Hôm nay,  

Chuyện cái đòn gánh

16/08/202400:00:00(Xem: 1910)

Bán Cho Biển_photo Thận Nhiên
Photo Thận Nhiên
 
Thời buổi nay ra đường đi chợ, đi du lịch, nếu cần mang sách hành lý nặng, người ta kéo đồ bằng cái caddie đi chợ, đi chơi xa kéo valises à roulettes. Khi cần mang theo đồ dùng nhiều hay ít, người ta đều kéo, kéo caddie… kéo tất cả bằng tay và bằng những bánh xe, thấy tiện lợi hơn khi xưa, mang, sách, đội, gánh… tất cả đã đổi thay với thời gian.
 
Còn khi xưa, thật xa xưa, người ta bê, đeo hay gánh. Gánh là tiện lợi khi đó, vì gánh được nhiều đồ, gánh được lợi hơn vì đồ gánh xếp cả hai bên, hai đầu đòn gánh.
 
Cái đòn gánh một thời lâu dài là vật dụng thân thương của người dân Việt Nam ở các thôn quê, ở cả nhiều thành thị với những người buôn bán.
 
Khoảng những năm 1970-1973, có ông hàng phở, luôn bán phở về đêm ở khu phố Hòa Hưng, lối khuya tối 9, 10 giờ, nghe tiếng rao “phơ phớ“ của ông là chúng tôi vác cái tô bự ra mua tô phở 5 đồng, xin thêm nhiều nước phở, về nhà, chia nhau ăn với cơm nguội, ngon ơi là ngon!
 
Ông bán phở gánh rất nhiều năm, và có lẽ phở rong, phở gánh đó ngon hơn phở ăn ở tiệm ngày nay. Vì lúc đó đồ ăn hiếm, xương thịt còn ít, mình ăn cũng ít nên rất ngon, nay ăn nhiều có lẽ hóa nhàm chán.
 
Bao năm lăn lộn với gánh phở đêm, mà ông chung thủy với một cái đòn gánh đã mòn, đã nhẵn thín, nhờ vai ông gánh, gánh phở đi rong các khu phố. Sau này, có người tò mò hỏi ông gánh nặng mãi vậy có đau vai không? Ông có vẻ thoải mái bầy tỏ với bà cụ đã lớn tuổi đã hỏi câu đó rằng:
 
Thưa bác là, nếu biết cách để đúng cái đòn gánh này áp vô các huyệt đạo kiên ngưng và kiên tĩnh trên vai thì không hề đau, mà còn  như được tẩm quất nữa đó!
 
Tẩm quất là gì?
Là như xoa bóp cho khỏi đau ạ.
 
Ồ, hay nhỉ, để thủng thẳng tôi phải hỏi bác về các huyệt đạo này. Mà ai chỉ bác vậy?
 
Một ông thầy hoa ở đường Hải Thượng Lãng Ông trong chợ lớn, bác cứ xoa xoa lần lần, giữa vai có một chỗ hơi trũng xuống là trúng, nó đó nó đó!
 
Không hiểu rồi bà bác đó có tìm ra huyệt đạo kiên ngoại du đó không. Nhưng người Việt Nam lúc xưa kia là gánh đồ, gánh nước, gánh hàng… luôn luôn phải gánh.
 
Ở nông thôn miền Bắc, cái đòn gánh là ai cũng cần phải có, gánh lúa, gánh mạ, gánh phân, gánh rau…
 
Gánh gánh gánh! Gánh thóc về!
Gánh về, gánh về, gánh về!
                             Phạm Duy
 
Nó đơn giản chỉ là cây tre xẻ đôi, chắc chắn, bào cho nhẵn láng, hai đầu uốn hơi cong lên, và cũng ở hai đầu tận cùng đó, có cái chốt, để móc và giữ cho quang gánh đồ nặng nằm yên ở vị trí cân bằng. Phần giữa đòn gánh được bào, vuốt láng cho êm, không là đau vai.
 
Khi người gánh đồ đi nhịp nhàng, hơi nhún nhảy theo nhịp lên xuống ở hai đầu đòn, thì người gánh cảm thấy sức nặng như bớt đè lên vai:
 
Khi xưa bên lối cỏ mòn,
Ni sư gánh nước lên non tưới vườn.
Ê a câu kệ vô thường,
Rớt theo giọt nước bên đường cỏ khô.
Ngày nay lối cũ tình cờ,
Thấy Như Lai trụ bên bờ nở hoa!
 
Cái đòn gánh là vật rất gần gũi với nhà nông, để làm nông, để vận chuyển lúc yên bình. Còn lúc giặc giã tới, phải đi tản cư, nhiều bà mẹ vội gánh con bằng đòn gánh, đi cho mau, một bên quang thúng để con ngồi vô, một bên kia là gạo, nồi niêu, lương thực. Với cái đòn gánh thân thương, màu nhiệm, các bà mẹ chạy giặc mang theo được cả gia tài và con cái bên mình,
Còn người còn của còn con
Mất người mất cả giang san khỏi phiền!
Có những người mẹ chạy loạn từ tỉnh thành nọ sang vùng quê kia xa hút với đòn gánh với quang thúng bán buôn lặt vặt để nuôi con tới ngày hồi cư:
 
“Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Mươi miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài sấp giấy đẫm hoen sương buổi sớm“
                                       Thơ Hoàng Cầm
 
Nói chi nhiều tới người thôn quê hay người thành thị, mà ngay nhân vật anh hùng Từ Hải của nàng Kiều:
 
Đường đường một đấng anh hào
Cũng còn mang hình ảnh cây đòn gánh vào văn chương:
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
 
Thế đủ thấy đòn gánh gánh sâu đậm tình cảm dân gian xưa kia cả công dụng và tình cảm gắn bó nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.
 
Trong một bảo tàng viện văn hóa về nông nghiệp ở miền Nam người ta có treo một cây đòn gánh, được trạm trổ khắc nhiều hình vẽ rất đẹp như ngày mùa, múa lân… nó rất đẹp nhưng khác xa với những cây đòn gánh thực dụng, đã dùng… bạn hãy tưởng tượng trong một đoạn văn xuôi tả cảnh chạy loạn ở Nam Kỳ lục tỉnh, mà nhà văn Kiệt Tấn đã nói “người mẹ giầu lòng bác ái, thả cái đòn gánh xuống nước cho một đứa bé trôi sông bám vào đó, rồi bà kéo đứa bé đó lên thuyền bà!"
 
Miền quê Nam bộ, có nơi họ vót nhọn một đầu của đòn gánh, kiểu như thế đó, miền Bắc gọi là đòn càn, đòn càn ở Bắc nhọn cả hai đầu, để đâm sóc vào những bó lúa đã bó chặt mà mang về nhà, kiểu này chỉ những bác nông phu lực lưỡng mới làm nổi.
 
Còn cái đòn gánh có một đầu nhọn trong Nam, thì rất đa năng đa hiệu, đầu nhọn khi cần, được cắm chặt xuống đất, đầu kia chổng lên trời nắng, đặng phơi hay máng áo quần lỡ bị trời mưa hay rớt xuống ao, sông mà lỡ ướt… được kịp mặc cho khô ráo mà về nhà cuối ngày.
 
Vì thân cận và lợi ích như thế đó, chủ nhân không bao giờ lấy đòn gánh làm vũ khí, ngay cả khi cần tự vệ. Thảng hoặc chỉ để ngồi nghỉ hay gối kê đầu trên những quãng đường xa..
 
Khi cái đòn gánh quá cũ, người ta tháp lại, là chữa để dùng, nếu lỡ gẫy hẳn, không thể chữa, thì chủ nhân gác nó lên ránh bếp như một vật kỷ niệm, gác cất lâu quá, bề bộn, người ta cũng không mang dục bỏ mà mang đi đốt nó đi, coi như đòn gánh được hỏa thiêu, được hóa kiếp… với hy vọng mong manh nó trở thành một khúc đoạn trường ca văn chương:
 
“Hương ơi, sao tiếng hát em, nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào. Dù em ca những lơi yêu đương hay chuyện tình gẫy gánh giữa đường…“
                                                                             Phạm Duy
 
Ở quê miền Trung Việt Nam, người ta vẫn có thể đi chân đất, mặc áo dài và mang đòn gánh lên vai đi bán rong các loại chè, các loại bánh nậm, bánh bột lọc… khi hạ gánh để bán, họ dựa đòn gánh vào đâu đó và không để xuống đất.
 
Người Hoa khi mới sang Việt Nam, họ thường nương nhờ ở cái đòn gánh mà sống, sau làm giầu:
“Cái nị là cái nị bên Tàu
Nị sang Nam Việt bán buôn làm giàu
Nị sang có cái gì đâu
Có cái đòn gánh bán buôn chè
… Chí mả phù (chè mè đen, táo tàu)
… Lục tàu xá (chè đậu xanh, bột báng)
 
Thời buổi cơ khí văn minh tiên tiến ào đến, chúng ta có hệ thống dẫn nước về từng nhà, tiện lợi sung sướng vô cùng nhớ đời ông cố bà cố thuở xưa, ở quê cũng như ở tỉnh, ai ai mà không dung đòn gánh, gánh nước từ giếng, ao, sông, hồ về đổ vô bể, vại, thùng, phi… để ăn, uống, tắm, rửa. Nên chúng ta tới bao giờ cũng không phủ nhận công lao của cây đòn gánh trong nhiều thập kỷ thập niên dài.
 
Cứ tưởng tượng mà hình dung ra hình ảnh một bà mẹ già quẩy quang gánh trên một nẻo đường mòn, bà vẫn bước đều, tự tại, kiên nhẫn, dẻo dai trong mỗi bước chân… hình ảnh đó long lanh đều đặn như những con dã tràng xe cát biển đông?
 
Bảo rằng nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì? Không, ý nghĩ đó có lúc không đúng chút nào, vì mẹ già tôi đang dẻo dai trong mỗi bước chân với cây đòn gánh, với hai thúng nặng kẻo kẹt trên vai, bà đang vê tròn quả phúc cho cả một dân tộc, biết đâu trong một kiếp lai sinh nào đó, chúng ta thoát khỏi đại họa cộng sản đói nghèo lúng túng!
 
Paris mùa hạ nóng 2024
Chúc Thanh 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
Tình hình thế giới hình như đang rối lung tung, náo loạn như từ khi tổng thống Mỹ nhậm chức nhiệm kỳ II. Ông ở ngôi mới được hơn 100 ngày chút xíu, mà nhiều rắc rối quá, đối ngoại thì như mỗi ngày ông đưa ra những quyết định trừng phạt thế giới về kinh tế và thương mại bằng cách tăng thuế vào các hàng hóa của bất kỳ quốc gia nào nhập khẩu và Hoa Kỳ từ 10 đế 50% và hơn thế nữa.
Thông thường, sau một ngày dài bận rộn, ai cũng nghĩ rằng đến khi đặt lưng xuống giường thì cơ thể sẽ mệt mỏi rã rời. Thế nhưng đôi khi, điều ngược lại lại xảy ra: thay vì cảm thấy mệt và buồn ngủ, chúng ta lại bất ngờ cảm thấy tỉnh như sáo, tràn đầy năng lượng, trằn trọc mãi chẳng thể nào chợp mắt.
Bộ đồ lòng dĩ nhiên gồm có…lòng. Nhưng lòng lại chia ra nhiều loại: lòng non, phèo, lòng già, khố linh. Khố linh là phần cuối của lòng già, ăn rất giòn, béo vì có lớp mỡ bên trong. Đó là điểm cộng của khố linh. Điểm trừ là khố linh rất hôi, có lẽ đây là lý do có chữ “khố” nằm vùng ở đây. Bàn ngang một chút: lòng còn chỉ “lòng dạ”, một từ không dính dáng chi tới chuyện ngon hay dở. Nghĩa bóng của “lòng dạ” chỉ liên quan tới con người, còn bò heo gà thì chỉ có một nghĩa. Ngoài lòng, bộ đồ lòng còn bao gồm tim, gan, bao tử, dồi trường. Dồi trường chỉ có ở heo nái. Tùy theo tuổi heo, dồi trường to hay nhỏ. Loại ngon nhất là dồi trường của heo nái đẻ hai hoặc ba lứa. Nhưng ít thực khách biết chuyện này nên cứ đòi dồi trường to, vừa đắt vừa không ngon.
Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng ngay cạnh xác tàu Titanic huyền thoại, chậm rãi dạo quanh một vòng và chiêm ngưỡng kích thước đồ sộ của con tàu. Quý vị có thể ghé vào phòng chứa lò hơi (boiler rooms), ngắm nghía các bảng điều khiển, thậm chí nhìn thấy số ID 401 của tàu được khắc trên cánh chân vịt. Những dải nhũ xốp gỉ sét (rusticles) lặng lẽ bám quanh thân tàu. Rải rác trên mặt đất là những mảnh kim loại đã biến dạng và đồ đạc cá nhân của những nạn nhân xấu số trong thảm kịch năm xưa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.