Hôm nay,  

‘Hội Chứng Tiếng Nổ Trong Đầu’: Hiện Tượng Bí Ẩn Trong Giấc Ngủ

17/05/202400:00:00(Xem: 922)

tieng no trong dau
“Hội Chứng Tiếng Nổ Trong Đầu” (Exploding Head Syndrome, EHS) là một tình trạng rối loạn giấc ngủ, khiến người ta nghe thấy tiếng động hoặc tiếng nổ lớn khi đang chìm vào giấc ngủ. (Nguồn: pixabay.com)
 
Dave Lovos là một nhạc sĩ và nghệ nhân làm đàn guitar, và đã quá quen với những âm thanh ồn ào. Trong năm nay, có một đêm Lovos bất ngờ nghe thấy tiếng nổ mạnh trong đầu khi đang lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Tiếng nổ bất ngờ khiến ông tỉnh ngủ hẳn.
 
Lovos kể lại: “Tôi nghe thấy một âm thanh rất lớn trong đầu, gần vùng đỉnh hộp sọ,” và cùng với tiếng nổ chói tai, hình ảnh một vụ tông xe vụt qua trong não. “Cả hai thứ xảy ra gần như là đồng thời.”
 
Những gì Lovos trải qua được gọi là “Hội Chứng Tiếng Nổ Trong Đầu” (Exploding Head Syndrome, EHS), một thí dụ bí ẩn về tình trạng rối loạn giấc ngủ (sleep disorde hoặc parasomnia, còn được gọi là bệnh ‘mất ngủ giả’). Các dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp bao gồm mộng du, ngủ mớ, bóng đè và giật mình khi ngủ. Hầu hết các dạng rối loạn giấc ngủ này là bình thường và vô hại, trừ khi có gây ra nguy cơ về sức khỏe hoặc cảm giác đau đớn.
 
Brian Sharpless, chuyên gia tâm lý học về giấc ngủ và là một trong số ít các chuyên gia đang nghiên cứu về EHS, cho biết: “Nếu đầu người ta mà phát nổ thật thì văn phòng của tôi sẽ rất hỗn loạn.” Ông cho rằng EHS là một tình trạng vô hại dù có cái tên khá là đáng sợ.
 
Sharpless nói: “Miễn là quý vị không có cảm giác đau đớn khi hiện tượng đó xảy ra, ngoài ra thì không có gì phải lo lắng.”
 
Nguyên nhân gây ra tình trạng EHS
 
Sharpless cho biết rất ít người gặp phải EHS tìm kiếm tư vấn y tế hoặc trao đổi với với bác sĩ và người thân.
 
Trong một nghiên cứu, chỉ 11% số người tham gia báo cáo về tình trạng EHS cho chuyên gia y tế, và chỉ 8% bệnh nhân bị tái phát tìm cách phòng ngừa. Một số người cho biết họ cảm thấy xấu hổ khi thừa nhận “nghe thấy âm thanh” trong đầu; hầu hết đều tiếp tục cuộc sống bình thường khi không có thêm các dấu hiệu khó chịu hay đau đớn.
 
Jennifer McDonald Slowik, bác sĩ chuyên khoa các vấn đề với giấc ngủ của Frederick Health Medical Group và là thành viên của Hiệp hội Maryland Sleep Society, cho biết bà cũng hiếm thấy ai tìm cách điều trị EHS.
 
Theo bà, EHS thường được phát hiện trong quá trình đánh giá mở rộng tại phòng khám. Khi người ta đến thăm khám về vấn đề giấc ngủ, các chuyên gia thường hỏi về nhiều khía cạnh về giấc ngủ của họ, bao gồm cả các triệu chứng của các dạng rối loạn giấc ngủ khác như “narcolepsy” (bệnh ngủ thoảng qua).
 
Cô cho biết thêm: “Nếu có bất kỳ lo lắng nào về một vấn đề nghiêm trọng hơn, chúng tôi sẽ thực hiện [kiểm tra bổ sung] như một phần của nghiên cứu về giấc ngủ để đảm bảo xác định và đánh giá tình trạng của bệnh nhân một cách đầy đủ.”
 
Các chuyên gia đều cảnh báo rằng khi nói về các vấn đề liên quan đến phần đầu, thì tốt nhất là ‘cẩn tắc vô áy náy.’ Trong trường hợp xấu nhất, khi EHS xảy ra kèm theo cảm giác đau đớn, đây có thể là dấu hiệu của chảy máu não dạng mạch dưới màng não, một tình trạng nguy hiểm và gây tử vong.
 
Thường xảy ra trong vòng chưa tới 1 giây, quan niệm sai lầm đầu tiên về EHS là về thời gian: EHS thường xảy ra khi một người đang chuyển từ trạng thái tỉnh táo sang trạng thái ngủ (còn gọi là hypnagogic, trạng thái nửa tỉnh nửa mê), chứ không phải khi đang trong trạng thái ngủ say.
 
Theo Sharpless, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, bao gồm cả những nghiên cứu theo dõi não bộ bằng máy EEG, nhưng vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng xác định hoạt động của hội chứng EHS trong giấc ngủ. Nói đúng hơn, người ta tin rằng EHS có thể là một dạng rối loạn hoạt động của tế bào thần kinh, xảy ra khi bộ não bắt đầu tắt các khu vực liên quan đến hoạt động của thính giác, thị giác và vận động trong thời gian chuyển từ trạng thái tỉnh táo sang trạng thái ngủ.
 
Ông nói thêm: “Có thể nói rằng trong giai đoạn chuyển đổi từ trạng thái tỉnh táo sang trạng thái ngủ, bộ não đang ở trạng thái rất thoải mái, thư giãn. Và có vẻ như đó là lúc xảy ra hiện tượng này (EHS).”
 
Theo định nghĩa rộng, EHS là một “ảo giác về âm thanh,” còn theo thuật ngữ lâm sàng đây là “chứng rối loạn giấc ngủ kịch phát liên quan đến cảm giác” (paroxysmal sensory parasomnia), hoặc rối loạn giấc ngủ biểu hiện bởi âm thanh “bùng phát bất ngờ.” EHS không phải là bệnh ù tai (tinnitus) như nhiều người vẫn thường lầm tưởng.
 
Tiếng tông xe, tiếng súng nổ và tiếng đóng sập cửa
 
Trong trường hợp của Dave Lovos, ông nghe thấy một âm thanh tương tự như một vụ tông xe. Đây là một trong nhiều mô tả được những người tham gia nghiên cứu về EHS đưa ra. Dù người ta có thể nghe thấy nhiều loại âm thanh khác nhau, nhưng kết quả cuối cùng đều giống nhau: cảm giác khó chịu.
 
Các mô tả phổ biến về âm thanh mà những người mắc EHS thường trải qua bao gồm tiếng bom nổ, tiếng đóng sập cửa, tiếng đồ vật đập vào tường, tiếng súng hoặc pháo nổ, tiếng kim loại va đập vào nhau, tiếng la hét, tiếng sóng vỗ ập vào bờ, tiếng sét, tiếng gầm và tiếng xe cộ chạy vụt qua.
 
Sharpless nói: “Quý vị không thể nghe thấy rõ tiếng nhạc, tiếng nói chuyện, bởi vì quý vị đang nghe thấy những tiếng động lớn và mạnh.” EHS lần đầu tiên được phát hiện và đặt tên vào năm 1876 bởi bác sĩ thần kinh Silas Weir Mitchell ở Philadelphia. Ông đã ghi lại trường hợp của những bệnh nhân nghe thấy “tiếng súng nổ” và “tiếng bắn súng lục” trước khi đi vào giấc ngủ. Ông gọi hiện tượng này là “sensory shock” (sốc giác quan). Vào những năm 1980, bác sĩ thần kinh J.M.S. Pearce đã thay đổi tên của hiện tượng này thành Exploding Head Syndrome (EHS). Brian Sharpless và đồng nghiệp Peter Goadsby, một khoa học gia về thần kinh tại King's College London, đang đề nghị thay đổi tên EHS thành “Episodic Cranial Sensory Shock” (Sốc cảm giác ở sọ não theo đợt)
 
Bác sĩ Pearce đã báo cáo “có rất ít bằng chứng về việc bệnh lý trước đây có liên quan và không có bất kỳ bệnh lý nào khác về CNS [hệ thần kinh trung ương], đồng thời nói thêm rằng, “hiện tượng này hoàn toàn lành tính và khá phổ biến nhưng chưa được báo cáo nhiều.”
 
“Nguyên nhân gây ra âm thanh như tiếng bom nổ vẫn còn là điều bí ẩn,” Peace viết. Sharpless và các nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra kết luận tương tự sau ba thập niên.
 
Vào năm 2005, Viện Y Học Về Giấc Ngủ Hoa Kỳ đã phân loại ‘tiếng nổ trong đầu’ là một chứng rối loạn giấc ngủ. Một số nghiên cứu đã bác bỏ các tuyên bố lâm sàng trước đó rằng phụ nữ trên 50 tuổi có khả năng mắc hội chứng này cao hơn. Dữ liệu hiện nay chỉ ra rằng số các trường hợp bị EHS xảy ra ở cả đàn ông và phụ nữ. Trong một nghiên cứu tại Đại Học Tiểu Bang Washington, khoảng 13% sinh viên báo cáo từng bị EHS ít nhất một lần.
 
Mặc dù EHS đã “có tên” từ giữa những năm 1800, nhưng không có tài liệu chính thức nào ghi lại các trường hợp xảy ra trước thời điểm đó, trừ một trường hợp duy nhất. Trong một bài báo năm 2018, có đề cập đến việc triết gia thế kỷ 17 René Descartes có thể đã từng một lần bị EHS. Descartes đã kể lại rằng giữa hai giấc mơ, ông đã nghe thấy ‘tiếng nổ trong đầu,’ giúp ông trả lời câu hỏi “Tôi nên chọn theo con đường nào trong đời mình?”
 
Bài báo lưu ý: “Mặc dù vô hại nhưng những người bị EHS vẫn thấy lo ngại rằng đó có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến não. Và họ thường cảm thấy xấu hổ, không muốn kể về trải nghiệm của mình, vì sợ sẽ bị phê phán hoặc không được tin tưởng.”

Cung Đô biên dịch
Nguồn: “'Exploding head syndrome'? Inside a mysterious, disturbing sleep condition” được đăng trên trang Nationalgeographic.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ.
Khi các biến thể mới của Covid đang lan rộng tại Hoa Kỳ, nhiều người sẽ cảm thấy lo lắng cho kế hoạch đi chơi hè của mình. Hướng dẫn mới từ CDC có thể khác một chút so với trước đây. Dưới đây là những điều cần biết nếu quý vị thấy lo lắng, hoặc nghĩ mình có thể bị nhiễm Covid-19 trong mùa hè này.
Khoảng 80 năm trước, ngay sau khi những liều penicillin đầu tiên được sử dụng, vi khuẩn đã bắt đầu tìm cách lẩn tránh, chống lại các loại thuốc kháng sinh (hay trụ sinh, antibiotic). Kể từ đó, cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt giữa các loại vi khuẩn nguy hiểm và con người kéo dài đến tận ngày nay. Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng, xét về những khía cạnh quan trọng, con người đang yếu thế trong cuộc chiến này.
Trong những tháng gần đây, hai loại thuốc Ozempic và Wegovy đã trở nên rất nổi tiếng vì giúp mọi người giảm cân nhiều và nhanh. Tuy nhiên, khi giảm cân trong một thời gian ngắn, một số người đã nhận thấy những thay đổi bất ngờ trong ngoại hình của mình, đặc biệt là khuôn mặt. Hiện tượng này được gọi là “mặt Ozempic” (Ozempic face).
Các bác sĩ tim mạch có thể sẽ có đánh giá khác nhau về độ tuổi của bệnh nhân trong việc quyết định liệu có nên làm bypass cho họ hay không. Hầu hết mọi người đều cho rằng bệnh nhân trên 80 tuổi không nên làm bypass cho tim vì kết quả thường không được khả quan như bệnh nhân ở độ tuổi trẻ hơn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu, suy nghĩ này nên được thay đổi, các bác sĩ không nên chỉ dựa vào tuổi tác mà từ chối phẫu thuật làm bypass cho bệnh nhân.
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác. Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.
Các nhà nghiên cứu đã có phát hiện đáng chú ý về một loại protein mang tên UCP1, có khả năng truy ngược lại hơn 100 triệu năm về trước và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện tại. Protein này hoạt động như một máy phát nhiệt, giúp cho các loài động vật có vú có thể sống trong những môi trường có khí hậu lạnh. 120 triệu năm trước, tổ tiên của các loài động vật có vú đã xuất hiện. Nhờ vào công nghệ gen hiện đại, các nhà nghiên cứu từ Đại học Stockholm và Viện Wenner-Gren đã có thể phân tích cấu trúc gen của protein UCP1 từ nhiều loài động vật. Nhờ đó, họ đã có thể tái tạo cách mà protein này được hình thành trong các tế bào sống và khảo sát sự hoạt động của phiên bản cổ đại UCP1 so với phiên bản hiện tại, đặc biệt là ở con người.
Để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt sắp tới của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc ghi danh cho các sinh hoạt, quý vị vui lòng liên lạc 714-751-5805, gửi email đến info@vacf.org, hoặc vào trang mạng www.vacf.org. Địa chỉ của văn phòng là 17150 Newhope Street, Suite 201, Fountain Valley, CA 92708.
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.