Hôm nay,  

Hội thảo chủ đề “1975: Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam” tại Đại học Texas Tech

4/17/202516:46:00(View: 4842)
BuiVanPhu_2025_0416_TTUConference_H01_JoeOscarUyen
Thảo luận về trải nghiệm của những người lính trong chiến tranh. Joe P. Dunn, bên trái, Oscar Coles và Uyên Nguyễn (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Tuần qua, tôi đi Lubbock tham dự một hội nghị dịp kỷ niệm ngày 30/4. Khi máy bay gần đến Denver, nhìn qua cửa sổ tôi thấy một mầu tuyết trắng.

 

Tuyết tháng Tư làm tôi nhớ trong sách sử về chiến tranh Việt Nam có ghi lại sự kiện là vào sáng ngày 29/4/1975 trên sóng phát thanh FM ở Sài Gòn phát đi một bài nhạc Mỹ: “I’m dreaming of a white Christmas…” (Tôi đang mơ một Giáng Sinh tuyết trắng) mà tôi có biết gì đâu và chỉ nhớ ngày hôm sau, đang lênh đênh trên biển thì nghe tiếng rè rè trên đài Sài Gòn là lệnh đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh, rồi lời ca quen thuộc: “Rừng núi giang tay nối lại biển xa…” và bỗng dưng nước mắt tuôn trào.

 

Cuối tháng Tư Sài Gòn nóng đổ lửa, phượng bừng nở báo tin mùa hè sắp đến, nhưng ca khúc về mùa đông được đài FM phát đi phát lại là hiệu lệnh cho tất cả người Mỹ biết cuộc di tản khỏi Việt Nam đã bắt đầu.

 

Trưa ngày hôm sau, trên đài Sài Gòn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đưa ra kêu gọi mọi người ở lại góp tay xây dựng trong hoà bình. Ông cất tiếng ca mộc mạc, không đàn trống: “Mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng, trời rộng bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…”

 

Miền Nam đã được giải phóng. Chiến tranh đã chấm đứt. Quê hương đã thống nhất. Nhân dân đã đánh đuổi được giặc Mỹ xâm lược.

 

Rồi chuyện gì đã xảy ra sau ngày 30-4 năm đó, ở Việt Nam và ở hải ngoại? Đó là chủ đề của hội thảo 1975: The End of the Vietnam War (1975: Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam), tổ chức tại Đại học Texas Tech từ ngày 10 đến 13-4 vừa qua.

 

Dù cuộc chiến đã chấm dứt tại mốc thời gian 30/4/1975, sau nửa thế kỷ hai tiếng “Việt Nam” vẫn còn được nhiều người từ hai bên bờ Thái Bình Dương tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu. Họ là những học giả, sinh viên; những cựu chiến binh, nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ; những người làm từ thiện, hoạt động cộng đồng đã trình bày công trình học thuật hay chia sẻ kinh nghiệm trong 30 buổi thảo luận.

 

Về trải nghiệm của những người lính Mỹ ở Củ Chi là bài của Paloma Guerra, về tù binh Mỹ là bài của Brian Washam. Oscar Coles nói về những gì bộ đội mang theo khi vào nam chiến đấu, trong đó có báo Trường Sơn. Uyên Nguyễn nói về lực lượng Địa Phương Quân của Việt Nam Cộng hoà.

 

George “Jay” Veith nhìn lại chiến dịch quân sự của Hà Nội trong tháng Ba và tháng Tư trước khi bộ đội cộng sản tiến vào Sài Gòn. John F. Burn nói về chiến dịch Operation Frequent Wind (Chiến dịch gió lốc) di tản người Mỹ và người Việt ra khỏi Việt Nam.

 

Trong khi Chương Đỗ và Chu Đỗ kể lại kinh nghiệm trong hành trình rời Việt Nam vào cuối tháng 4-1975. Miguel Lechuga nói về thành công và thất bại trong việc di tản trẻ em trong chiến dịch Operation Babylift (Chiến dịch di tản trẻ em).

 

Sau di tản tháng 4-75 và vài tháng qua các trại tị nạn, 120 nghìn người Việt đã được Hoa Kỳ nhận cho định cư và cộng đồng người Việt tại Mỹ hình thành từ đó.

 

Tại hội thảo có Hải Cao, Steve Potts và Nghĩa M. Võ nói về những nỗ lực vươn lên của người tị nạn trên đất mới, từ California qua Georgia, Minnesota.

 


Amanda C. Demmer, tác giả của After Saigon’s Fall: A 50-Year Retrospective (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: nhìn lại 50 năm), ghi nhận những khó khăn và thành quả trong quan hệ Mỹ-Việt, từ POW-MIAs đến tù cải tạo Việt Nam Cộng Hoà, H.O., con lai; từ nhân quyền đến thuyền nhân vượt biển, xử lí chất độc da cam.

 

Andrew Wells-Dang, chuyên gia cao cấp về Đông Nam Á, làm việc cho United States Institute for Peace (Viện Hoa Kỳ vì Hoà bình) vừa bị chính quyền Donald Trump dẹp bỏ, nói đến quyền lợi quốc gia của hai nước trong việc xây dựng quan hệ là dựa trên lòng tin và sự tôn trọng thể chế của nhau. Ông nói đến những trợ giúp mà Hoa Kỳ dành cho Việt Nam qua các dự án được tài trợ bởi USAID, nay bị cắt cùng với các chương trình Việt ngữ của đài VOA, RFA sẽ làm Hoa Kỳ mất ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á.

 

BuiVanPhu_2025_0416_TTUConference_H03_AlexThai
Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ nói về các chính sách cai trị của cộng sản tại miền Nam sau tháng 4-1975
(Ảnh: Bùi Văn Phú)



Việt Nam hậu chiến tranh là những chính sách cai trị đầy bạo lực do Alex-Thái Đình Võ, Đại học Texas Tech, trình bày. Bài về lịch sử của Điều 4 Hiến Pháp là của Alec Holcome, Đại học Ohio. Cody J. Billock nói về Huế những tháng ngày sau khi được giải phóng, trong đó đề cập đến những người con của Huế như Nhã Ca, Trịnh Công Sơn, Phan Nhật Nam, Giám mục Nguyễn Kim Điền, linh mục Nguyễn Văn Lý, người bị giam tù, người không còn được tự do sáng tác.

 

Tường Vũ, Đại học Oregon, nói về chính sách đàn áp sắt máu của Hà Nội qua vụ án Vinh Sơn, vụ án dòng Đồng Công. Tuấn Hoàng, Đại học Pepperdine, bàn về sinh hoạt và phát triển của giáo hội công giáo. Trinh Lưu nghiên cứu về các chính sách tiêu diệt văn hoá miền Nam sau 1975.

 

Hệ luỵ của chiến tranh có bài nói chuyện của Diane Fox về chất mầu da cam, bài của Michael Peavey Đỗ nhắc đến vết thương không lành của những ai từng bị bắt đi học tập cải tạo.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hoà ngày trước, nay là Nghĩa trang Nhân dân Bình An, được ba sinh viên tuổi đôi mươi tìm hiểu, hai từ trong nước và một tại Hoa Kỳ, là Trần Nguyễn Phương Thảo, Tạ Bảo Long từ Đại học Fulbright Vietnam và Tiana Dương từ Đại học Dartmouth. Theo các em, việc ra vào nghĩa trang còn giới hạn và khi gặp người đi thăm, hỏi chuyện thì hầu hết không muốn trả lời vì sợ bị phiền phức. Chỉ có một cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, tuổi đã 80 đang làm công việc chăm sóc các ngôi mộ trong nhiều năm qua là đồng ý cho các em phỏng vấn, quay phim.

 

Về cộng đồng người Mỹ gốc Việt, sự định hình đặc tính bảo thủ và chống cộng sản được nghiên cứu bởi Ý Nguyễn từ Đại học California, Dominguez Hills; Erica Allen-Kim, Đại học Toronto, nói về sự hình thành của những khu Little Saigon.

 

Sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật trước và sau 1975 cũng là đề tài của nhiều bài nói chuyện. Jason Nguyễn, Đại học Cerritos, so sánh âm nhạc miền nam trước và sau năm 1975; Phú Vũ từ trường St. Peter Claver phân tích nhạc miền bắc và miền nam, Nữ-Anh Trần, Đại học Connecticut, bàn về văn học hậu chiến.

 

Trong hội thảo về nhân quyền, tác giả bài viết này đã nói về những tù nhân lương tâm trong 50 năm qua, từ Nhã Ca, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Đan Quế, Đoàn Thanh Liêm, Đoàn Viết Hoạt đến Lê Quốc Quân, Phạm Đoan Trang, Huy Đức, Nguyễn Sơn Lộ và những nỗ lực của người Việt hải ngoại để cải tiến tình hình nhân quyền ở đó. Huỳnh Lương Thiện, chủ nhiệm tuần báo Mõ-SF, trình bày việc dùng truyền thông báo chí để dân chúng Mỹ biết về những vi phạm nhân quyền của Hà Nội. Nguyễn Minh Huy là ca nhạc sĩ đấu tranh, cùng Lê Diễm Chi Huệ và Phong trào Hưng Ca đã đem tiếng hát đến nhiều nơi vận động cho nhân quyền tại quê nhà. Hôm nay chúng tôi đồng ca vài bài nhạc đấu tranh, trong đó có Em vẫn mơ một ngày về của Nguyệt Ánh.

 

Hình 6
Cody J. Billock nói về Huế những tháng ngày sau khi được giải phóng (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Nhiều người trẻ thuộc thế hệ 1.5 và thế hệ thứ 2 đã đến với hội nghị vì quan tâm đến Việt Nam, muốn hiểu hơn về cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Họ đã hoặc đang theo học khoa lịch sử, xã hội, nhân văn có liên quan đến đất nước, con người Việt Nam như Nguyễn Hồng Uyên, Trinh Lưu, Tiana Dương, Nguyễn Hoàng Thuỵ Kha, Christina Võ, Evyn Espiritu-Gandhi, Nguyễn Thị Kim Hoa, Tạ Bảo Long, Trần Nguyễn Phương Thảo, Mã Y Vân.

 

Đặc biệt tôi đã thấy có cả bố và con cùng đi tham dự hội thảo. Chương Đỗ và Chu Đỗ chia sẻ trải nghiệm về hành trình thoát khỏi Việt Nam vào tháng 4-1975. Nghĩa M. Võ và Christina Võ có những khác biệt trong cách nhìn về quê hương Việt Nam, cha bỏ đi vào tháng 4-1975 trong ngậm ngùi, đã viết nhiều sách về thuyền nhân, về trại học tập cải tạo, trong khi cô con gái đến Việt Nam thì tìm thấy cội nguồn, không như hình ảnh quê hương trong tâm trí của người cha, như Christina đã viết trong tác phẩm My Vietnam, Your Vietnam mà hai bố con là đồng tác giả, được Kalynh Ngô dịch ra tiếng Việt là Việt Nam của con, Việt Nam của cha.

BuiVanPhu_2025_0416_TTUConference_H05_Vos
Nghĩa M. Võ và Christina Võ, cha và con cùng tham dự hội thảo (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Sôi sục trong lòng một số người Việt tham dự hội thảo, nhưng giữ yên lặng, là lúc Lệ Lý Hayslip nói chuyện trong bữa ăn tối thứ Sáu 12/4. Tác giả của When Heaven and Earth Changed Places (Khi đất trời đổi ngôi), đã được Oliver Stone chuyển thành phim, kể chuyện về đời mình, gốc Quảng Nam, gia đình theo cộng sản và bà đã bị hãm hiếp, có con rơi, qua Mỹ từ năm 1970. Bà kể là bị người Việt ở Dallas chống đối vì cho rằng bà ủng hộ chế độ cộng sản. Khoảng 20 người Việt lặng lẽ rời phòng ăn để phản đối. Bài nói chuyện, chính ra là hỏi đáp, tâm tình cùng Nguyễn Hồng Uyên, nhưng mới câu hỏi đầu bà đã nói liên tục hơn 20 phút. Bà khóc cho số phận của mình, khiến cho cô Uyên cũng bật khóc theo.

 

Người Việt phản đối vì Lệ Lý nói về yêu thương, tha thứ, hoà giải mà không hề nhắc đến thuyền nhân, trong đó có nhiều người cũng bị hãm hiếp; không hề nhắc đến bao người đã bị giam trong các trại học tập cải tạo. Như Hà Nội cũng chưa bao giờ nhắc đến những thảm cảnh này.

 

Nước mắt cũng đã rơi trong hội thảo khi nhà văn Andrew Lâm nói về thân phụ, Trung tướng Lâm Quang Thi, mà lúc ông mất thì Andrew bị kẹt ở Việt Nam vì Covid-19. Tướng Thi viết hai tác phẩm Twenty-Five-Year Century (Một thế kỷ 25 năm) và Hell in An Lộc (Địa ngục An Lộc) là để hoá giải dư luận xấu mà truyền thông Mỹ đã viết về Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Andrew kể rằng khi nhận tin Hell in An Lộc được nhà xuất bản cho phát hành, cha ông đã bật khóc, vì xem như những gì ông muốn để lại cho các cháu của ông và cho thế hệ mai sau, ông đã hoàn tất.

 

Trong cùng buổi thảo luận với Andrew Lâm, có hai diễn giả cũng nói về người thân của họ là các tướng, tá của Việt Nam Cộng Hoà. Evyn Espiritu-Gandhi, Đại học UCLA, nói về Ông Hai, tức Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã bị cộng sản xử bắn vì không chịu đầu hàng.

 

Nhà văn Zora Mai Quỳnh nói về bác của cô là Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan mà bức hình do Eddie Adams chụp năm 1968 khi ông xử bắn tại chỗ một tên Việt Cộng đã gây chấn động thế giới, mà mấy ai biết được chỉ ít phút trước đó tên du kích này đã giết cả một gia đình 7 người. Đó là những thiên lệch của truyền thông Mỹ. Zora nói ở Việt Nam, không lâu trước đây, khi một cụ già trên 80 tuổi, bị công an tấn công vào nhà, bắn chết bằng loạt đạn, mà có báo đài nào đưa tin.

 

Nhìn lại cuộc chiến và hệ luỵ của nó, câu hỏi đã được Tường Vũ, Đại học Oregon, đặt ra trong một buổi thảo luận là “Ai đã giải phóng ai?” Đó cũng là một luận đề sẽ còn tiếp tục được bàn luận trong tương lai.

 

Về những thay đổi lãnh đạo gần đây ở Ba Đình, Stephen Young, tác giả của Kissinger’s Betrayal (Sự phản bội của Kissinger), trong một buổi thảo luận có góp ý, nói đến bài viết cách đây vài ngày của Tổng Bí thư Tô Lâm, trong đó không nhắc gì đến chủ nghĩa Mác-Lênin hay chủ nghĩa xã hội. Sự kiện này cho ông lạc quan về những thay đổi sắp có từ Hà Nội.

 

Phản biện lại, George “Jay” Veith, cũng là một học giả về Việt Nam với những tác phẩm như Black April: The Fall of South Vietnam (Tháng Tư đen: Sự sụp đổ của Nam Việt Nam) và Peace, POWs and Power (Hoà bình, Tù binh và Quyền lực), đã gặp Tô Lâm nhiều lần nhưng không tin ông tổng bí thư sẽ đem lại những cải cách, vì là gốc công an, chỉ khéo che đậy sự độc tài.

 

Từ khi có Vietnam Center, do cựu sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ James Reckner (1940-2018) sáng lập tại Đại học Texas Tech cách đây hơn 30 năm, mỗi năm ở đây đều có tổ chức hội thảo về Việt Nam. Những hội thảo đầu tiên thường chú trọng đến quân sử Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà. Sau khi thiết lập bang giao Mỹ-Việt năm 1995 thì bắt đầu có những cấp chỉ huy Quân đội Nhân dân và những nhà nghiên cứu từ Việt Nam tham gia hội thảo.

 

Cùng lúc có nhiều người tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành liên quan đến Việt Nam, đến người Việt tị nạn. Trong vòng 20 năm qua đã có nhiều nghiên cứu hơn về Việt Nam Cộng hoà, về người Việt ở Mỹ cũng như nhiều nơi trên thế giới.

 

BuiVanPhu_2025_0416_TTUConference_H04_VNArchive
H04: Bà Sheon Montgomery và giáo sư Alex-Thái Đình Võ hướng dẫn khách thăm Vietnam Archive (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Vietnam Center tại Đại học Texas Tech là nơi có Vietnam Archive lưu trữ hơn 30 triệu trang tài liệu và cả vạn di vật liên quan đến cuộc chiến và người Việt, trong đó có nhiều tài liệu mà học giả Douglas Pike (1924-2002) tác giả của tác phẩm Việt Cộng đã thu thập được. Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm là một trong những di vật được tìm ra ở đây.

 

Nơi đây cũng lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến chương trình H.O. do bà Khúc Minh Thơ hiến tặng.

 

Dự hội thảo năm nay, nhiều người đã được bà Sheon Montgomery, phụ trách tham khảo của văn khố, và giáo sư Alex-Thái Đình Võ hướng dẫn đi thăm Vietnam Archive để thấy nơi đây có nguồn tài liệu phong phú cho các nghiên cứu. Đi qua những kệ sách, tủ tài liệu, báo chí, kệ di vật thấy có Công báo Việt Nam Cộng Hoà, báo Thái Bình, báo Kháng Chiến, nón bộ đội, nón lá, cờ Việt Nam Cộng hoà, có hình Hồ Chí Minh.

 

Tôi thấy tấm bích chương quảng cáo cho triển lãm về chiến tranh Việt Nam tại Bảo tàng Oakland năm 2005 mà tôi đã cùng người Việt vùng Vịnh San Francisco phản đối ban tổ chức vì triển lãm về chiến tranh Việt Nam mà không có nhắc đến hệ luỵ của nó, là người Việt tị nạn tại Mỹ. Cuối cùng thì hình ảnh, di vật của người tù cải tạo, của người vượt biển, những sinh hoạt chống cộng sản của người Việt đã được đem vào cuộc triển lãm. 

Bà Sheon nhắc nhở chúng tôi cần lưu giữ những di sản của gia đình vì bản gốc luôn có giá trị cho văn khố. Vì di vật chính là câu chuyện riêng của một người, của một gia đình. Không nhất thiết phải là người có địa vị hay chức quyền.

BuiVanPhu_2025_0416_TTUConference_H07_NuAnhTran_NhaCa_PhuongOiDungDoNua

Nữ-Anh Trần trình bày về văn học hậu chiến

(Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Kết thúc hội thảo, giáo sư Stephen Maxner, giám đốc Vietnam Center, cám ơn 70 diễn giả đã đóng góp tham luận và hơn một trăm khách đã tham dự để chương trình phong phú và thành công. Ông loan báo, vào tháng 6 sang năm hội thảo sẽ được tổ chức tại Việt Nam.

 

Việc này dễ hay khó, vì trong một buổi thảo luận trước đó đã có người nêu vấn đề là tại Việt Nam thì người tham dự có được tự do trình bày nghiên cứu, tranh luận, đặt câu hỏi như trong môi trường đại học ở Mỹ hay không.

 

Hy vọng đến khi đó Việt Nam sẽ có tự do học thuật. Mấy tuần trước, một thành viên Bộ Chính trị đã gặp gỡ một số trí thức tại Sài Gòn để nói chuyện, trong đó có chủ đề tự trị đại học. Liệu đó có phải là chỉ dấu của thay đổi?

Bùi Văn Phú

 

*       Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và là nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco

 

 

 

 

 

 

 

Reader's Comment
4/18/202513:02:31
Guest
Tác giả tóm tắt tuy ngắn gọn nhưng rất rõ ràng.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Triển lãm và hội thảo kết thúc vào chiều ngày Chủ Nhật 23/11/2025, nhưng dư âm của nó chỉ mới bắt đầu. Khắp nơi trên mạng xã hội, những bài tường thuật, những mẩu đối thoại được mở ra.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Nhạc sĩ Văn Cao hoàn thành ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên theo đơn đặt hàng của báo Sài Gòn Giải Phóng. Ca khúc được đăng lần đầu trên số báo Xuân của tờ Sài Gòn Giải Phóng dịp Tết Bính Thìn, năm 1976. Thực tế, ý tưởng cho nhạc phẩm này vốn dĩ đã được ông ấp ủ từ năm 1973 – thời điểm sau khi các bên gồm Hoa Kỳ, Bắc Việt, Việt Cộng và Việt Nam Cộng hòa đã ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27 Tháng Một năm 1973. Hiệp định này kêu gọi việc ngừng bắn giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, đánh dấu bằng việc quân đội Hoa Kỳ rút về nước
Nửa thế kỷ trước, nước Mỹ đã không tôn trọng lời cam kết giúp VNCH chiến đấu tới cùng trước làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Thế Giới. Nhiều người, cả Việt lẫn Mỹ, cũng như dư luận thế giới, đã gọi đây là một sự phản bội đáng xấu hổ. Nhưng có học giả Mỹ đã khẳng định: “Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm”.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Mỗi ngày, tôi đều nhắc mình rằng: Chúng ta phải giữ gìn câu chuyện này, phải kể lại trung thực, để không ai – kể cả chế độ cộng sản – có thể viết lại lịch sử của chúng ta. Tôi mong các đồng nghiệp trong Quốc Hội hãy cùng tôi không chỉ tưởng nhớ những nỗi đau mà chúng tôi đã trải qua, mà còn tôn vinh tinh thần bất khuất của người Việt Nam. Hãy vinh danh các cựu chiến binh – cả Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa – những người đã hy sinh cho tự do. Và trong ngày kỷ niệm đau thương này, hãy cùng nhau nhắc lại cam kết: giữ vững các giá trị quan trọng nhất – dân chủ, nhân quyền, và khát vọng sống tự do.
Chuyện “Ngưng bắn…” kể cho độc giả Bloomington ngày ấy, đã là chuyện quá khứ. 30 tháng Tư năm sau, cuộc chiến trên đất Việt tàn. Chủ nghĩa Cộng sản, nguyên nhân của nạn binh đao, dìm quê hương tôi trong biển máu hàng thập kỷ, cuối cùng đã hưởng hết 70 năm tuổi thọ. Tưởng chuyện đau thương trong một ngày ngưng bắn của gia đình, vì sự an toàn, phúc lợi của loài người, phải trở thành cổ tích. Vậy mà hôm nay, trong thời đại này, chuyện buồn chiến tranh của tôi đang tái diễn...
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.