Hôm nay,  

Viết Về Một Họa-sĩ

22/06/200800:00:00(Xem: 8582)

Họa sĩ Vivi và tác phẩm thương tiếc

“… Một ngày trên Bidong, người kiếm người loanh quanh.
Từng cụm mây đơn côi, nổi trôi đi tìm sống…
Hồn Trị-Thiên, Nha-Trang. 
Dài từng đôi tay sang; hồn Cà-Mau, Năm-Căn.
Thành giọt nước mắt tròn…”

Lời một ca-khúc của Hà-Thúc-Sinh (tác giả cuốn “Đại-Học Máu” và nhiều tác-phẩm nổi danh khác).  Ông đã để lại bài hát này trên một hòn đảo của Mã-Lai-Á vào thập niên 80.  Trong một buổi chiều giữa tháng 10, năm 1981, khi tôi còn là một cô bé dưới hai mươi, đã đến được Pulau Bidong sau chuyến vượt biển một mình với hơn trăm người Việt-Nam cùng tàu nhưng không hề quen biết, do sự tổ chức của ông anh tôi, (nay đã là “Cố” Võ-Sư Vovinam: Trần-Huy-Phong).  Tôi với cây đàn guitar thùng, thường đi ra bờ biển của Khu “C” nghêu ngao những tình khúc tha-phương, bất tử.

Cũng từ bờ biển ấy, tôi may mắn gặp được anh và các bạn của anh, tôi được nhận làm em Út trong gia-đình “tạm dung” này và được cả nhà đặt cho tên gọi là “Bé Yêu” (vì tôi bé nhất!).

Còn nhớ, lúc đoàn người vượt biển sau ba ngày đêm lênh đênh, được dàn khoan dầu Quốc-Tế giữa Thái-Bình-Dương cứu vớt.  Chúng tôi không được mang bất cứ vật gì theo mà phải để lại hết trên chiếc tàu nhỏ bé dài hơn trăm thước.  Sau khi đưa tất cả những thuyền-nhân lên chỗ an toàn, người ta đã cho nhận chìm chiếc tàu này.  Đôi giày “sandal” của tôi vì thế cũng chìm vào lòng biển khơi.  Một ngày sau đó, với chân trần đi trên nền sắt của dàn khoan dầu không quen bởi quá nóng.  Tôi đã tìm cách tự làm cho mình một chiếc dép; kiếm được một thùng giấy bằng bìa rất chắc, tôi đặt chân mình lên làm mẫu và cắt theo chiều dài chu-vi bàn chân.  Xong, tôi lấy kim chỉ cùng một cây kéo gấp nhỏ xíu (là những thứ cần thiết mà Mẹ tôi bắt dấu trong lưng quần mang theo khi rời nhà), rồi dùng những sợi dây nhựa (để cột các thùng hàng trên dàn khoan) tôi may và thắt nút làm quai dép.  Đang lúc loay hoay, bỗng nghe một tiếng “bịch”, có túi đồ từ trên hành lang của các Thủy-Thủ rơi xuống trước mặt.  Dựt mình nhìn lên, thấy thấp-thoáng những nụ cười, cái nháy mắt y-như các Thiên-Thần từ Trời cao ban xuống cho tôi.  Mở bao ra là 3 đôi dép Nhật, vài chiếc quần Jean và cả chục chiếc áo thung màu trắng, có cả thuốc lá Mỹ và nhiều đồ dùng lặt vặt khác. Họ thẩy xuống cho tôi, một cô bé Việt-Nam “Country-less”, nghèo hơn những người “Home-less” trong xã-hội Mỹ hôm nay; lúc bấy giờ đang tìm cách để khắc-phục những khó khăn trước mắt sau những ngày lênh đênh trên đại-dương.  Tôi đem cho các Bác, các Chú cùng tàu tất cả, chỉ giữ lại cho mình đôi dép Nhật dài quá khổ chân tôi và cái áo thung trắng mặc qua đầu gối.  Rồi cứ cách vài tiếng họ lại thẩy quà xuống, dường như chỉ cho một mình tôi trong số phận một trăm ba mươi sáu thuyền nhân lúc ấy.
Cũng từ giây phút đó tôi tâm niệm với Biển & Trời rằng: “Sau này, khi ra nước ngoài được thành đạt tôi sẽ chú-tâm về việc Bác-Ái, Từ-Thiện.  Sẽ theo gót chân Mẹ Teresa (Calcutta) để chia xẻ đến những người khó nghèo, túng cực.  Biết cho đi không chừng mực và lãnh-nhận không phàn nàn.  Để bù trả lại phần nào sự cưu mang của những người không cùng màu da, không cùng giòng máu đã đối-xử quá tốt với tôi.”
Khi gặp được và làm quen với anh trên đảo Pulau Bidong.  Món quà đầu tiên anh cho là đôi dép mới vừa vặn đôi chân nhỏ bé của tôi (size 5 ½).  Một bộ quần áo và nhiều đồ dùng cá nhân khác anh mua trong chợ trên đảo Bidong. Không phải chỉ một mình tôi được quà mà hàng trăm đứa trẻ khác cùng được như tôi.  Sau này mới biết ra là anh vẽ rất nhiều bức tranh xuất thần, bán cho những nhân-viên của Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc, lấy tiền lo cho chúng tôi, trong hoàn cảnh tha-phương, tỵ-nạn, không biết ngày mai sẽ đi về đâu.
 
Một buổi chiều, thấy tôi gục đầu khóc ngất, anh hỏi tại sao"  Tôi nói nhớ nhà, nhớ Bố & Mẹ, gia-đình.  Nhớ Trưng-Vương và Thầy-Cô cùng các bạn, nhớ Duy-Tân, Trần-Quý-Cáp, nhớ Cường-Để, Phan-Đình-Phùng… Anh mới kể cho tôi nghe là anh cũng ở đường Phan-Đình-Phùng, thuở bé anh đã biết khắc tượng bằng phấn viết bảng làm thành những bộ để trưng bày trong mùa Giáng-Sinh.  Đến năm mười hai tuổi, anh tập tễnh vẽ truyện tranh, rồi tự đóng thành tập, bạn bè truyền nhau trong lớp học lén lút xem.  Cho đến một ngày của năm 1958, một cậu bạn học trò liều lĩnh gửi những tập truyện bằng tranh vẽ này cho tòa báo “Tuổi Xanh” của cụ Bảo-Vân Bùi-Văn-Bảo ở đường DBB (Chợ-Lớn); sau đổi tên là đường Nhật-Tảo.  Một tuần sau đó, cụ Bảo mời anh đến tòa-soạn.  Dưới cơn mưa tầm tã, cậu bé họa-sĩ còng lưng đạp xe từ Saigon ra Chợ-Lớn, người ướt như chuột lội.  Khi đến cổng tòa báo, gặp anh Lê-Tất-Điều, người đầu tiên dắt tay cậu bé họa-sĩ vào phòng họp cùng cụ Bảo và các nhân-vật tên tuổi khác trong tòa soạn.  Và cũng từ đó, sự-nghiệp cùng tên tuổi của người họa-sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua những truyện bằng tranh như: “Cọp Vằn, Cóc Tía, Xã-Hội Kiến...” Sau này là những tác-phẩm Lịch-Sử: Hai-Bà-Trưng, Đức Trần-Hưng-Đạo Đại-Vương, Sự Tích Trầu Cau…)

Tôi ngắt lời, để kể cho anh nghe về những hình bìa truyện “Tuổi Hoa”: Hoa Tím (của tuổi biết yêu), Hoa Xanh (tuổi ô-mai, xí-muội) Hoa Đỏ (truyện trinh-thám, mạo-hiểm)…Kể cả những tấm thiệp Xuân, thiệp Giáng-Sinh thần kỳ qua nét vẽ của anh bày bán trong các tiệm sách, những sạp bán hàng chung quanh khu Nhà Thờ Đức Bà, trên khắp các phố chợ Saigon, đã được những cô bé học trò như chúng tôi thời bấy giờ giữ gìn, trân quý như những báu vật.  Có đứa bạn tôi cắt ra đóng khung treo đầy trên tường trong nhà, trong phòng học. Có đứa ép gối đầu giường để hằng đêm tơ tưởng.  Chúng tôi cũng đã từng mơ ước một ngày nào đó sẽ được trực tiếp gặp mặt anh.

Tôi cũng không ngờ khi nghe anh kể thêm về quãng đời thơ-ấu, đôi bàn tay anh lúc nào cũng mang thương tích và rướm máu vì thân-phụ anh tuyệt đối không muốn anh trở thành Hoạ-Sĩ.  Có khi anh phải trốn trên “plafond” (trần nhà) dưới cơn nóng đổ lửa của Trời Saigon để lén lút vẽ và dấu những họa-phẩm của anh.  Vì nếu Cha anh biết được sẽ đánh anh không thương-tiếc.

Sau khi được cụ Bùi-Văn-Bảo khuyến-khích theo học lớp hội-họa để trở thành Họa-Sĩ chuyên nghiệp anh đã bị Thân-Phụ đuổi thẳng ra khỏi nhà. (Sau này về Saigon, đích thân tôi ghé thăm ông cụ đang nằm bệnh.  Hỏi ra, mới biết chỉ vì quan-niệm của những bậc Cha-Mẹ thời xưa là không muốn thấy cảnh sống cơ-hàn của con mình nếu mang nghiệp Họa-Sĩ.) Rồi anh lang bạt, trôi dạt đến Nha-Trang, vào Chủng-Viện đi Tu, sau anh cởi áo Dòng, xuất ra ngoài Đời để vẽ.  Đến năm 1964, anh bắt đầu vẽ cho tờ “Tuổi Hoa”, chọn bút hiệu là ViVi (Vi: Việt-Nam & Vi: Vĩnh-Long (quê Ngoại cũng là nơi anh được sinh ra.)

Anh tốt nghiệp vào năm 1968 thì nhập ngũ đăng lính trong Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa.  Đến 1981 thì vượt biên cùng thời-gian với tôi và chúng tôi gặp nhau trong tình gia-đình tỵ-nạn.

Sau đó tôi được đi định cư tại Melbourne (Úc-Châu), còn anh: họa-sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt đến Canada.  Thời bấy giờ tôi ôm đàn guitar đi hát khắp các tiểu-bang nước Úc để vận động cho các công cuộc kháng-chiến như “Võ-Đại-Tôn, Hoàng-Cơ-Minh…” Trong một buổi hát ở Dalas Brooks-Hall, Melbourne vào năm 1983 (với đầy ngập hơn bảy ngàn đồng bào tham dự), tôi gặp Chiến-Sĩ Nguyệt-Ánh và Việt-Dzũng, tôi gia-nhập phong trào “Hưng-Ca” từ đó và cũng không ngờ Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt là trưởng gia-đình lúc bấy giờ.  Mãi đến cuối thập-niên 90, anh mới qua định-cư tại Hoa-Kỳ.

Ngày ba-mươi, tháng tư buồn vừa qua. Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt ở San Diego gửi email hỏi tôi đang làm gì"  Tôi khóc và bảo với anh rằng:

“Năm nào cũng thế.  Vào ngày này, đúng giờ Ngọ buổi trưa.  Dầu bận thế nào em cũng phải về nhà nấu bát cơm trắng gạo thơm ngát, tô canh và bày trái cây, pha trà để cúng giỗ, cầu-nguyện cho các Anh-Hùng-Tử-Sĩ.  Nhất là các Vị Tướng cùng các Chiến-Sĩ Vô-Danh của Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa đã tuẫn tiết, anh-dũng hy-sinh trong trách-nhiệm và bổn-phận để em được sống đến ngày hôm nay. ”

Tôi cũng bảo với anh là buồn quá, chỉ biết khóc thôi chứ không biết làm gì hơn.  Anh liền họa ngay tác-phẩm “Thương Tiếc”, có hình bức tượng “Anh Lính Đồng Đen” trước cổng vào NghĩaTrang Quân-Đội Biên Hòa bi dựt đổ sập sau ngày 30, tháng tư, 1975.  Có đôi cánh Thiên-Thần dẫy chết dưới chân người con gái Việt-Nam gục đầu khóc thương.  Anh cũng cho tôi biết anh chỉ biết vẽ và vẽ để diễn tả hết những uẩn khúc, trắc ẩn trong lòng của anh, anh không đàn ca, hát xướng, không viết lách, không thêu thùa, may vá, nấu ăn đàn bà, con gái như tôi.  Nhưng những họa-phẩm của anh thực-sự mang giá-trị lịch-sử, văn-hóa vĩnh-cửu cho những đoạn đời của kiếp con người Việt-Nam.

“Chân Quê”:
 (Viết cho kỷ-niệm 50 năm nghiệp “Cầm Cọ” của Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt).
(ViVi Triển Lãm
Triển lãm kỷ niệm 50 năm của họa sĩ ViVi Võ Hùng Kiệt được tổ chức tại Việt Báo, 14841 Moran St., Westminster, CA 92683, từ ngày 12/07/08 đến 13/07/08 từ 11:00 AM - 6:00 PM.  Tiếp tân:  12/07/08 (11:00 AM).  Xin liên lạc: (909) 856-7784)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.