Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Nhiễm Phóng Xạ Nguyên Tử

15/03/200800:00:00(Xem: 6286)

Trước hết là tác dụng phóng xạ vào tế bào. Cơ nguyên tác dụng phóng xạ làm hư hại mô sinh học hay bất cứ vật liệu gì là do tác dụng phóng xạ vào nguyên tử. Tác dụng phóng xạ vào mô tế bào trong cơ thể con người gây ra một năng lượng có thể di chuyển được những electrons ra khỏi nguyên tử trong mô tế bào. Phóng xạ bắn electron bật ra khỏi vị trí dính 2 nguyên tử, đã hủy hoại phân tử, do đó làm hư hại mô tế bào.

Tóm tắt tác dụng phóng xạ vào mô tế bào do nhiều cách:

1) phóng xạ không đủ sức làm hư hại tế bào, 2) Tế bào bị hư hại lúc đầu nhưng sau đó có thể tự sửa chữa lành mạnh, giống như hàng triệu tế bào bị chết trong cơ thể mỗi ngày và được thay thế bằng những tế bào mới, 3) Tế bào bị phóng xạ, tự sửa chữa được nhưng không hoạt động được bình thường như trước,  4) Phóng xạ nặng làm tế bào tử vong.

Độ nhậy cảm phóng xạ của mỗi tế bào có thể thay đổi khác nhau, giả tỉ khi tế bào sinh sản nhanh có thể bị tác dụng phóng xạ liều lượng nhỏ hơn hơn tế bào sinh sản chậm, phải cần liều lượng lớn hơn. Tế bào trong tủy xương bị phóng xạ dễ dàng vơí một liều độ tác dụng nhỏ. Có 2 trường hợp: tác dụng phóng xạ cấp tính và tác dụng phóng xạ kinh niên. Khi liều lượng phóng xạ từ 10 rads trở lên tác dụng vào toàn cơ thể trong vài ngày gây triệu chứng bệnh phóng xạ. Chẳng hạn liều phóng xạ trên 100 rads (cho toàn cơ thể) có thể phát hiện những triệu chứng nhiễm xạ. Khi liều phóng xạ cao hơn 450 rads có thể gây tử vong (50%) trong 60 ngày nếu không được điều trị. Liều phóng xạ trên 100rads làm hư hại tế bào tủy xương, tế bào trong lá lách và mô bạch huyết. Bệnh nhân thấy mệt mỏi, bị chảy máu nội mô, nhiễm trùng và nóng sốt. Liều lượng trên 1,000 rads làm hư hại tế bào ruột và bao tử, gây triệu chứng ói mửa, tiêu chảy, mất nước trong cơ thể, làm mất cân bằng chất điện phân (electrolytes), không hấp thụ được đồ ăn, lở loét bộ phận tiêu hóa. Khi liều phóng xạ tăng cao hơn nữa, trên 5,000 rads, có thể làm hư hại tế bào thần kinh, gây ra những triệu chứng như mất cân bằng thần kinh phối hợp cơ thể, đầu óc mất minh mẫn, hôn mê, kinh phong, bị shock, v…v… Một số chuyên gia cho rằng không phải do tác dụng trực tiếp phóng xạ nhưng là do những biến chứng do chảy máu bên trong cơ thể, nước và áp xuất tăng cao trong não.

Nhiễm phóng xạ kinh niên, tức là mỗi ngày liên tục bị nhiễm xạ liều lượng nhỏ và cơ thể. Bệnh phát sinh nơi làm việc bị nhiễm xạ. Nguy cơ nhiễm xạ gây ung thư phỏng đoán theo xác suất. Đơn vị phóng xạ gây nguy cơ được đặt là "rem". Kết quả ước đoán ung thư do phóng xạ dựa theo những nghiên cứu nạn nhân bị nhiểm phóng xạ còn sống sót sau khi bị bom nguyên tử ở bên Nhật hoặc sau khi dùng những phương pháp áp dụng đồng vị phóng xạ. Ung thư do nhiễm xạ cao hơn 50,000 mrem bao gồm: ung thư bạch cầu, ung thư vú, bọng đái, ruột già, gan, phổi, thực quản, buồng trứng, ung thư tủy (multiple myeloma), ung thư bao tử.

Sau vụ nổ lò nguyên tử Chernobyl năm 1986, thì có khoảng 134 nhân viên làm việc trong lò nguyên tử và các chuyên viên chữa lửa, bị nhiễm độ phóng xạ cao, từ 80,000 rem tới. 1,600,000 rems (từ 800 tới 16,000 mSv), bị bệnh nhiễm phóng xạ cấp tính. Trong số nạn nhân kể trên, 28 người đã chết trong vòng 3 tháng. Có 2 người chết trong mấy ngày đầu vì vừa bị thương tích khi chữa lửa, vì bị nhiễm xạ.

Theo tài liệu Bộ Y tế Hoa Kỳ thì có liên hệ giữa phóng xạ và ung thư nhiếp hộ tuyến, ung thư mũi, xoang mũi, ung thư cổ họng và thanh quản, và ung thư tuyến tụy tạng. Hiện giờ cũng chưa xác định được rõ ràng khi lượng phóng xạ ở mức độ thấp dưới 10,000 mrem (100mSv). Những người sống trong những môi trường có độ phóng xạ cao hơn 1,000 mrem (10mSv) mỗi năm, như ở Denver, Colorado, cũng chưa thấy liên hệ tới ung thư. 

Nhiễm phóng xạ ảnh hưởng di truyền, có thể từ đơì này qua đơì khác. Phóng xạ tác dụng vào tế bào sinh sản. Tuy nhiên nguy cơ di truyền nhiễm phóng xạ tương đối nhẹ. Chưa có dữ kiện rõ ràng tác dụng phóng xạ vào di truyền đối vơí con cái nạn nhân bị bom nguyên tử ở Hiroshima và Nasagaki bên Nhật.

Ngoài ra phải kể tác dụng phóng xạ vào phôi thai trước khi sinh, như bào thai phát triển chậm, đầu nhỏ, não nhỏ, tâm thần chậm phát triển, trẻ bị ung thư.

Tham Khảo: 1)   http://www.jlab.org/div_dept/train/rad_guide/effects.html; 2)  International Series of Monographs on Pure and Applied Biology, Modern trends in Physiological Sciences (second edition); 3)   U.S. NCR, http://www.nrc.gov/reading-rm/doc-collections/fact-sheets/bio-effects-radiation.html 

Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D.; E-mail: nmtran@hotmail.com; Xin mời quý độc giả ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.