Hôm nay,  

Viết Về Một Họa-sĩ

22/06/200800:00:00(Xem: 8376)

Họa sĩ Vivi và tác phẩm thương tiếc

“… Một ngày trên Bidong, người kiếm người loanh quanh.
Từng cụm mây đơn côi, nổi trôi đi tìm sống…
Hồn Trị-Thiên, Nha-Trang. 
Dài từng đôi tay sang; hồn Cà-Mau, Năm-Căn.
Thành giọt nước mắt tròn…”

Lời một ca-khúc của Hà-Thúc-Sinh (tác giả cuốn “Đại-Học Máu” và nhiều tác-phẩm nổi danh khác).  Ông đã để lại bài hát này trên một hòn đảo của Mã-Lai-Á vào thập niên 80.  Trong một buổi chiều giữa tháng 10, năm 1981, khi tôi còn là một cô bé dưới hai mươi, đã đến được Pulau Bidong sau chuyến vượt biển một mình với hơn trăm người Việt-Nam cùng tàu nhưng không hề quen biết, do sự tổ chức của ông anh tôi, (nay đã là “Cố” Võ-Sư Vovinam: Trần-Huy-Phong).  Tôi với cây đàn guitar thùng, thường đi ra bờ biển của Khu “C” nghêu ngao những tình khúc tha-phương, bất tử.

Cũng từ bờ biển ấy, tôi may mắn gặp được anh và các bạn của anh, tôi được nhận làm em Út trong gia-đình “tạm dung” này và được cả nhà đặt cho tên gọi là “Bé Yêu” (vì tôi bé nhất!).

Còn nhớ, lúc đoàn người vượt biển sau ba ngày đêm lênh đênh, được dàn khoan dầu Quốc-Tế giữa Thái-Bình-Dương cứu vớt.  Chúng tôi không được mang bất cứ vật gì theo mà phải để lại hết trên chiếc tàu nhỏ bé dài hơn trăm thước.  Sau khi đưa tất cả những thuyền-nhân lên chỗ an toàn, người ta đã cho nhận chìm chiếc tàu này.  Đôi giày “sandal” của tôi vì thế cũng chìm vào lòng biển khơi.  Một ngày sau đó, với chân trần đi trên nền sắt của dàn khoan dầu không quen bởi quá nóng.  Tôi đã tìm cách tự làm cho mình một chiếc dép; kiếm được một thùng giấy bằng bìa rất chắc, tôi đặt chân mình lên làm mẫu và cắt theo chiều dài chu-vi bàn chân.  Xong, tôi lấy kim chỉ cùng một cây kéo gấp nhỏ xíu (là những thứ cần thiết mà Mẹ tôi bắt dấu trong lưng quần mang theo khi rời nhà), rồi dùng những sợi dây nhựa (để cột các thùng hàng trên dàn khoan) tôi may và thắt nút làm quai dép.  Đang lúc loay hoay, bỗng nghe một tiếng “bịch”, có túi đồ từ trên hành lang của các Thủy-Thủ rơi xuống trước mặt.  Dựt mình nhìn lên, thấy thấp-thoáng những nụ cười, cái nháy mắt y-như các Thiên-Thần từ Trời cao ban xuống cho tôi.  Mở bao ra là 3 đôi dép Nhật, vài chiếc quần Jean và cả chục chiếc áo thung màu trắng, có cả thuốc lá Mỹ và nhiều đồ dùng lặt vặt khác. Họ thẩy xuống cho tôi, một cô bé Việt-Nam “Country-less”, nghèo hơn những người “Home-less” trong xã-hội Mỹ hôm nay; lúc bấy giờ đang tìm cách để khắc-phục những khó khăn trước mắt sau những ngày lênh đênh trên đại-dương.  Tôi đem cho các Bác, các Chú cùng tàu tất cả, chỉ giữ lại cho mình đôi dép Nhật dài quá khổ chân tôi và cái áo thung trắng mặc qua đầu gối.  Rồi cứ cách vài tiếng họ lại thẩy quà xuống, dường như chỉ cho một mình tôi trong số phận một trăm ba mươi sáu thuyền nhân lúc ấy.
Cũng từ giây phút đó tôi tâm niệm với Biển & Trời rằng: “Sau này, khi ra nước ngoài được thành đạt tôi sẽ chú-tâm về việc Bác-Ái, Từ-Thiện.  Sẽ theo gót chân Mẹ Teresa (Calcutta) để chia xẻ đến những người khó nghèo, túng cực.  Biết cho đi không chừng mực và lãnh-nhận không phàn nàn.  Để bù trả lại phần nào sự cưu mang của những người không cùng màu da, không cùng giòng máu đã đối-xử quá tốt với tôi.”
Khi gặp được và làm quen với anh trên đảo Pulau Bidong.  Món quà đầu tiên anh cho là đôi dép mới vừa vặn đôi chân nhỏ bé của tôi (size 5 ½).  Một bộ quần áo và nhiều đồ dùng cá nhân khác anh mua trong chợ trên đảo Bidong. Không phải chỉ một mình tôi được quà mà hàng trăm đứa trẻ khác cùng được như tôi.  Sau này mới biết ra là anh vẽ rất nhiều bức tranh xuất thần, bán cho những nhân-viên của Cao-Ủy-Liên-Hiệp-Quốc, lấy tiền lo cho chúng tôi, trong hoàn cảnh tha-phương, tỵ-nạn, không biết ngày mai sẽ đi về đâu.
 
Một buổi chiều, thấy tôi gục đầu khóc ngất, anh hỏi tại sao"  Tôi nói nhớ nhà, nhớ Bố & Mẹ, gia-đình.  Nhớ Trưng-Vương và Thầy-Cô cùng các bạn, nhớ Duy-Tân, Trần-Quý-Cáp, nhớ Cường-Để, Phan-Đình-Phùng… Anh mới kể cho tôi nghe là anh cũng ở đường Phan-Đình-Phùng, thuở bé anh đã biết khắc tượng bằng phấn viết bảng làm thành những bộ để trưng bày trong mùa Giáng-Sinh.  Đến năm mười hai tuổi, anh tập tễnh vẽ truyện tranh, rồi tự đóng thành tập, bạn bè truyền nhau trong lớp học lén lút xem.  Cho đến một ngày của năm 1958, một cậu bạn học trò liều lĩnh gửi những tập truyện bằng tranh vẽ này cho tòa báo “Tuổi Xanh” của cụ Bảo-Vân Bùi-Văn-Bảo ở đường DBB (Chợ-Lớn); sau đổi tên là đường Nhật-Tảo.  Một tuần sau đó, cụ Bảo mời anh đến tòa-soạn.  Dưới cơn mưa tầm tã, cậu bé họa-sĩ còng lưng đạp xe từ Saigon ra Chợ-Lớn, người ướt như chuột lội.  Khi đến cổng tòa báo, gặp anh Lê-Tất-Điều, người đầu tiên dắt tay cậu bé họa-sĩ vào phòng họp cùng cụ Bảo và các nhân-vật tên tuổi khác trong tòa soạn.  Và cũng từ đó, sự-nghiệp cùng tên tuổi của người họa-sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua những truyện bằng tranh như: “Cọp Vằn, Cóc Tía, Xã-Hội Kiến...” Sau này là những tác-phẩm Lịch-Sử: Hai-Bà-Trưng, Đức Trần-Hưng-Đạo Đại-Vương, Sự Tích Trầu Cau…)

Tôi ngắt lời, để kể cho anh nghe về những hình bìa truyện “Tuổi Hoa”: Hoa Tím (của tuổi biết yêu), Hoa Xanh (tuổi ô-mai, xí-muội) Hoa Đỏ (truyện trinh-thám, mạo-hiểm)…Kể cả những tấm thiệp Xuân, thiệp Giáng-Sinh thần kỳ qua nét vẽ của anh bày bán trong các tiệm sách, những sạp bán hàng chung quanh khu Nhà Thờ Đức Bà, trên khắp các phố chợ Saigon, đã được những cô bé học trò như chúng tôi thời bấy giờ giữ gìn, trân quý như những báu vật.  Có đứa bạn tôi cắt ra đóng khung treo đầy trên tường trong nhà, trong phòng học. Có đứa ép gối đầu giường để hằng đêm tơ tưởng.  Chúng tôi cũng đã từng mơ ước một ngày nào đó sẽ được trực tiếp gặp mặt anh.

Tôi cũng không ngờ khi nghe anh kể thêm về quãng đời thơ-ấu, đôi bàn tay anh lúc nào cũng mang thương tích và rướm máu vì thân-phụ anh tuyệt đối không muốn anh trở thành Hoạ-Sĩ.  Có khi anh phải trốn trên “plafond” (trần nhà) dưới cơn nóng đổ lửa của Trời Saigon để lén lút vẽ và dấu những họa-phẩm của anh.  Vì nếu Cha anh biết được sẽ đánh anh không thương-tiếc.

Sau khi được cụ Bùi-Văn-Bảo khuyến-khích theo học lớp hội-họa để trở thành Họa-Sĩ chuyên nghiệp anh đã bị Thân-Phụ đuổi thẳng ra khỏi nhà. (Sau này về Saigon, đích thân tôi ghé thăm ông cụ đang nằm bệnh.  Hỏi ra, mới biết chỉ vì quan-niệm của những bậc Cha-Mẹ thời xưa là không muốn thấy cảnh sống cơ-hàn của con mình nếu mang nghiệp Họa-Sĩ.) Rồi anh lang bạt, trôi dạt đến Nha-Trang, vào Chủng-Viện đi Tu, sau anh cởi áo Dòng, xuất ra ngoài Đời để vẽ.  Đến năm 1964, anh bắt đầu vẽ cho tờ “Tuổi Hoa”, chọn bút hiệu là ViVi (Vi: Việt-Nam & Vi: Vĩnh-Long (quê Ngoại cũng là nơi anh được sinh ra.)

Anh tốt nghiệp vào năm 1968 thì nhập ngũ đăng lính trong Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa.  Đến 1981 thì vượt biên cùng thời-gian với tôi và chúng tôi gặp nhau trong tình gia-đình tỵ-nạn.

Sau đó tôi được đi định cư tại Melbourne (Úc-Châu), còn anh: họa-sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt đến Canada.  Thời bấy giờ tôi ôm đàn guitar đi hát khắp các tiểu-bang nước Úc để vận động cho các công cuộc kháng-chiến như “Võ-Đại-Tôn, Hoàng-Cơ-Minh…” Trong một buổi hát ở Dalas Brooks-Hall, Melbourne vào năm 1983 (với đầy ngập hơn bảy ngàn đồng bào tham dự), tôi gặp Chiến-Sĩ Nguyệt-Ánh và Việt-Dzũng, tôi gia-nhập phong trào “Hưng-Ca” từ đó và cũng không ngờ Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt là trưởng gia-đình lúc bấy giờ.  Mãi đến cuối thập-niên 90, anh mới qua định-cư tại Hoa-Kỳ.

Ngày ba-mươi, tháng tư buồn vừa qua. Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt ở San Diego gửi email hỏi tôi đang làm gì"  Tôi khóc và bảo với anh rằng:

“Năm nào cũng thế.  Vào ngày này, đúng giờ Ngọ buổi trưa.  Dầu bận thế nào em cũng phải về nhà nấu bát cơm trắng gạo thơm ngát, tô canh và bày trái cây, pha trà để cúng giỗ, cầu-nguyện cho các Anh-Hùng-Tử-Sĩ.  Nhất là các Vị Tướng cùng các Chiến-Sĩ Vô-Danh của Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa đã tuẫn tiết, anh-dũng hy-sinh trong trách-nhiệm và bổn-phận để em được sống đến ngày hôm nay. ”

Tôi cũng bảo với anh là buồn quá, chỉ biết khóc thôi chứ không biết làm gì hơn.  Anh liền họa ngay tác-phẩm “Thương Tiếc”, có hình bức tượng “Anh Lính Đồng Đen” trước cổng vào NghĩaTrang Quân-Đội Biên Hòa bi dựt đổ sập sau ngày 30, tháng tư, 1975.  Có đôi cánh Thiên-Thần dẫy chết dưới chân người con gái Việt-Nam gục đầu khóc thương.  Anh cũng cho tôi biết anh chỉ biết vẽ và vẽ để diễn tả hết những uẩn khúc, trắc ẩn trong lòng của anh, anh không đàn ca, hát xướng, không viết lách, không thêu thùa, may vá, nấu ăn đàn bà, con gái như tôi.  Nhưng những họa-phẩm của anh thực-sự mang giá-trị lịch-sử, văn-hóa vĩnh-cửu cho những đoạn đời của kiếp con người Việt-Nam.

“Chân Quê”:
 (Viết cho kỷ-niệm 50 năm nghiệp “Cầm Cọ” của Họa-Sĩ ViVi Võ-Hùng-Kiệt).
(ViVi Triển Lãm
Triển lãm kỷ niệm 50 năm của họa sĩ ViVi Võ Hùng Kiệt được tổ chức tại Việt Báo, 14841 Moran St., Westminster, CA 92683, từ ngày 12/07/08 đến 13/07/08 từ 11:00 AM - 6:00 PM.  Tiếp tân:  12/07/08 (11:00 AM).  Xin liên lạc: (909) 856-7784)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.