Hôm nay,  

Vì Sao Việt Nam Vẫn Phải Là Bài Học?

01/11/200800:00:00(Xem: 9616)

Vì Sao Việt Nam Vẫn Phải Là Bài Học"
Nguyễn Xuân Nghĩa

...phía Hoa Kỳ coi thường danh dự, tự ái và chính nghĩa của người quốc gia...
Những gì đã thực sự xảy ra tại Việt Nam"
Năm đó, Hoa Kỳ có bầu cử Tổng thống, với một cuộc chiến dang dở đang bị dân chúng phản đối.
Năm đó, một nhân viên ngành tình báo Hoa Kỳ trở về Mỹ sau nhiều năm phục vụ ở vị trí trọng yếu nhất là giúp đồng minh tổ chức cơ sở dân sự từ hạ tầng lên. Đặt chân lên đất Mỹ, ông thấy dân tình hoang mang không biết vì lý do chiến lược nào về quyền lợi mà Hoa Kỳ lại tham chiến ở một nơi xa xăm đó, và họ tin rằng khó tìm ra một giải pháp khác vì lãnh đạo cũng không hiểu gì về cuộc chiến này.
Ông gửi một tờ trình lên ứng cử viên đang ra tranh cử vì thấy nhân vật này đang cố tìm một chiến lược khác.
Sau đó, ông trở thành thiện nguyên viên không công cho ban tham mưu tranh cử. Và được mời vào trình bày trước Tiểu ban Soạn thảo Chương trình hành động. Đây là một cơ chế của Ủy ban Quốc gia của đảng nhằm đưa ra một chương trình hành động của liên danh tranh cử nếu họ đắc cử. Không là một đại biểu và cũng chẳng tham dự Đại hội đảng vào mấy ngày sau, ông chỉ nghe nói rằng Tiểu ban bị phân hoá vì đa số muốn triệt thoái lập tức, bất kể hậu quả, và một số người còn lại thì ủng hộ quan điểm của chính quyền sắp mãn nhiệm là phải tiến hành đàm phán hầu để lại một xứ sở tự do.
***
Năm đó là 1968. Ứng cử viên ra tranh cử bên Dân Chủ là Phó Tổng thống Hubert Humphrey của Chính quyền Lyndon Johnson. Nhân vật đầy thiện chí đó là ông Rufus Phillips, mới từ Việt Nam về từ tháng Bảy. Năm đó, Hoa Kỳ bị chấn động vì vụ ám sát Robert Kennedy và mục sư Martin Luther King. Đường phố nước Mỹ nổi lên nhiều cuộc biểu tình bạo động vì mục sư King bị giết, rồi tới phong trào phản đối cuộc chiến tại Việt Nam. Năm đó, đảng Dân Chủ họp Đại hội tại Chicago, từ 26 đến 29 tháng Tám.
Năm đó, miền Nam cũng vừa đứng dậy sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Là một thường dân đã từng qua Việt Nam làm việc từ 1954, và phụ trách việc xây dựng nông thôn, ông Phillips thẳng thắn trình bày quan điểm xuất phát từ kinh nghiệm còn nóng hổi ở tại chỗ. Quan điểm ấy là Hoa Kỳ không nên bỏ rơi Việt Nam, đảng Dân Chủ không nên gây ảo tưởng về một viễn ảnh hòa bình mà phải thẳng thắn giải thích cho dư luận biết sự thể là Việt Nam quan trọng dường nào, hầu tìm hậu thuẫn của quần chúng cho một giải pháp thực tiễn hơn...
Rufus Phillips kể lại những chuyện ấy trong cuốn "Why Vietnam Matters" vừa do nhà Naval Institute Press xuất bản vào tuần qua. Chúng ta nên tìm mua cuốn sách này vì những chuyện cũ của Việt Nam và vì thời sự trước mặt của Hoa Kỳ.
***
Năm 1968 đó, Rufus Phillips có dịp nghe những định đề của Tiểu ban soạn thảo Chương trình Hành động về cuộc chiến Việt Nam. Thí dụ khiến người đọc ngày nay lập tức liên tưởng đến Iraq hay Afghanistan: "cuộc chiến lấy mất tài nguyên cần thiết cho nhiều nhu cầu quan trọng hơn ở nhà; cuộc chiến khiến ta mất uy tín trước quốc tế; rằng mục tiêu của chúng ta phải là một chiến thắng quân sự, trong khi đấy chỉ là một cuộc nội chiến trong đó Việt Cộng là lực lượng chính trị độc lập và có chính nghĩa; rằng ta có quyền áp đặt một hình thái chính quyền lên các lực lượng không Cộng sản ở trong Nam; và rằng Việt Nam là một ngoại lệ, ngoài xứ này ra, Hoa Kỳ không bị thách đố ở bất cứ một nơi nào khác..."
Hãy đọc lại mà xem, chúng ta phải rùng mình vì những định đề như vậy, của một đảng đã tung quân vào tham chiến tại Việt Nam mới hơn năm năm về trước. Và nay tìm cách rút lui sau những sai lầm và ngộ nhận tai hại.
Khi ấy, tác giả Rufus Phillips mới nêu câu hỏi: Đạo đức của Hoa Kỳ là gì khi bỏ rơi một dân tộc đang khốn khổ và còn bị đe dọa hơn người Mỹ" Đạo tắc của nước Mỹ là gì khi ép những người không cộng sản phải lập chính phủ liên hiệp với phe Cộng sản - y như Liên Xô vừa thi hành tại Tiệp Khắc trong "mùa Xuân Praha""
Ông nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ thất bại trong cách thi hành thì phải sửa lại những sai lầm đó hơn là tìm cách bỏ cuộc. Thực tế tại chỗ cho thấy lãnh đạo Cộng sản tại Hà Nội không muốn chiến thắng bằng quân sự mà chỉ muốn chiến thắng chính quyền quốc gia ở trong Nam và chính Hoa Kỳ ở hậu phương, bằng đấu tranh chính trị và tuyên truyền, trong khi Mặt trận Giải phóng miền Nam chỉ là lực lượng thiểu số ở trong Nam. Chúng ta nên tìm một giải pháp khác để đối phó với thử thách đó hơn là tháo chạy khỏỉ Việt Nam.
Tiểu ban nghe ông trong sự lặng thinh. Tác giả cảm thấy rằng đấy là lần đầu tiên những người làm chính sách được nghe tới một lý do đạo đức của việc yểm trợ miền Nam, từ một người đã trực tiếp tham dự ở tại chỗ.
Dù là Phó tổng thống, đã có một thời gian rất lâu, tới cả năm, mà ông Humphrey bị nội các Johnson gạt ra ngoài những quyết định liên quan tới Việt Nam. Nay bước ra tranh cử, ông ở vào một vị trí rất khó là phải đứng xa chính quyền Johnson về chuyện Việt Nam đồng thời tìm ra một giải pháp khác để thanh toán hồ sơ này. Trong hoàn cảnh ấy, ông Rufus Phillips lại nêu ý kiến, rằng nếu vì lý do tranh cử mà đảng Dân Chủ đưa ra kế hoạch đàm phán với Mặt trận Giải phóng Việt Nam trong tư thế ngang hàng với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thì Humphrey có thể thắng cử. Nhưng miền Nam sẽ bị Cộng sản thôn tính...
Hubert Humhrey thực sự là người có thiện chí và thực tâm khai thông bế tắc. Vì vậy, một nhóm tư vấn lập tức được thành lập, gồm có Rufus Phillips và sáu bảy nhân vật dày kinh nghiệm về Việt Nam, để soạn thảo ra một "Chiến lược Chính trị cho Việt Nam". Nhóm người này làm việc quên nghỉ và soạn ra một tài liệu 23 trang về chiến lược và từng biện pháp thi hành, trong đó, một mục tiêu được khẳng định từ đầu là "miền Nam không thể bị Bắc Việt tấn công nữa, phải được yểm trợ để đảm nhiệm phần lớn trách nhiệm đương đầu với lực lượng Cộng sản ở trong Nam..."


Nói cách khác là đảo ngược chiến lược Mỹ hoá cuộc chiến và giảm dần quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam hầu đem lại chính nghĩa cho chính quyền miền Nam và giảm bớt sự chống đối của dư luận Mỹ. Điểm quan trọng nhất, được tác giả nhắc tới nhiều lần - trong suốt cuốn sách - là phía Hoa Kỳ coi thường danh dự, tự ái và chính nghĩa của những người quốc gia.
Phải thay đổi cách ứng xử với đồng minh thì mới có chiến thắng chính trị!
Khốn thay, những ý kiến xác đáng ấy bị chìm trong những tính toán tranh cử. Sau đó là lịch sử. Đại hội đảng Dân Chủ tiến hành trong hỗn loạn và phân hoá, Humphrey thất cử vì một đòn phép vào giờ cuối của Richard Nixon, với sự tham gia của Tổng thống Thiệu vài ngày trước khi cử tri đi bầu: Hoà bình chưa ở trong tầm tay như đảng Dân Chủ tuyên bố vì Sàigòn từ chối tham dự hoà đàm!
Cũng vì quyết định đầy ân tình ấy, vào ngày mùng một tháng 11, 1968, giúp Nixon thắng cử, mà ông Thiệu vững tin rằng Hoa Kỳ (Richard Nixon) sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Điều kỳ lạ là Nixon thắng cử với hứa hẹn là có kế hoạch giải quyết chiến tranh, mà còn cầm cự được thêm bảy năm! Sau này, Henri Kissinger có đọc được tài liệu 23 trang của nhóm chuyên gia về Việt Nam soạn cho đảng Dân Chủ, nhưng ông vứt qua một bên - bảy năm đó không cải thiện được tình hình cho miền Nam.
***
Mà không chỉ phía Hoa Kỳ mới có sự hoang mang và hỗn loạn về Việt Nam. Ngay tại Sàigòn, tình hình cũng không khá hơn.
Sau trận Mậu Thân, miền Nam đã đứng vững và đứng vững nhất là ông Thiệu. Không tin rằng Hoa Kỳ sẽ triệt thoái khỏi Việt Nam và lẽ tồn vong của miền Nam tùy thuộc vào hậu thuẫn chính trị của người dân, hơn là sức yểm trợ của Hoa Kỳ, Tổng thống Thiệu lặng lẽ củng cố quyền lực và loại bỏ dần mọi khả năng đề kháng của các nhóm đối lập. Dù được nhiều người thông báo, kể cả Đại sứ Bùi Diễm, ông Thiệu không ý thức được rằng Hoa Kỳ sẽ rút quân. Miền Nam cứ thế rơi vào hỗn loạn trong khi ông Thiệu tự cô lập dần với quần chúng và các lực lượng đối lập.
Việc ông ra tái tranh cử trong tư thế độc diễn vào năm 1971 - vì không có liên danh đối lập - là một thí dụ.
Người Mỹ ở tại chỗ không thể không biết điều ấy. Đại sứ Ellsworth Bunker là người biết rõ nhất. Nhưng, mục đích của ông là giúp ông Thiệu tồn tại trong thế yếu để hoàn toàn lệ thuộc vào các quyết định của Hoa Kỳ, trong đó có quyết định triệt thoái dần.
Đâm ra, nhìn lại toàn cảnh thì Tướng Kỳ là người tạo ra sự "ổn định" cho Hoa Kỳ đổ quân vào, Tướng Thiệu là người tạo ra sự ổn định cho Hoa Kỳ rút quân ra!
***
Vì mục tiêu cô lập ông Thiệu trong thế suy yếu, Hoa Kỳ không hề lên tiếng can thiệp hay can ngăn khi ông loại bỏ một đối thủ là Dân biểu Trần Ngọc Châu, Tổng thư ký của Hạ viện. Hai người vốn là bạn thân, đồng khoá và đồng ngũ từ rất lâu cho tới khi ông Châu ra khỏi quân đội với rất nhiều thành tích và bước vào nghị trường với nhiều triển vọng chính trị.
Trần Ngọc Châu là người mà tác giả Rufus Phillips biết rõ và rất quý trọng vì ông am hiểu hình thái chiến tranh của Cộng sản sau khi đã tham gia kháng Pháp trong hàng ngũ Việt Minh ở vào tuổi thanh niên. Xuyên qua cuốn sách "Why Vietnam Matters", người đọc có một chân dung khác về nhân vật này.
Sai lầm của ông Châu không phải là đề nghị một giải pháp chính trị khác biệt với ông Thiệu, khi ông dự trù là Mỹ sẽ rút. Sai lầm của ông là đã tiếp xúc với người anh ruột bên hàng ngũ Cộng sản. Hai anh em đều cố tranh thủ lẫn nhau trong hoàn cảnh đấu tranh chính trị lồng vào khuôn khổ gia đình.
Sai lầm thứ hai, ông có cho phía Hoa Kỳ biết về việc tiếp xúc ấy thei kiểu tương kế tựu kế, nhưng ông Thiệu lại không biết. Lấy lý cớ Trần Ngọc Châu tiếp xúc với địch, ông cho người vào bắt Tổng thư ký Hạ viện ngay trong Quốc hội và dựng lại Toà án Mặt trận để tuyên xử ông Châu, bất chấp phản ứng của Quốc hội và phán quyết của Tối cao Pháp viện.
Suốt giai đoạn ấy, từng chi tiết của vụ xử án Trần Ngọc Châu được truyền thông Mỹ loan tải hàng ngày. Và bên trong, những người Mỹ biết rõ việc làm của ông Châu thì muốn can thiệp, lại gặp sự cản trở của chính Đại sứ Bunker, dù Bunker biết rõ là Trần Ngọc Châu vô tội! Thêm một lần nữa, Hoa Kỳ ba đầu sáu tay đã lại đánh nhau đằng sau hậu trường. Ngoài tiền trường sân khấu, có người vào tù!
May mà không bị giết như anh em ông Diệm ông Nhu...
Ông Trần Ngọc Châu bị giam cho tới khi miền Nam sắp thất thủ và sau đó bị Cộng sản cho đi học tập cải tạo. Người anh của ông thì bị đuổi khỏi đảng và bị kỷ luật nặng vì đã tiếp xúc với người em để bị "Ngụy" bắt giữ! Cách cư xử của người quốc gia quả là có khác: sau này, khi cả hai người đều lưu vong trên đất Mỹ, ông Thiệu tự ý liên lạc lại với ông Châu và đến thăm viếng tận nhà để nối lại tình bạn sau một giai đoạn cực kỳ nhiễu nhương. Thắng hay bại đều ngậm ngùi như nhau!
Và nếu đọc lại hồi ký "Why Vietnam Matters", chúng ta còn thấy ra rất nhiều chuyện éo le khác... Vì những chuyện ấy, kinh nghiệm Việt Nam có để lại nhiều bài học cần nhớ, mà không riêng cho người Mỹ (081031).
_________________
"Why Vietnam Matters - An eyewitness account of lessons not learned" của Rufus Phillips, do Naval Institute Press xuất bản. Tác giả sẽ đi một vòng quảng bá cuốn sách tại một số nhà sách của Hoa Kỳ trong những ngày tới (ngày 02, thán 11, 2008: lúc 5:00 PM tại Politics and Prose Bookstore - 5015 Connecticut Ave NW - Washington, D.C.; hai ngảy 14-15 tháng 11, 2008 do Vietnamese Student Associations of New England Summit tổ chức tại Đại học Harvard University - Cambridge, Mass.; ngày 16 tháng 11, 2008 lúc 3:00 PM tại Arlington Central Library, 1015 Quincy Street, Arlington, VA 22201; ngày 22 tháng 11, 2008 lúc 10:00 AM tại Pritzker Military Library, 610 North Fairbanks Court - Chicago, Illinois...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.