Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chính Trị Và Kinh Tế

21/10/200700:00:00(Xem: 6220)

- Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma; chuyển ngữ: HT. Thích Trí Chơn, trích từ cuốn sách “Ethics for the New Millenium”

Tất cả chúng ta đều mong ước sống trong một thế giới an lạc và hạnh phúc hơn. Nhưng nếu chúng ta muốn biến nó trở thành hiện thực, chúng ta phải bảo đảm rằng lòng từ bi là nền tảng của mọi hành động. Điều này lại đặc biệt đúng đối với các đường lối chủ trương về chính trị và kinh tế.

Chúng ta biết hơn nửa thế giới hiện nay đang thiếu thốn về các nhu cầu căn bản như thức ăn, nhà ở, thuốc men và giáo dục. Tôi tưởng nghĩ chúng ta nên đặt câu hỏi, phải chăng chúng ta đang theo đuổi một chiều hướng sáng suốt nhất đối với các vấn đề này"

Tôi tin rằng không. Nếu năm mươi năm qua, chúng ta có thể hoàn toàn diệt trừ hết nạn nghèo đói thì sự phân chia không quân bình các tài sản hiện nay của chúng ta may ra còn có thể bào chữa. Nhưng trái lại, nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, điều chắc chắn là người nghèo lại càng nghèo hơn. Chỉ riêng ý thức căn bản của chúng ta về sự công bằng và hợp lý đã đề nghị rằng chúng ta không nên bằng lòng để cho sự việc trên tiếp tục xảy ra.

Dĩ nhiên, tôi không biết nhiều về kinh tế. Nhưng tôi thấy khó tránh để kết luận rằng tài sản của người giàu được bảo vệ qua sự bỏ mặc không quan tâm đến những kẻ nghèo khổ, đặc biệt do phương tiện của các món nợ quốc tế.

Nói lên điều này tôi không có ý bảo rằng các quốc gia nghèo kém mở mang khỏi cần phải chia xẻ trách nhiệm đối với các vấn đề khó khăn của họ. Cũng chẳng phải chúng ta nên qui trách tất cả mọi điều xấu xa về chính trị cũng như kinh tế cho các chính trị gia và nhân viên công quyền.

Tôi không phủ nhận ngay cả trong thế giới có nền dân chủ vững mạnh nhất cũng vẫn thường thấy xuất hiện các nhà chính trị đưa ra những lời hứa hẹn không thực tế và ồn ào phô trương về nhiều việc họ sẽ làm sau khi đắc cử. Nhưng các người ấy không phải từ trên trời rớt xuống.

Do vậy, nếu các nhà chính trị ở một quốc gia nào đó tham nhủng, chúng ta thường lên án rằng xã hội ấy thiếu đạo đức và những cá nhân tạo thành dân tộc đó sống không có luân lý. Trong các trường hợp này, thực sự không mấy công bằng khi chỉ có những cử tri chỉ trích các chính trị gia.

Mặt khác, khi người ta có những giá trị cao quý và khi họ thực hành giới luật đạo đức trong đời sống biết quan tâm giúp đỡ mọi người thì các công chức sinh ra từ xã hội đó đương nhiên cũng biết tôn trọng cùng thứ giá trị ấy. Cho nên, mỗi người chúng ta đều giữ vai trò trong việc xây dựng một xã hội đặt trên nền tảng của tình thương, dành ưu tiên cho sự quý trọng và lo nghĩ đến người khác.

Trên phương diện áp dụng cho chính sách kinh tế, cùng ý tưởng đó cần được thực hiện trong sinh hoạt của mỗi người. Một ý thức về trách nhiệm toàn cầu rất quan trọng. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng rất khó đề nghị những ý kiến thực tiễn cho sự áp dụng các giá trị tinh thần trong lãnh vực thương mại. Bởi lẽ sự cạnh tranh đóng vai trò chủ yếu. Vì lý do đó, liên hệ giữa thiện ý và lợi tức rất mỏng manh.

Nhưng tôi chẳng hiểu tại sao không thể tạo một sự cạnh tranh xây dựng. Yếu tố căn bản là động cơ của những người tham dự. Khi chủ ý là lợi dụng hoặc tiêu diệt kẻ khác, hẳn nhiên hậu quả sẽ không thể nào tích cực. Nhưng khi sự cạnh tranh được hướng dẫn với một tinh thần nhân đạo và thiện chí thì kết quả, mặc dù gây nên sự khổ đau cho người thua lỗ, nhưng ít ra cũng không đến nỗi quá tàn hại.

Hơn nữa điều có thể phản đối là trong thực trạng thương mại, chúng ta không thể nào hy vọng các thương vụ đặt con người vượt lên trên lợi tức. Nhưng ở đây, chúng ta nên nhớ rằng những kẻ điều hành ngành kinh doanh và các thương vụ trên thế giới cũng vẫn là con người. Ngay các phần tử cứng rắn nhất, chắc hẳn đều phải nhận thấy rằng đi tìm lợi tức mà không nghĩ đến hậu quả tai hại là sai lầm. Nếu điều ấy đúng thì buôn bán ma tuý cũng chẳng sai.

Cho nên một lần nữa, điều cần thiết đòi hỏi ở đây là mỗi người chúng ta nên tự phát triển tâm từ bi của mình. Chúng ta càng gia tăng được điều đó thì công việc doanh thương càng phản ảnh được các giá trị đạo đức căn bản của con người.

Trái lại, nếu chúng ta không quan tâm đến các giá trị ấy thì thương mại chắc chắn cũng sẽ không chú ý tới chúng. Đây không phải là vấn đề lý tưởng. Lịch sử chứng minh cho thấy trong xã hội con người có nhiều phát triển tích cực diễn ra do kết quả của lòng từ bi. Chẳng hạn sự huỷ diệt thương vụ buôn bán người nô lệ.

Nếu nhìn vào sự tiến hoá của xã hội loài người chúng ta thấy cần thiết phải có viễn ảnh nhằm mang lại các thay đổi tích cực. Lý tưởng là động cơ thúc đẩy cho sự tiến bộ. Không biết điều này và chỉ bảo rằng chúng ta cần phải “thực tiễn” trong chính trị là một sai lầm nghiêm trọng.

Các vấn đề của chúng ta trong việc phân phối kinh tế thiếu quân bình đã tạo nên một thử thách lớn lao cho toàn thể gia đình nhân loại. Tuy nhiên, khi chúng ta bước vào thiên niên kỷ mới, tôi tin rằng có nhiều lý do để lạc quan. Trong những năm đầu và giữa thế kỷ 20, có một nhận thức tổng quát rằng quyền lực chính trị và kinh tế là hậu quả chứ không phải sự thật. Nhưng tôi nghĩ ý tưởng đó nay đã thay đổi.

Ngay cả các quốc gia giàu có và hùng mạnh nhất đã nhận biết rằng không thế bỏ quên những giá trị căn bản về nhân sinh. Ý niệm về đạo đức dành cho bang giao quốc tế ngày càng được xây dựng vững chắc. Đó là chưa kể đến những điều đã được diễn tả biến thành các hành động ý nghĩa, ít ra là những danh từ như “sự hoà hợp”, “bất bạo động” và “sự cảm thông” đã trở thành các từ ngữ của nhiều chính trị gia ngày nay. Đó là một sự phát triển hữu ích.

Theo kinh nghiệm cá nhân trong những chuyến công du ngoại quốc đã ghi nhận, tôi được yêu cầu thuyết giảng về hoà bình và từ bi trước cử toạ đoàn, thường vượt quá số ngàn. Tôi không tin khoảng bốn mươi hay năm mươi năm về trước, các đề tài đó được lôi cuốn hấp dẫn số đông người như thế. Những  tiến triển trên đây chứng tỏ tập thể loài người chúng ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các giá trị căn bản như sự công bằng và chân lý.

Tôi cũng rất an tâm trước sự kiện là, nền kinh tế thế giới càng phát triển, sự tuỳ thuộc vào nhau càng rõ ràng. Kết quả, mỗi quốc gia này, không nhiều thì ít đều phải liên hệ đến một quốc gia khác. Nền kinh tế tân tiến, như là môi sinh không có biên giới. Ngay cả những quốc gia thù nghịch với nhau cũng phải hợp tác trong việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên của thế giới.

Lấy ví dụ thông thường họ phải tuỳ thuộc chung vào một con sông. Và sự liên hệ kinh tế của chúng ta càng nương nhờ vào nhau thì tương quan chính trị càng phải hợp tác với nhau. Do vậy, chúng ta đã chứng kiến, chẳng hạn sự lớn mạnh của Liên Hiệp Châu Âu, khởi đầu chỉ từ vài khách hàng trao đổi mậu dịch nho nhỏ dẫn đến sự kết hợp của các quốc gia thành một liên bang với số thành viên hiện nay đã tăng gấp đôi.

Chúng ta cũng nhận thấy hình thức tương tự, mặc dù kém phát triển, sự hợp tác trên thế giới của ba tổ chức: Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á  (ASEANS), Tổ Chức Phi Châu Hợp Nhất (OAU) và Tổ Chức các Quốc Gia Xuất Cảng Dầu Hoả (OPEC). Mỗi tổ chức chứng minh một động lực nhân sinh về sự hợp tác vì lợi ích chung và phản ảnh sự liên tục tiến hoá không ngừng của xã hội con người.

Khởi đầu từ các bộ lạc nho nhỏ đã phát triển hình thành các đô thị tiểu quốc rồi đến quốc gia và hiện nay là các đồng minh bao gồm nhiều trăm triệu người, tiếp tục lớn mạnh vượt trên mọi lằn ranh phân chia địa dư, văn hoá và chủng tộc. Đây là chiều hướng tôi tin rằng sẽ và phải tiếp tục.

Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng, song song với sự tăng trưởng của các liên minh chính trị và kinh tế, rõ ràng còn có sự tập hợp lớn lao hơn vượt các đường ranh phân chia giữa chủng tộc, ngôn ngử, tôn giáo và văn hoá - lại thường có bạo động tiếp diễn theo việc huỷ bỏ sự liên kết vào thể chế quốc gia.

Chúng ta nên làm gì trước sự kiện có vẻ mâu thuẫn đó - một bên là khuynh hướng hợp tác vượt quốc gia, còn phía kia là sự thúc đẩy của địa phương hoá" Thực ra, không cần thiết có sự chống đối giữa hai mặt. Chúng ta có thể hình dung nhìn thấy các cộng đồng địa phương hợp tác trong chính sách mậu dịch, xã hội và kế hoạch an ninh chung; nhưng vẫn duy trì được sự đa dạng độc lập về nhân chủng, văn hoá, tôn giáo và các thứ khác.

Có thể thiết lập một hệ thống luật pháp, bảo vệ nhân quyền căn bản trong các cộng đồng lớn hơn mà vẫn để cho các cộng đồng nhỏ có quyền tự do theo đuổi đường lối sinh hoạt riêng của họ. Đồng thời, điều quan trọng trong việc xây dựng các loại hợp tác đó là sự tự nguyện và đặt nền tảng trên nhận thức về quyền lợi của các phần tử đều được phục vụ tốt đẹp hơn qua sự hợp tác. Họ không bị áp đặt.

Thực vậy, sự thử thách của thiên niên kỷ mới chắc chắn là sự đi tìm phương cách nhằm đạt đến sự hợp tác quốc tế - hay tốt hơn nữa, cộng đồng toàn thế giới - trong đó sự đa dạng của loài người được công nhận và quyền lợi của tất cả được tôn trọng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà báo Bùi Tín nhận xét: “Có rất ít thông tin chính xác về nội dung thật sự của cuộc gặp này được tiết lộ, nhưng ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Bắc Kinh đến phó hội đối với tương lai của đất nước ta đã không che mắt được ai. Đến nỗi ngoại trưởng Việt Nam lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cơ Thạch, người bị gạt ra ngoài rìa của cuộc họp lịch sử này, đã phải than thở: ‘Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!”
Năm nay, lễ Tạ Ơn diễn ra vào thứ năm ngày 25/11/ 2021. Mỗi lần đến lễ Tạ Ơn, tôi muốn tạ ơn Thượng Đế đã ban cho tôi cuộc sống no đủ, an lành và cảm ơn tất cả những người thân quen luôn yêu thương và giúp đỡ tôi trong cuộc sống. Mỗi người trong chúng ta nợ nhiều người, ngoài nợ ông bà cha mẹ đã sinh ra, nuôi cho lớn khôn, thương yêu đùm bọc cho đến khi cha mẹ qua đời.
Nói tóm lại, giá dầu xăng tăng gần đây là một cơ hội để chúng ta ôn lại bài học kinh tế căn bản về luật cung cầu. Giá xăng dầu tăng vì cung chưa bắt kịp cầu. Hệ thống vận chuyển hàng hóa trên thế giới sẽ được cải thiện nhiều hơn trong thời gian tới. OPEC đã bắt đầu tăng mức sản xuất dầu. Những công ty dầu ở Mỹ cũng sẽ tăng sản xuất dầu nội địa.
Tiêu cực đẻ ra tham nhũng và tự diễn biến, tự chuyển hóa, nhưng cha mẹ của tiêu cực lại sinh ra từ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của cán bộ đảng viên. Đó là “lời phán” của 4 đời Tổng bí thư đảng CSVN, gồm Đỗ Mười (1997-2001), Lê Khả Phiêu (tháng 12/1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001-2011) và Nguyễn Phú Trọng (từ 2011 đến nay). Nhưng đến năm 2021, sau 27 năm xây dựng và chỉnh đốn (từ khóa đảng VII năm 1994) mà 4 nguy cơ vẫn còn là mối đe dọa sống còn của chế độ và vị trí lãnh đạo của đảng là tại sao ?
Chơi tới bến như Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Hà Giang (Nguyễn Trường Tô) mà vẫn hạ cánh an toàn thì chỉ ăn (có mỗi một miếng thịt bò) thôi nào phải là chuyện lớn. Hồi năm 2018, chú Lâm còn làm một vụ dại dột hơn nhiều (khiến cả Âu Châu sửng sốt, sau khi bắt cóc Trịnh Xuân Thanh) mà cũng có sao đâu.
Theo cam kết trong Chương 13 về Thương mại và Phát triển Bền vững (TSD) của Hiệp định Thương mại Tự do (EV-FTA) giữa Liên minh Âu châu (EU) và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cả hai bên, EU và Việt Nam, phải thành lập “Các nhóm Tư vấn Nội địa” (DAGs) gồm những tổ chức phi chính phủ NGO, đại diện người lao động, hiệp hội thương mại, v.v., để có thể quan sát, nêu lên và thảo luận các vấn đề liên quan đến các chính sách xã hội và môi trường với Ủy ban Liên minh Âu châu và VN.
Trong chế độ Cộng sản Việt Nam, có 2 thành phần trí thức: Trí thức sáng suốt và trí thức u mê. Đội ngũ trí thức sáng suốt khan hiếm, biết chọn cái đúng và việc cần làm. Nhưng thành phần trí thức u mê thì đông, là công bộc, sống chết với đảng; đảng bảo đâu đánh đó, nhiều khi không cần tiêu chuẩn luân thường đạo lý. Ngược lại, trí thức có bản lĩnh, có lập trường rành mạch thì biết đặt quyền lợi chung trên lợi ích cá nhân và biết chọn cái đúng đánh chết cái sai, không sợ bị trù dập.
Trung Quốc chào mừng cuộc đối thoại thực sự giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden như một dấu hiệu hy vọng cho mối liên hệ tốt đẹp hơn trong tương lai, trong khi đó Hoa Kỳ thì khá im lặng giữa lúc hai vị lãnh đạo của hai siêu cường tìm cách giảm bớt căng thẳng kéo dài đã hơn một năm.
Sau hơn một năm không đi chơi xa, vì dịch Covid-19, nên khi các tiểu bang gỡ bỏ giới hạn chúng tôi rủ nhau du lịch nội địa. Nhiều người thân quen đi chơi Hawaii hay Cancún bên Mexico, chúng tôi chọn Miami, Florida. Cả tháng trước đã mua vé máy bay, đặt chỗ ở và thuê xe. Đến giữa tháng Tám có thông tin Covid biến chủng Delta đang lây lan nhanh. Đã có thuốc tiêm chủng nên số người nhập viện và chết không cao như hồi đầu năm, trên 90% tử vong là những người đã không chích ngừa.
“Bạn từ đâu đến” ? (“Where do you come from” ?) là câu hỏi mà tôi vẫn thường nghe trong những tháng ngày lưu lạc. Dù tha hương gần cả cuộc đời, tôi luôn luôn đáp rằng mình từ nước Việt: I’m from Vietnam! Nếu trả lời khác đi và đúng với thực trạng (I’m from California) thì rất có thể tôi sẽ nhận được ánh mắt, cùng với nụ cười thân thiện hơn của tha nhân. Tuy biết vậy nhưng tôi không muốn chối bỏ quê hương, dù không hãnh diện gì (lắm) về cái đất nước khốn cùng mà mình đã đành đoạn bỏ đi từ khi tóc hãy còn xanh.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.