Hôm nay,  

Dự Báo Kinh Tế

15/10/200900:00:00(Xem: 10861)

Dự Báo Kinh Tế

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

Việt Nam đang bị nguy cơ khủng hoảng về ngoại hối...
Chúng ta còn ba tháng nữa là hết năm 2009 đầy sóng gió cho kinh tế thế giới. Tình hình rồi sẽ ra sao, triển vọng hồi phục đã hiện thực hay chưa" Diễn đàn Kinh tế sẽ sơ kết về những dự báo cho các nền kinh tế, với phần cuối tập trung vào trường hợp Việt Nam. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông Vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ vào cuối quý ba năm ngoái đã dẫn tới nạn suy thoái kinh tế toàn cầu. Một năm sau, là giờ này đây, tình hình đã có vẻ lắng dịu ở nhiều nơi, vì vậy, chúng tôi đề nghị là chương trình kỳ này sẽ điểm qua viễn ảnh kinh tế của các nước từ nay đến cuối năm, với phần cuối sẽ dành cho Việt Nam. Câu hỏi đầu tiên là về tình hình kinh tế Hoa Kỳ, dù sao vẫn là một đầu máy kinh tế lớn của thế giới. Kinh tế Mỹ đã ra khỏi nạn suy thoái hay chưa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Kinh tế Mỹ thực sự đã bị suy trầm, tức là tăng trưởng chậm hơn trong hai quý liền, kể từ cuối năm 2007. Tính đến nay thì coi như đã bị một trận suy trầm khá lâu và khá sâu. Nhưng từ quý hai năm nay thì đã bắt đầu đụng đáy và ba tháng sau, tức là bây giờ, thì coi như đang hồi phục. Tuy nhiên, mức hồi phục vẫn chưa mạnh, sức tuyển dụng nhân công còn chậm và tín dụng ngân hàng còn yếu. Không khéo thì qua năm tới lại bị suy trầm nhẹ, giới kinh tế gọi trường hợp đó là đụng đáy hai lần, một giả thuyết có xác suất thấp nhưng vẫn đáng ngại.
Việt Long: Thưa ông, giới kinh tế dựa trên những chỉ dấu nào mà dự báo những điều ấy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thuần về kỹ thuật, người ta chỉ biết kinh tế suy trầm hay tăng trưởng sau khi thu thập thống kê của quý trước hay tháng trước, cho nên mới chú ý đến loại chỉ dấu tiên báo và loại chỉ dấu hậu kiểm, là loại thống kê xác nhận hay không những số liệu tiên báo ấy. Một chỉ dấu báo trước là kinh tế có thể đang phục hồi là thị trường chứng khoán. Tại Hoa Kỳ, ta nên theo dõi chỉ số Standard & Poor's 500 của 500 doanh nghiệp đủ lại lớn nhỏ nên có giá trị biểu hiện rộng hơn. Chỉ số này đã tăng đều từ dưới đáy là 676 điểm vào đầu tháng Ba vừa qua nay đã vượt quá ngàn điểm. Thứ hai, số người lần đầu khai báo thất nghiệp để xin trợ cấp cũng giảm dần từ đỉnh cao nhất vào tháng Tư. Chỉ số thứ ba là lượng hàng bán lẻ cũng đã tăng mạnh từ đầu tháng Bảy, trong khi lượng hàng sản xuất cho tồn kho cũng đã ngoi lên khỏi đáy từ tháng Bảy. Ngần ấy chỉ dấu cho phép giới kinh tế dự báo là Hoa Kỳ đã ra khỏi nạn suy trầm.
Việt Long: Nhưng, theo ông vừa trình bày thì sự phục hồi này vẫn chưa mạnh và có bất trắc"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, vầng mây đen ở chân trời là khối lượng tín dụng ngân hàng, từ 9.000 tỷ Mỹ kim cách đây một năm đã tăng vọt lên gần 9.600 tỷ vào cuối năm, sau đó lại tuột mạnh. Chỉ dấu này cho ta biết khả năng đi vay và cho vay cho yêu cầu tiêu thụ và sản xuất. Nếu trị trường tín dụng này chưa khởi sắc, ta phải nghĩ rằng tâm lý thị trường vẫn chưa lạc quan và khả năng tuyển dụng còn thấp, nạn thất nghiệp sẽ còn đe dọa. Kết luận ở đây là đầu máy kinh tế Hoa Kỳ đã hồi phục, nhưng chưa mạnh và điều ấy cũng ảnh hưởng đến kinh tế thế giới.
Việt Long: Nói về kinh tế thế giới thì sau đầu máy Hoa Kỳ, người ta còn đầu máy Âu Châu, tình hình nơi đó đã khả quan hơn chưa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thật ra vẫn chưa khả quan bằng Hoa Kỳ và hồi phục chậm hơn Hoa Kỳ, với hệ thống tín dụng ngân hàng còn gặp nhiều vấn đề hơn. Các ngân hàng Âu Châu còn ngần ngại cho vay hơn là ngân hàng Mỹ, trong khi doanh nghiệp Âu Châu lại trông đợi vào nguồn tài trợ của ngân hàng hơn hẳn doanh nghiệp Mỹ, vốn thường huy động vốn qua thị trường chứng khoán. Một vấn đề khác của kinh tế Âu Châu, ít ra từ nay đến cuối năm và có khi kéo qua năm tới, là nạn bội chi ngân sách và gánh nặng công trái của nhiều quốc gia. Họ khó huy động được thị trường trái phiếu để kích thích kinh tế và sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn về xã hội. Nhiều xứ Trung Âu và Nam Âu trong khu vực Balkan có thể bị bất ổn xã hội. Chúng ta không nên quên là Âu Châu cũng có những nhược điển nội tại trong cơ cấu kinh tế vĩ mô chứ không chỉ bị suy thoái vì hiệu ứng khủng hoảng tài chính xuất phát năm ngoái từ Hoa Kỳ.
Việt Long: Chúng ta bước qua đầu máy kinh tế Đông Á. Các nước trong khu vực này, kể cả Nhật Bản và Trung Quốc, đều trông cậy ít nhiều vào triển vọng xuất khẩu cho thị trường Hoa Kỳ và Âu Châu. Bây giờ kinh tế Mỹ đã hồi phục mà chưa mạnh, Âu Châu thì mới bắt đầu đụng đáy, thì kinh tế Đông Á sẽ ra sao từ nay đến cuối năm"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì triển vọng Âu-Mỹ thực ra chưa sáng sủa, việc bán hàng cho hai thị trường ấy để ra khỏi suy trầm vẫn chưa đủ mạnh. Vì vậy, kinh tế Đông Á cần kích cầu nhờ khả năng riêng, đồng thời cải tổ lại cơ chế để mở rộng thị trường nội địa, là việc chưa thể có kết quả mau chóng. Thí dụ nổi bật nhất là xuất khẩu của Nhật vẫn sút giảm, coi như giảm liên tục từ cả năm nay rồi. Chính quyền mới đắc cử đang rà soát lại các biện pháp ngân sách và thuế khoá để kích thích kinh tế, nhưng sẽ khó có ngay kết quả. Kinh tế Nhật Bản vẫn bị đe dọa nặng nhất. 
Việt Long: Trong khu vực Đông Á, sau Nhật Bản thì còn đầu máy kinh tế Trung Quốc với gần 600 tỷ đô la đã được tung ra từ năm ngoái để kích thích kinh tế. Tình hình bây giờ ra sao"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Trung Quốc có xu hướng kích cầu bằng tín dụng ngân hàng hơn là qua tăng chi ngân sách. Bây giờ có lẽ họ đang chột dạ vì tín dụng dễ dãi và dồi dào có kích thích tăng trưởng, nhưng với cái giá là làm hệ thống ngân hàng càng suy yếu dưới một núi nợ thối nên có nguy cơ sụp đổ còn đáng sợ hơn vụ khủng hoảng tài chính năm ngoái tại Mỹ. Bây giờ, khi họ muốn hãm đà phân phát tín dụng thì lại bị rủi ro khác, là doanh nghiệp phá sản và thợ thuyền mất việc, xã hội bị động loạn. Trong khi ấy, tín dụng bừa phứa cũng lại thổi lên nhiều bong bóng đầu cơ, nhất là trong lãnh vực địa ốc. Vì vậy, dù lãnh đạo xứ này cứ nói đến việc phục hồi và triển vọng tăng trưởng rất cao, họ đang gặp bài toán lưỡng nan: bơm thêm tín dụng để khỏi bị suy trầm thì lại sợ ngân hàng vỡ nợ, tiết giảm tín dụng để thoát cơn khủng hoảng tài chính thì lại bị kinh tế suy trầm, thất nghiệp tăng và doanh nghiệp phá sản. Tình hình Trung Quốc thật ra không lạc quan như người ta nghĩ.
Việt Long: Qua phần hai thì tình hình Việt Nam ra sao" Hình như là lãnh đạo Việt Nam cũng áp dụng biện pháp tín dụng hơn là tăng chi, nghĩa là tương tự như phương thức của Trung Quốc. Thế rồi thay vì chuẩn bị tiết giảm dần việc trợ cấp lãi suất 4% vào cuối năm nay thì tuần qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa quyết định duy trì chế độ trợ cấp lãi suất đó thêm hai năm nữa. Ông giải thích thế nào về quyết định này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong một chương trình trước, vào cuối tháng Tám, chúng ta nói đến hai yêu cầu mâu thuẫn của Việt Nam trong một bài toán cũng thuộc loại lưỡng nan là vừa phải tống ga để kích cầu vừa muốn đạp thắng để tránh nạn lạm phát. Khi đó, căn cứ trên chỉ tiêu về lượng tín dụng được bơm ra quá nhiều trong nửa năm đầu, chúng ta có dự đoán là Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam sẽ giảm dần vòi bơm tín dụng kể từ quý ba. Bây giờ, dường như lãnh đạo Việt Nam lại đổi ưu tiên và Ngân hàng Nhà nước thì không có khả năng độc lập nên phải chấp hành ưu tiên ấy, đó là tiếp tục kích cầu để đạt mức tăng trưởng cao nên sẽ duy trì chế độ trợ cấp lãi suất cho đến cuối năm kia, là năm 2011. Mà vì sao họ lại thông báo sớm như vậy" Tôi thiển nghĩ rằng đây là một mục tiêu chính trị để chuẩn bị cho Đại hội đảng khoá 11, nhằm gây không khí phấn khởi và làm ăn dễ dãi trong dân chúng.
Việt Long: Nhưng ông cho rằng quyết định chính trị ấy tất nhiên cũng gây nhiều rủi ro về kinh tế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Giới ngân hàng tại Việt Nam cho rằng việc bù lãi suất 4% là cần thiết vì lãi suất ngân hàng tại Việt Nam vẫn cao hơn lãi suất xứ khác. Nhưng đấy là một cái nhìn phiến diện vì vật giá các xứ khác không tăng mạnh như Việt Nam. Vì vậy, nếu tiếp tục bơm tiền như thế, Việt Nam có thể lại thổi bùng lạm phát hơn 20% trong năm tới và chỉ tiêu tăng trưởng trên 6% vẫn là khó đạt. Mà đây không là khó khăn duy nhất của Việt Nam.
Việt Long: Ông còn nhìn thấy những khó khăn gì khác nữa"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, Việt Nam chưa thể xuất khẩu mạnh và tiếp tục bị nhập siêu nặng, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, ít ra là 12 tỷ đô la cho toàn năm vì hai đầu máy cho xuất khẩu của Việt Nam là Hoa Kỳ và Âu Châu vẫn còn yếu như chúng ta vừa trình bày. Thứ hai, Việt Nam đã khiến giới đầu tư quốc tế thất vọng nên lượng đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã giảm tới hơn 85% trong năm nay, số giải ngân để thực hiện vì vậy còn kém hẳn năm ngoái. Thứ ba, lượng tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cho thân nhân cũng giảm mạnh vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn ở bên ngoài và có thể giảm ít ra là 20% so với con số tám tỷ Mỹ kim của năm ngoái. Kết hợp ngần ấy yếu tố, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam bị bào mỏng mất sáu bảy tỷ đô la so với cuối năm ngoái, và nay chỉ còn hơn 17 tỷ thôi. Vì vậy, Việt Nam đang bị nguy cơ khủng hoảng về ngoại hối và đồng bạc còn mất giá mạnh, có thể mất hai chục vạn đồng bạc Việt Nam mới ăn một Mỹ kim dù Mỹ kim hiện đang mất giá so với nhiều ngoại tệ khác. Tình hình ấy sẽ trở thành hiện thực ngay trong mấy tháng tới. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.
Việt Long: Nếu ông phân tích như vậy thì những khó khăn về ngoại hối do ngoại tệ trở thành khan hiếm hơn vẫn chưa phải là vấn đề hay sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lạm phát gia tăng khi đồng bạc lại bị phá giá thì đấy là một kịch bản đáng ngại cho sự ổn định. Nghĩa là nguy cơ bất ổn sẽ chỉ có tăng và phản ứng tự nhiên là nhà nhà tiếp tục tàng trữ đô la để đối phó với bất ổn giá cả khiến Mỹ kim lại càng khan hiếm và càng lên giá. Chuyện ấy có thể xảy ra sớm hơn nhiều dự báo. Đã thế, vì tín dụng dễ dãi và phân phối không đều nên sẽ thổi lên nhiều trái bóng đầu cơ là điều đã xảy ra cho Trung Quốc và đang xảy ra cho Việt Nam. Trái bóng ấy sẽ bể vì kỳ vọng sinh lời không có, cho nên nhiều người nhiều đại gia lo sợ phá sản sẽ lại tầu tán tài sản ra nước ngoài và càng gây thêm sức ép về ngoại hối.
Chuyện thứ ba là số phận của nông dân và người nghèo. Nông dân bị bóc lột qua nhiều chặng, từ thu mua tới xuất khẩu, cho nên giá gạo có lên họ vẫn thiệt mà có xuống họ càng bị đói. Vấn đề ấy, nhiều chuyên gia kinh tế và nông nghiệp ở trong nước đã nói tới và báo động mà vẫn không có kết quả. Trong khi ấy, hàng loạt thiên tai bão lụt đã báo hiệu là hiện tượng El-Nino đang trở về, với những hậu quả bất thường về thời tiết và ảnh hưởng trên mùa màng năm tới. Vì vậy, người ta không lạc quan về triển vọng phục hồi tại Việt Nam. Giới đầu tư quốc tế đã nhìn thấy thế, nhiều quỹ đầu tư ngoại quốc tại Việt Nam cũng kết luận như vậy. Họ chỉ tránh không công khai nói ra mà thôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.