tay phá vỡ kế hoạch. Chứ không thể báo động theo lối cầu âu đập bụi như vậy được!

Giả thuyết thứ năm là Chính quyền Bush muốn bắn tiếng cho Pakistan là phải dứt khoát diệt trừ tàn dư al-Qaeda đang ẩn náu và đang gợi ý cho nhiều nhóm al-Qaeda nội hoá khác sẽ ra tay, như vụ nổi dậy tại ngôi đền Hồi giáo Pakistan vào tuần qua có thể cho thấy. Giả thuyết này có lẽ xác thực hơn cả, nhưng vì sao phải làm dân Mỹ sợ hãi khi cần nhắc nhở Tổng thống Pervez Musharaff"

Giả thuyết sau cùng, chưa hẳn là phi lý, là nhiều cơ quan tình báo Hoa Kỳ không phân biệt được nhiều cấp khác nhau của al-Qaeda! Vì không phân biệt được bản chất và xuất xứ của nhiều loại al-Qaeda, họ dùng chung một danh từ tiện lợi nhất là al-Qaeda. Y như danh xưng của cuộc chiến là chống khủng bố toàn cầu. Khủng bố chỉ là phương pháp, ý thức hệ độc tôn, độc tài và độc địa của một số Hồi giáo quá khích mới là kẻ thù cần tiêu diệt hay xoá bỏ.

Nếu còn hoài nghi, ta nên nhớ lại rằng ngày xưa, trong thời Chiến tranh Việt Nam, họ cũng từng hiểu lầm rằng Mặt trận Giải phóng Miền Nam là tổ chức tự phát ở trong Nam. Truyền thông lẫn các học giả Mỹ cũng phân biệt Việt Cộng (là cán bộ Cộng sản ở trong Nam, của Mặt trận Giải phóng Miền Nam) với Bắc Việt! Sau 1975 mới ngã ngửa!

Giả thuyết kỳ cục này khiến ta phải duyệt lại sự việc từ đầu.

Để chứng minh quyết tâm, sau vụ khủng bố 9-11, Chính quyền Bush lập tức tấn công Afghanistan, lật đổ chế độ Taliban và khiến đầu não của al-Qaeda tại đây bị tê liệt. Sau đó, để chứng tỏ ý chí - lần này với khối Hồi giáo cả ôn hoà lẫn quá khích - Chính quyền Bush đánh thẳng vào tổ ong Iraq, với sự đồng ý mãnh liệt của Quốc hội (mà nhiều người nay đã quên và gán tội oan cho ông Bush là đơn phương tấn công Iraq!)

Bốn năm sau chiến dịch Iraq, các nhóm khủng bố xưng danh Thánh chiến ở đây đang yếu thế và bị chính cộng đồng Sunni cô lập và tố giác. Và các nước Hồi giáo ôn hoà đã liên kết cùng nhau và cùng với Hoa Kỳ. Nhưng, người ta chỉ nói đến sự hiện hữu của "al-Qaeda made in Iraq", loại "al-Qaeda gia công". Loại khủng bố hạng nhì này chưa thể làm chiến lược Iraq của Hoa Kỳ sụp đổ nếu không có sự cổ võ của các nhóm phản chiến và chính khách trở cờ tại Mỹ.

Thế rồi, khi phải gỡ bí vì áp lực của Quốc hội, ông Bush viện dẫn sự hiện hữu của al-Qaeda tại Iraq như một lý do khiến Mỹ không thể rút quân. Ông phạm một sai lầm lớn là tìm thành quả chiến thuật nhất thời mà hy sinh kết quả chiến lược là chứng minh sự suy bại của cả al-Qaeda nguyên thủy lẫn al-Qaeda gia công.
Chính lầm lẫn ấy của Chính quyền Bush và của hệ thống tình báo Hoa Kỳ mới là nguồn cổ võ cho đám khủng bố tự phát, nội hóa, thiếu chuyên nghiệp, đang nổi lên ở nhiều nơi.

Mười năm sau, đám giặc cỏ này có thể sẽ lại gây ra một đám cháy rừng lớn. Năm 1992, không ai tại Hoa Kỳ, trong hệ thống tình báo và trong chính quyền Clinton, lại tiên đoán nổi vụ 9-11, do một đám giặc cỏ gây ra từ những mảnh vụn của Kháng chiến Afghanistan.

Thành thử, vấn đề chính danh định phận, hay hiểu cho rõ nội dung để gọi tên cho đúng và xử lý cho chính xác, vẫn là một vấn đề văn hóa sâu xa của nước Mỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.