Hôm nay,  

Bệnh Cong Vẹo Cột Sống: Cần Được Chú Ý Nhiều Hơn

24/05/202400:00:00(Xem: 1061)

veo cot song

Cong vẹo cột sống là một tình trạng phổ biến nhưng lại ít được quan tâm. (Nguồn: Chụp lại từ YouTube)


Cael là một thiếu niên 15 tuổi bình thường – cho đến khi cậu được phát hiện có cột sống bị cong vẹo bất thường.
 
“Em cảm thấy mình giống như Thằng Gù ở Nhà thờ Đức Bà vậy đó,” Cael nói với CBC News, nhớ lại quãng thời gian hai năm chờ đợi để được phẫu thuật cột sống, đầy cảm xúc và khốc liệt, và trong thời gian đó, đường cong cột sống của cậu đã phát triển lên tới 108 độ.
 
Bệnh cong vẹo cột sống [Scoliosis] là tình trạng cột sống bị xoắn lại và cong vẹo bất thường, có thể phát triển ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng chủ yếu xảy ra trong giai đoạn tăng trưởng nhanh ở trẻ em, và là một phần của quá trình lão hóa cột sống ở người cao niên trên 60 tuổi.
 
Trong số tất cả các loại cong vẹo cột sống ở người trẻ, chứng cong vẹo cột sống tự phát [idiopathic scoliosis] ở thanh thiếu niên là phổ biến nhất, chiếm tới 9 trên 10 trường hợp, và trên toàn thế giới, cứ 20 thanh thiếu niên thì có 1 người bị ảnh hưởng. Còn ở những người cao niên, tỷ lệ bị ảnh hưởng lên đến 2/3.
 
Trong lĩnh vực y tế, nghiên cứu và giáo dục liên quan đến bệnh cong vẹo cột sống, vẫn còn nhiều thiếu sót và chênh lệch trên toàn thế giới. Mặc dù bệnh cong vẹo cột sống khá là phổ biến, nó thường không được chẩn đoán hoặc bị chẩn đoán trễ như trường hợp của Cael. Bệnh này cũng không nhận được nhiều sự quan tâm trong giáo dục sức khỏe và nghiên cứu lâm sàng, dẫn đến những thiếu sót đáng kể trong việc chăm sóc và điều trị. Sự thiếu nhận thức chung này có tác động nghiêm trọng đến hàng ngàn người như Cael.
 
Những thiếu sót trong việc chăm sóc
 
Ở Hoa Kỳ, chưa đến một nửa số tiểu bang có quy định về việc kiểm tra, sàng lọc bệnh cong vẹo cột sống cho trẻ ở trường học. Tệ hơn nữa, Canada đã ngừng cho kiểm tra từ năm 1979 vì nó được coi là không hiệu quả về mặt chi phí.
 
Phương pháp sàng lọc của bác sĩ nhi khoa rất khác nhau và một số trường hợp cong vẹo cột sống ở trẻ em chỉ được phát hiện khi chụp X-quang ngực, không liên quan gì đến cột sống, lại cho thấy cột sống bị cong vẹo. Với khoảng 30% trường hợp là do di truyền, cha mẹ có thể không nhận ra các dấu hiệu ban đầu.
 
Phương pháp chăm sóc được khuyến nghị ở Bắc Mỹ bao gồm việc mang đai nẹp cho những trường hợp bị cong vẹo nhẹ đến trung bình (25° đến 45°), và phẫu thuật cho những trường hợp đường cong vượt quá 45°. Đáng kinh ngạc là 32% trẻ em Canada, như Cael, phải chờ đến khi gặp được chuyên gia thì mới phát hiện ra bệnh cong vẹo cột sống, và đến lúc đó độ cong đã khá là nghiêm trọng.
 
Mặc dù đã ghi nhận thành công trong việc kiểm soát chứng cong vẹo cột sống thông qua sàng lọc sớm, phục hồi chức năng bằng tập thể dục và mang đai nẹp, giáo dục chăm sóc sức khỏe toàn cầu thường bỏ qua tình trạng này. Sự thiếu nhận thức chung về căn bệnh đã để lại hậu quả nghiêm trọng cho hàng ngàn người như Cael.
 
Chênh lệch giới tính
 
Không rõ tại sao chứng cong vẹo cột sống tự phát ở thanh thiếu niên lại ảnh hưởng chủ yếu đến phái nữ. Độ cong càng nghiêm trọng thì khả năng bệnh nhân là nữ càng cao. Do đặc điểm khác biệt về sinh học, phụ nữ cũng phải đối mặt với nguy cơ biến dạng tiến triển cao gấp 5 lần và có khả năng phải phẫu thuật cao gấp 10 lần so với nam giới.
 
Mặc dù việc mang thai và sinh nở nhìn chung không có vấn đề lớn, phụ nữ bị cong vẹo cột sống thường gặp khó khăn trong việc kiểm soát cơn đau trong quá trình chuyển dạ, với tỷ lệ thất bại khi gây tê ngoài màng cứng cũng cao hơn. Hơn nữa, họ thường bị đau lưng khi mang thai và tình trạng cong vẹo cột sống có thể trầm trọng hơn sau khi sinh.
 
Rào cản trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe
 
Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm chủng tộc, thu nhập và phạm vi bảo hiểm y tế.
 
Bệnh nhân có các gói bảo hiểm tốt hơn có khuynh hướng tìm kiếm dịch vụ chăm sóc chỉnh hình nhi khoa ở độ tuổi trẻ hơn. Những người có bảo hiểm công thường sẽ bị cong vẹo nặng hơn trước khi được gặp bác sĩ chuyên khoa; đặc biệt là ở những bệnh nhân gốc da đen có bảo hiểm công, khả năng được chẩn đoán ở giai đoạn đủ sớm để điều trị bằng đai nẹp thấp hơn 67% so với bệnh nhân gốc da đen có bảo hiểm tư nhân.
 
Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Canada có chi trả cho việc phẫu thuật ghép cột sống cho bệnh cong vẹo cột sống nặng. Còn ở Hoa Kỳ, bệnh nhân sẽ tự chi trả theo các gói khác nhau do thiếu chương trình bảo hiểm chung về bệnh này trên toàn quốc.
 
Những người không có bảo hiểm thường không đủ khả năng chi trả cho phẫu thuật.
 
Nhưng ngay cả với chính sách bảo hiểm toàn diện của Canada, bệnh nhân thường cũng phải chờ cả năm mới được phẫu thuật do thiếu nhân lực. Do sự khác biệt trong khu vực về nguồn lực như khả năng tiếp cận bác sĩ phẫu thuật cột sống, nguồn tài trợ và cơ sở vật chất chuyên biệt, một số trẻ em, như Cael, thậm chí còn phải chờ đợi lâu hơn. Trong thời gian chờ đợi, họ sẽ phải đối mặt với những gánh nặng về thể chất, cảm xúc và tâm lý, khi độ cong cột sống ngày càng trở nên tồi tệ hơn.
 
Việc phẫu thuật chậm trễ ở Canada đã gây thiệt hại cho hệ thống y tế 44.6 triệu MK do các ca phẫu thuật phức tạp hơn, thời gian nằm viện kéo dài, tỷ lệ phải vào bệnh viện lại và phẫu thuật lại cũng tăng lên.
 
Sự chênh lệch về nhân sự và nghiên cứu
 
Trong số các bác sĩ phẫu thuật cột sống, có không tới 5% là nữ bác sĩ. Trong môi trường do nam giới thống trị, các nữ bác sĩ thường gặp phải những rào cản vô hình, thường được gọi là “hiệu ứng trần kính” [glass-ceiling]. Hơn nữa, việc thiếu hụt các nữ bác sĩ giàu kinh nghiệm để học hỏi và nhận sự hướng dẫn cũng làm khó khăn cho sự phát triển và giữ chân các nữ bác sĩ nhân tài trong lĩnh vực này.
 
Hơn nữa, kinh phí nghiên cứu cho các bệnh như bệnh cong vẹo cột sống, chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ, thường luôn kém rất xa so với việc nguồn kinh phí tài trợ cho các bệnh phổ biến ở nam giới. Việc cải thiện sự đa dạng trong lực lượng lao động là một khía cạnh quan trọng để giải quyết sự chênh lệch y tế và định hình các chương trình nghiên cứu.
 
Có rất nhiều điều bất bình đẳng tồn tại trong nghiên cứu và điều trị bệnh cong vẹo cột sống. Tác động của việc thiếu nhận thức và chậm trễ điều trị không chỉ nằm ở những thách thức về thể chất. Về mặt tinh thần, bệnh nhân và gia đình sẽ phải gánh chịu nhiều đau khổ, còn về kinh tế, đó là nỗi lo trước gánh nặng tài chánh đáng kể trong tương lai.
 
Tóm lại, chúng ta cần phải dành nhiều sự quan tâm hơn cho những đối tượng bị bỏ sót này.

Nguyên Hòa biên dịch
Nguồn: “Breaking the curve: A call for comprehensive scoliosis awareness and care” được đăng trên trang TheConversation.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ.
Khi các biến thể mới của Covid đang lan rộng tại Hoa Kỳ, nhiều người sẽ cảm thấy lo lắng cho kế hoạch đi chơi hè của mình. Hướng dẫn mới từ CDC có thể khác một chút so với trước đây. Dưới đây là những điều cần biết nếu quý vị thấy lo lắng, hoặc nghĩ mình có thể bị nhiễm Covid-19 trong mùa hè này.
Khoảng 80 năm trước, ngay sau khi những liều penicillin đầu tiên được sử dụng, vi khuẩn đã bắt đầu tìm cách lẩn tránh, chống lại các loại thuốc kháng sinh (hay trụ sinh, antibiotic). Kể từ đó, cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt giữa các loại vi khuẩn nguy hiểm và con người kéo dài đến tận ngày nay. Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng, xét về những khía cạnh quan trọng, con người đang yếu thế trong cuộc chiến này.
Trong những tháng gần đây, hai loại thuốc Ozempic và Wegovy đã trở nên rất nổi tiếng vì giúp mọi người giảm cân nhiều và nhanh. Tuy nhiên, khi giảm cân trong một thời gian ngắn, một số người đã nhận thấy những thay đổi bất ngờ trong ngoại hình của mình, đặc biệt là khuôn mặt. Hiện tượng này được gọi là “mặt Ozempic” (Ozempic face).
Các bác sĩ tim mạch có thể sẽ có đánh giá khác nhau về độ tuổi của bệnh nhân trong việc quyết định liệu có nên làm bypass cho họ hay không. Hầu hết mọi người đều cho rằng bệnh nhân trên 80 tuổi không nên làm bypass cho tim vì kết quả thường không được khả quan như bệnh nhân ở độ tuổi trẻ hơn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu, suy nghĩ này nên được thay đổi, các bác sĩ không nên chỉ dựa vào tuổi tác mà từ chối phẫu thuật làm bypass cho bệnh nhân.
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác. Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.
Các nhà nghiên cứu đã có phát hiện đáng chú ý về một loại protein mang tên UCP1, có khả năng truy ngược lại hơn 100 triệu năm về trước và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện tại. Protein này hoạt động như một máy phát nhiệt, giúp cho các loài động vật có vú có thể sống trong những môi trường có khí hậu lạnh. 120 triệu năm trước, tổ tiên của các loài động vật có vú đã xuất hiện. Nhờ vào công nghệ gen hiện đại, các nhà nghiên cứu từ Đại học Stockholm và Viện Wenner-Gren đã có thể phân tích cấu trúc gen của protein UCP1 từ nhiều loài động vật. Nhờ đó, họ đã có thể tái tạo cách mà protein này được hình thành trong các tế bào sống và khảo sát sự hoạt động của phiên bản cổ đại UCP1 so với phiên bản hiện tại, đặc biệt là ở con người.
Để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt sắp tới của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc ghi danh cho các sinh hoạt, quý vị vui lòng liên lạc 714-751-5805, gửi email đến info@vacf.org, hoặc vào trang mạng www.vacf.org. Địa chỉ của văn phòng là 17150 Newhope Street, Suite 201, Fountain Valley, CA 92708.
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.