Hôm nay,  

Đọc “Tưởng Niệm Khánh Trường”

24/04/202514:55:00(Xem: 1749)

Ngon ngu khanh truong
Bìa cuốn Ngôn Ngữ Đặc Biệt Tưởng Niệm Khánh Trường.

Tuần này tôi đi tiễn một anh bạn đồng tuế vừa nằm xuống. Gọi là đồng tuế nhưng anh nhỉnh hơn tôi một tuổi. Thấy anh nằm thảnh thơi, bạn bè mừng cho anh. Mừng vì anh chỉ bị cảm có một tuần rồi nhẹ nhàng ra đi. Đi như vậy là phúc. Mấy ông bạn già ai cũng khen vậy. Cái chết hình như thân cận với những người đã quá luống tuổi. Họ đã nhờn với anh thần chết. Nhớ: Nguyễn Xuân Hoàng những ngày cuối của căn bệnh ung thư cột sống đã nhắn tin cho tôi: “Tao không sợ chết, chỉ sợ đau”.

trnag le khanh truong

Tang lễ Khánh Trường.


Căn phòng đông đảo người đưa tiễn. Bạn học, bạn chơi, bạn tù, bạn văn gọi nhau ơi ới. Ông thì tì người vào cây gậy, ông chập chững trong chiếc walker, ông lết lết trên thảm ngả nghiêng như người đang trượt patin. Chuyện trò rôm rả quên hẳn ông bạn đang nằm trong sáu tấm ván thiên. Lâu rồi không gặp nhau, chỉ rình khi có một ông “hy sinh” mới cất công ra khỏi nhà. Chúng tôi tới tuổi chỉ còn gặp nhau tại nhà quàn. Để tiễn người vượt cõi.

Từ nhà quàn về, tôi nhận được cuốn Ngôn Ngữ Đặc Biệt “Tưởng Niệm Họa Sĩ, Nhà Văn, Nhà Thơ, Nhà Báo Khánh Trường”. Cầm trên tay cuốn báo dày gần 300 trang thấy hụt hẫng. Vậy là bạn ta đã ra đi được ba tháng. Nhớ những e-mail tán hươu tán vượn của gần 100 ngày trước. Thường mỗi sáng, mở iPad là thấy tin nhắn của chàng. Vui ít, chán nhiều. Bạn ta đã thách thức thần chết từ nhiều năm nhưng vẫn phải sống nhăn răng để càm ràm. Nay mới tới giờ anh cầm lưỡi hái làm việc. Anh chàng phải mất ba tuần vất vả mới hái được con người coi trời bằng vung, bệnh rề rề cũng coi như pha. Nhưng những người thân đã không có được cái dũng của anh bạn. Trong bài “Cha Tôi”, cô con gái út Annie Nguyễn Trường An đã viết: “ Những năm tháng cuối tuổi thơ của tôi là một khoảng thời gian mơ hồ. Một sự pha trộn giữa tuổi dậy thì, sự tách biệt của tuổi mới lớn và Mẹ cố gắng hết sức để che chắn, bảo vệ tôi khỏi những điều tồi tệ nhất mà hóa trị gây ra cho Ba. Ban đêm, tôi có thể nghe thấy tiếng Ba nôn mửa và tiếng Mẹ lục đục đóng cửa phòng ngủ để tôi không nghe thấy. Ban ngày, tôi không muốn ở nhà. Tôi thường xuyên đi xa, trốn tránh nỗi buồn của mình và sự đau đớn ẩn sau cánh cửa phòng ngủ đóng kín của Ba Mẹ. Xe cứu thương và xe cứu hỏa ghé đến là chuyện thường xảy ra ở nhà chúng tôi. Những ký ức còn lại của tôi từ thời điểm đó dường như đã bị chặn lại. Tôi không biết nên cảm thấy xấu hổ hay biết ơn. Dần dần, từng ngày, tôi cảm thấy Ba đang dần rời xa tôi, và tôi cũng dần rời xa Ông. Ba càng trở nên khép kín, tôi càng dần dần trở nên chấp nhận sự suy yếu của Ông. Ba càng tránh xa, Ba càng chuẩn bị tốt hơn cho tôi để tạm biệt”.

Người vòng trong, ngày ngày thấy thân xác người thân nhão nhoẹt nên bi lụy. Người vòng ngoài, bạn bè  ít tiếp cận với xâu xé của bệnh tật, tếu táo hơn. Nhà thơ Ngu Yên bá vai bá cổ người ra đi với bài thơ tự do “Ê, Khánh Trường, Thượng Lộ Bình An”.

Chúng mình già rồi, nhìn rượu đủ choáng váng.
Còn đàn bà xin dâng thư viện quốc gia.
Nghe tao kể hết những lần say cõng nhau nhẹ hơn nghệ thuật.
Đứa trên ghế bố, đứa dưới sàn nhà, hai tay buông thõng, ước vọng rơi.
Không có nghệ sĩ chân chính nào không có ước ao bất tử. Tiếc thay,  tao cũng như mày.
Lâu quá không uống, nâng lên, ngửi một ly đỡ khát.
Ê, Khánh Trường, mày đi đâu vậy?
Kể chuyện cũ sao mày không nghe?
Mới đây, biến đâu mất?
Sao bỏ lại đôi giầy?

Đôi giầy bỏ lại, đôi chân trần đã cất bước đi thật xa.  Người đi xa nhưng bóng còn vướng lại. Nơi bạn bè. Cỡ tuổi Khánh Trường và bè bạn đồng trang lứa, chuyện đi xa chẳng lấy được một cái nhướng mắt ngạc nhiên. Đó là chuyện tất nhiên, như thở.

nghe bạn dai sức thần tiên
rút ống thở vẫn hồn nhiên mấy ngày
nỗi mừng ta bị thổi bay
chợt buồn như chính ta đây qua đời                 
(Luân Hoán)

Khánh Trường tỉnh bơ khi bệnh, dùng dằng khi mê man. Anh là một địa chỉ oanh kích tự do của bệnh tật. Thường thì con người buông tay trước sức công phá của những thứ nhỏ nhít như vi trùng vi khuẩn nhưng Khánh Trường vẫn bướng bỉnh “nhảy dù cố gắng”. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể: “Mười ba năm ngồi xe lăn, mỗi tuần ba lần đi lọc thận, cổ họng bị ung thư đục ruỗng, vậy mà cho tới tuần lễ cuối cùng phải vào bệnh viện và chìm trong hôn mê trước khi nhắm mắt xuôi tay, mỗi lần cùng vài bằng hữu thật thân đến thăm anh, anh luôn chỉ cho xem những bức tranh anh vừa vẽ xong. Anh còn hẹn sang năm 2025 sẽ triển lãm tranh và ra mắt thơ văn của anh. Bây giờ thì hết rồi”.

Anh mới ra đi nhưng hình như anh sống giữa đời như người đã ra đi từ lâu lắm. Anh chết từng ngày, biết mình chết nhưng vẫn ngang nhiên và sôi nổi sống. Có những lúc anh đã chán nản, than thở với tôi từ xa qua những con chữ nhắn vội, nhưng hình như qua cơn, anh lại lao vào viết vẽ. Lúc buông tay anh vẫn còn những trang chữ viết dở, những bức tranh chưa hoàn tất. Sự ra đi sau ba tuần hôn mê tựa như vội vã nhưng là cái kết ai cũng biết từ trước. Nhà văn Đỗ Khiêm kể: “Khánh Trường bắt đầu bạo bệnh  từ 20 năm nay rồi chứ không phải mới. Có lúc nghĩ là anh sắp đi và bàn giao Hợp Lưu sang cho Phùng Nguyễn. Anh Phùng thì ở xa, đâu đó tuốt phía sa mạc và hôm đó tôi hẹn anh đến bệnh viện thăm Khánh Trường. Phùng Nguyễn còn mang theo trong xe ba cái máy vi tính tôi nhớ là IBM Thinkpad. Khi tôi hỏi thì anh nói là máy mới dọn dẹp sạch sẽ, mang đi bán để giúp Khánh Trường lúc bệnh hoạn. Khánh Trường ở trong phòng nằm buồn xo, dưới gối có cuốn Hợp Lưu chót lấy ra cầm lật lật. Nằm viện thì ai vui, tôi biết nói gì, tôi nói “Nhảy Dù, cố gắng!” và Khánh Trường cười buồn. Cái khoan thai trong dáng của Khánh Trường cũng là ở trước cái chết. Anh ra đi từ từ trong 20 năm qua và Phùng Nguyễn lại còn đi trước anh. Giờ này anh vẫn còn đu đưa và vật lộn. Tôi  nghĩ anh ở lại vì đời này còn súc vật làm anh giận chứ qua sông Mê thì chỉ còn con người và chuyện đó dễ rồi. Tôi lại nói “Nhảy Dù cố gắng!”’.

Khánh Trường như chẳng sống trong cõi u trọc này từ lâu. Nhà nghiên cứu Nguyễn văn Sâm, từ khi dọn nhà về Cali đã thường hay ghé thăm Khánh Trường. Tới thăm anh thường có chút quà mọn. “Tôi để gói quà nhỏ đâu đó trên bàn bếp, Khánh Trường không nhìn tới cũng như không cám ơn, anh coi đây là chuyện bình thường và đẩy xe lăn ra phòng khách cho dễ nói chuyện… Khánh Trường vẽ cho tôi hai ba bìa sách… Những lần nhờ đó, người nhờ chỉ cám ơn suông! Có lần thấy Khánh Trường ở nhà một  mình, cô đơn tuyệt cùng, tôi đưa Khánh Trường tờ trăm đô, anh không cầm mà chỉ nói: “Thôi ông giữ đi!”, trong cái khoát tay, “Giờ tôi không biết làm gì với tờ giấy đó, cũng không biết để đâu và quên giá trị của nó rồi”.


Chuyện đi hay ở, bám hay buông, cũng chẳng làm anh bận tâm. Bạn bè cũng đều rõ như vậy. Nhà thơ Phan Tấn Hải nhắn với theo người đi. “Bạn hãy giữ lòng cho thật vui để ra đi. Trang sách cuối của Hợp Lưu bây giờ đã khép lại. Tay của bạn đã thả rơi ngòi bút và cọ màu. Bạn đã nằm xuống sau một đời lặn lội. Hãy gối đầu lên những kệ sách ký ức. Đã tới lúc bạn hãy buông xả hết, để tự thấy đời mình trôi theo dòng sông chữ nghĩa, nơi đã chép xuống những gì đẹp nhất của thế hệ chúng ta”.

Nhà thơ Thận Nhiên “gởi theo Khánh Trường”:

giờ thì hết nhậu
hết chửi thề
hết bạt mạng
hết bù khú
hết yêu đương
hết vẽ
hêt thơ hết văn chương
hết hết

Sinh thời Khánh Trường là người quảng giao. Bạn bè anh chẳng chỉ những người cùng thế hệ mà cả những người ra đời sau anh một hai thập niên. Tuổi tác nhiều ít, anh cân tuốt. Và dù già trẻ cách biệt, anh chẳng care. Nhà thơ, nhà vẽ tương đối trẻ Đinh Trường Chinh gửi theo Khánh Trường mấy câu:

chết đi. Sống lại
sống lại rồi chết đi
sống tận với hệ lụy
để bài tiết
thành chữ / sắc / màu.
người họa sĩ tự phục sinh
đến chung cuộc
rũ sạch
chỉ treo lại một hơi thở ngoài kia.

khanh truong rms

Khánh Trường tại buổi ra mắt thơ, 6 tháng trước khi mất.


Cô cháu thân thiết Nina Hòa Bình, người mang niềm vui tới cho Khánh Trường bằng cách đứng ra tổ chức buổi ra mắt tập “Thơ Khánh Trường” rất thành công tại nhà sách Tự Lực vào ngày 30/6/2024, chỉ 6 tháng trước khi anh mất. Đây đúng là một dịp để Khánh Trường cảm nhận được cái tình mà nhiều người dành cho anh. “’Cái tình’, có lẽ đây là thứ duy nhất còn đọng lại sau bao nhiêu tai biến, được thua, mất mát. Cái tình của thế gian, của gia đình, của bạn bè văn hữu, cái tình của người đọc, người thưởng ngoạn, cái tình thủy chung son sắt của người bạn đời luôn luôn bên cạnh, là lượng máu bơm đầy trái tim, giữ cho chiếc rương châu báu trong tâm hồn người thơ vẫn tràn đầy, cho vạt nắng vẫn trong, để Khánh Trường – nhà thơ của chúng ta cuối cùng  vẫn y bản Khánh Trường, bằng cách nào đó, vẫn ngông”.

Orchid Lâm Quỳnh, con gái nhà thơ Du Tử Lê, có sự thân thiết với các chú các bác, bạn của bố. Tuổi chưa bao nhiêu đã ra vào nhà thương thăm Mai Thảo, Bùi Bảo Trúc, ông Cảnh phở Nguyễn Huệ khi bệnh tật thăm hỏi. Nay tới chú Khánh Trường. “Trong miền thơ ấu của tôi, chú Khánh Trường ngang tàng, hào sảng. Vậy mà có một ngày, bệnh ập đến với chú. Những người thân xung quanh tôi, có lẽ chú là người đón nhận bệnh tật đầu tiên. Và dù có bao lần dỗ bệnh, nó cứ ập tới với chú một cách thô bạo, nó giày vò thể xác chú. Tuy vậy, bạo bệnh không làm giảm đi sự nồng nhiệt với đời, nồng nàn với văn chương, hội họa. Chú vẫn sừng sững như cây tùng, cây bách, chú ngạo nghễ với đời. Nhưng căn bệnh không cướp đi của chú sự ngang tàng. Chúng lại càng không cướp đi được tiếng cười giòn tan…Suốt một tuần lễ, dù có bận rộn với những ngày cuối năm, lòng tôi, trí tôi vẫn quay về nơi chốn quen thuộc – nhà thương. Tôi không còn sợ nhà thương., tôi gọi đó là nhà thương. Những năm sau này tôi gọi đó là nhà thương, chứ không gọi là bệnh viện, vì nơi đây, đã đem đến cho tôi những vết thương, rất cần thiết trong đời sống. Tôi vào nhà thương để tìm lại tiếng cười của chú. Tiếng cười với những người của muôn năm cũ. Nhưng cả tuần qua, nơi đây chỉ có sự tĩnh lặng, tàn nhẫn”.

Người thơ trẻ chưa bao giờ gặp mặt Khánh Trường nhưng lại thân thiết với Khánh Trường hơn ai hết. Đó là nhà thơ Phạm Hiền Mây, hiện vẫn sống ở Sài Gòn. Khánh Trường đã in cho cô nàng sáu tập thơ và tên các tiểu thuyết của Khánh Trường được lấy ra từ thơ của Mây. Khi nghe tin Khánh Trường đã ra đi, Mây viết: “Dù biết sự ra đi của anh ấy, trước sau, sớm muộn gì cũng sẽ đến, và đó là lẽ đương nhiên, nhưng với những người mình thương quý, sao vẫn nghe nhói nơi tim. Đau lòng quá. Anh ước sẽ về nước trời, nơi cực lạc, nơi không còn nỗi thống khổ, hay anh mong sẽ tái sinh vào kiếp sau, tiếp tục làm thân người, hả anh Khánh Trường? Nếu làm thân người, mong anh thôi không còn sinh ra ở một đất nước: triền miên chia ly, nước mắt; triền miên chiến tranh, bom đạn, hận thù; triền miên đói khổ, buồn lo. Nếu làm thân người, chúc anh lại một lần nữa cầm cọ, cầm viết, nhưng thôi, không bệnh tật, nhưng thôi, không viễn xứ. Kiếp sau, đời thiệt vui, anh nhé. Anh đi thong thả. Thong thả như vừa hoàn tất một cuộc rong chơi, cuộc rong chơi kéo dài bảy mươi bảy năm. Chiều tàn rồi, hoàng hôn tắt rồi, chân mỏi rồi, về nhà, nghỉ ngơi thôi. Mười năm làm bạn văn với anh, Mây chẳng gì hối tiếc. Thương quý và nhớ về anh mãi mãi, anh Khánh Trường ơi!”.

Vậy là Khánh Trường đã dấn bước. Anh làm chuyện mà anh trù trừ mãi, từ khi bệnh tật bắt đầu thăm hỏi anh. Anh sống dềnh dàng. Kích thước của anh không hợp với cuộc sống quanh anh. Bởi vậy anh phá phách. Trong báo chí, hội họa, văn chương, chữ nghĩa. Từ bao nhiêu năm nay. Hình như anh thấy đã đủ nên bỏ đi. Đi cho người ta còn tiếc nuối anh. Từ nay, sáng sáng, mở tin nhắn trên điện thoại, tôi sẽ không còn thấy những dòng chữ bắt đầu bằng “bạn dzàng”, khi chán chường, khi sôi nổi, khi tếu táo, khi chửi thề, khi văng tục, khi trải lòng cho một cuộc sống từng ngang dọc nay bó rọ trong chiếc xe lăn. Và tôi hụt hẫng. Tôi thẫn thờ đóng lại cuốn “Tưởng Niệm Khánh Trường”. Như đóng lại một thời gian dài tôi từng có một “bạn dzàng”.
                                                       
                                                                                                   
03/2025
                                                                                
Website:
www.songthao.com
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó. Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn. Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
Tuần này tôi trân trọng giới thiệu Đỗ Kh. Nhà văn Đỗ Kh., hẳn không xa lạ gì với người yêu văn chương tiếng Việt, ở hải ngoại nói riêng, trong nước nó chung. Ba mươi bốn năm trước, Đỗ Kh. (lúc bấy giờ ông còn ký bút hiệu Đỗ Khiêm) là tác giả đầu tiên tôi chọn để trình làng nhà xuất bản Tân Thư do tôi chủ trương. CÂY GẬY LÀM MƯA cũng là tác phẩm đầu tiên tác giả này đến với thế giới văn chương tiếng việt. Ngoài CGLM, Tân Thư còn in của ông một tập truyện nữa, KHÔNG KHÍ THỜI CHƯA CHIẾN. Với bút pháp rất riêng cộng kiến thức và trải nghiệm sâu rộng qua những chuyến đi khắp mọi nơi trên hành tinh này, Đỗ Kh. cho chúng ta những bài viết lý thú.
Mặt trời như chiếc nong đỏ ối sắp chạm mái ngói phủ rêu của dãy phố cổ. Bức tường bên trái loang lổ, tróc lở, chồng chéo những dòng chữ thô tục cạnh các bộ phận sinh dục nam nữ đủ cỡ đủ kiểu vẽ bằng than hoặc mảnh gạch vỡ. Bức tường thấp, có chiếc cổng gỗ đã mất hẳn màu sơn, xiêu vẹo, quanh năm nằm trong vị thế mở ngõ. Chiếc cổng dẫn vào ngôi miếu nhỏ. Bên trong miếu, trên bệ thờ bằng xi măng hai ba bài vị chẳng hiểu viết gì, chẳng biết thờ ai. Trước bài vị, lư hương chỉ toàn chân nhang. Từ lâu không còn ai đến đây hương khói, ngôi miếu đã biến thành giang sơn riêng của dơi, chuột cùng các loại côn trùng. Cạnh ngôi miếu, một tàn cổ thụ rậm lá với những rễ phụ chảy thõng thượt, bò ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1994, dưới thời Bill Clinton. Khởi từ dấu mốc đó Việt Nam dần dần thân thiện hơn với người anh em “sen đầm đế quốc” này, thời kỳ ngăn sông cách chợ đã được khai thông, nhiều người xuất ngoại thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác. Giới văn nghệ sĩ không ngoại lệ. Thuở đó gần như tháng nào tôi cũng đón ít nhất một văn, thi, nhạc, họa… sĩ. Phải chăng tại fake news, một người nhà quê như tôi bỗng biến thành “tay chơi” có số má dưới mắt nhìn các vị cầm cọ, cầm bút trong nước?
Hầu hết mọi người già thường mắc phải chứng quên những chuyện gần, nhưng lại nhớ những chuyện xưa, có khi hàng sáu bảy chục năm trước. May mắn (hay xui xẻo?), tôi có một trí nhớ khá tốt, dù gần hay xa tôi đều không quên. Tuy nhiên tôi lại vướng phải nhược điểm là chỉ nhớ sự việc nhưng lại không nhớ thời điểm. Nhược điểm này theo tôi từ ngày thơ trẻ cho đến hôm nay. Khác hẳn một vài người quen, chả hạn nhà văn Hoàng Khởi Phong, anh có một trí nhớ xuất chúng về những con số. Số điện thoại, số nhà của ai đó, chỉ nhìn hoặc nghe qua một lần là ghim ngay vào não, nhiều năm sau, hỏi, anh trả lời vanh vách. Nhà văn Cung Tích Biền cũng không kém, xuất thân là giáo sư dạy sử, ngoài những chi tiết liên quan đến chuyên môn như tên, đế hiệu các vị vua, ngày lên ngôi, ngày chết, những hành trạng của họ suốt thời gian trị vì, và mọi biến cố lịch sử… trải dài từ thời lập quốc, bốn nghìn năm trước, đến bây giờ. Như Hoàng Khởi Phong, anh nhớ rõ mọi con số, kể cả những chi tiết liên quan.
Hai hôm trước một cô em, cũng cầm bút, đến thăm, nhân tiện đề nghị, nếu sức khỏe không cho phép tôi gõ chữ thì cô ấy sẽ giúp, tôi chỉ cần nói qua băng ghi âm, cô em chép lại rồi giao cho tôi nhuận sắc. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, qua trao đổi riêng, vẫn nhiều lần khuyên tôi nên viết hồi ký. Theo hai người, do một thời chủ trương tạp chí Hợp Lưu, tôi có điều kiện tiếp cận và rành rất nhiều chuyện của giới văn nghệ sĩ cũng như văn học hải ngoại lẫn trong nước, nếu tôi không làm thì rồi mọi sự cố sẽ trôi vào lãng quên, thiệt thòi cho văn học Việt Nam, uổng lắm.
Tuổi già thường sống với dĩ vãng. Nhiều chuyện tưởng đã vĩnh viễn ra khỏi trí nhớ, thế mà bất chợt bỗng hiện về, có khi mồn một từng chi tiết nhỏ, tựa mới xảy ra hôm qua, hôm kia, có khi nhập nhòa hư thực bất phân. Chuyện này không lâu, chỉ 23 mươi năm, trước một năm ngày tôi bị tai biến. Nhớ, vì có một chi tiết, lạc đề, nhưng vui.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn "Ba Điều Bốn Chuyện" này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.