Hôm nay,  

Chuyện cái đòn gánh

16/08/202400:00:00(Xem: 1915)

Bán Cho Biển_photo Thận Nhiên
Photo Thận Nhiên
 
Thời buổi nay ra đường đi chợ, đi du lịch, nếu cần mang sách hành lý nặng, người ta kéo đồ bằng cái caddie đi chợ, đi chơi xa kéo valises à roulettes. Khi cần mang theo đồ dùng nhiều hay ít, người ta đều kéo, kéo caddie… kéo tất cả bằng tay và bằng những bánh xe, thấy tiện lợi hơn khi xưa, mang, sách, đội, gánh… tất cả đã đổi thay với thời gian.
 
Còn khi xưa, thật xa xưa, người ta bê, đeo hay gánh. Gánh là tiện lợi khi đó, vì gánh được nhiều đồ, gánh được lợi hơn vì đồ gánh xếp cả hai bên, hai đầu đòn gánh.
 
Cái đòn gánh một thời lâu dài là vật dụng thân thương của người dân Việt Nam ở các thôn quê, ở cả nhiều thành thị với những người buôn bán.
 
Khoảng những năm 1970-1973, có ông hàng phở, luôn bán phở về đêm ở khu phố Hòa Hưng, lối khuya tối 9, 10 giờ, nghe tiếng rao “phơ phớ“ của ông là chúng tôi vác cái tô bự ra mua tô phở 5 đồng, xin thêm nhiều nước phở, về nhà, chia nhau ăn với cơm nguội, ngon ơi là ngon!
 
Ông bán phở gánh rất nhiều năm, và có lẽ phở rong, phở gánh đó ngon hơn phở ăn ở tiệm ngày nay. Vì lúc đó đồ ăn hiếm, xương thịt còn ít, mình ăn cũng ít nên rất ngon, nay ăn nhiều có lẽ hóa nhàm chán.
 
Bao năm lăn lộn với gánh phở đêm, mà ông chung thủy với một cái đòn gánh đã mòn, đã nhẵn thín, nhờ vai ông gánh, gánh phở đi rong các khu phố. Sau này, có người tò mò hỏi ông gánh nặng mãi vậy có đau vai không? Ông có vẻ thoải mái bầy tỏ với bà cụ đã lớn tuổi đã hỏi câu đó rằng:
 
Thưa bác là, nếu biết cách để đúng cái đòn gánh này áp vô các huyệt đạo kiên ngưng và kiên tĩnh trên vai thì không hề đau, mà còn  như được tẩm quất nữa đó!
 
Tẩm quất là gì?
Là như xoa bóp cho khỏi đau ạ.
 
Ồ, hay nhỉ, để thủng thẳng tôi phải hỏi bác về các huyệt đạo này. Mà ai chỉ bác vậy?
 
Một ông thầy hoa ở đường Hải Thượng Lãng Ông trong chợ lớn, bác cứ xoa xoa lần lần, giữa vai có một chỗ hơi trũng xuống là trúng, nó đó nó đó!
 
Không hiểu rồi bà bác đó có tìm ra huyệt đạo kiên ngoại du đó không. Nhưng người Việt Nam lúc xưa kia là gánh đồ, gánh nước, gánh hàng… luôn luôn phải gánh.
 
Ở nông thôn miền Bắc, cái đòn gánh là ai cũng cần phải có, gánh lúa, gánh mạ, gánh phân, gánh rau…
 
Gánh gánh gánh! Gánh thóc về!
Gánh về, gánh về, gánh về!
                             Phạm Duy
 
Nó đơn giản chỉ là cây tre xẻ đôi, chắc chắn, bào cho nhẵn láng, hai đầu uốn hơi cong lên, và cũng ở hai đầu tận cùng đó, có cái chốt, để móc và giữ cho quang gánh đồ nặng nằm yên ở vị trí cân bằng. Phần giữa đòn gánh được bào, vuốt láng cho êm, không là đau vai.
 
Khi người gánh đồ đi nhịp nhàng, hơi nhún nhảy theo nhịp lên xuống ở hai đầu đòn, thì người gánh cảm thấy sức nặng như bớt đè lên vai:
 
Khi xưa bên lối cỏ mòn,
Ni sư gánh nước lên non tưới vườn.
Ê a câu kệ vô thường,
Rớt theo giọt nước bên đường cỏ khô.
Ngày nay lối cũ tình cờ,
Thấy Như Lai trụ bên bờ nở hoa!
 
Cái đòn gánh là vật rất gần gũi với nhà nông, để làm nông, để vận chuyển lúc yên bình. Còn lúc giặc giã tới, phải đi tản cư, nhiều bà mẹ vội gánh con bằng đòn gánh, đi cho mau, một bên quang thúng để con ngồi vô, một bên kia là gạo, nồi niêu, lương thực. Với cái đòn gánh thân thương, màu nhiệm, các bà mẹ chạy giặc mang theo được cả gia tài và con cái bên mình,
Còn người còn của còn con
Mất người mất cả giang san khỏi phiền!
Có những người mẹ chạy loạn từ tỉnh thành nọ sang vùng quê kia xa hút với đòn gánh với quang thúng bán buôn lặt vặt để nuôi con tới ngày hồi cư:
 
“Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Mươi miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài sấp giấy đẫm hoen sương buổi sớm“
                                       Thơ Hoàng Cầm
 
Nói chi nhiều tới người thôn quê hay người thành thị, mà ngay nhân vật anh hùng Từ Hải của nàng Kiều:
 
Đường đường một đấng anh hào
Cũng còn mang hình ảnh cây đòn gánh vào văn chương:
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
 
Thế đủ thấy đòn gánh gánh sâu đậm tình cảm dân gian xưa kia cả công dụng và tình cảm gắn bó nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.
 
Trong một bảo tàng viện văn hóa về nông nghiệp ở miền Nam người ta có treo một cây đòn gánh, được trạm trổ khắc nhiều hình vẽ rất đẹp như ngày mùa, múa lân… nó rất đẹp nhưng khác xa với những cây đòn gánh thực dụng, đã dùng… bạn hãy tưởng tượng trong một đoạn văn xuôi tả cảnh chạy loạn ở Nam Kỳ lục tỉnh, mà nhà văn Kiệt Tấn đã nói “người mẹ giầu lòng bác ái, thả cái đòn gánh xuống nước cho một đứa bé trôi sông bám vào đó, rồi bà kéo đứa bé đó lên thuyền bà!"
 
Miền quê Nam bộ, có nơi họ vót nhọn một đầu của đòn gánh, kiểu như thế đó, miền Bắc gọi là đòn càn, đòn càn ở Bắc nhọn cả hai đầu, để đâm sóc vào những bó lúa đã bó chặt mà mang về nhà, kiểu này chỉ những bác nông phu lực lưỡng mới làm nổi.
 
Còn cái đòn gánh có một đầu nhọn trong Nam, thì rất đa năng đa hiệu, đầu nhọn khi cần, được cắm chặt xuống đất, đầu kia chổng lên trời nắng, đặng phơi hay máng áo quần lỡ bị trời mưa hay rớt xuống ao, sông mà lỡ ướt… được kịp mặc cho khô ráo mà về nhà cuối ngày.
 
Vì thân cận và lợi ích như thế đó, chủ nhân không bao giờ lấy đòn gánh làm vũ khí, ngay cả khi cần tự vệ. Thảng hoặc chỉ để ngồi nghỉ hay gối kê đầu trên những quãng đường xa..
 
Khi cái đòn gánh quá cũ, người ta tháp lại, là chữa để dùng, nếu lỡ gẫy hẳn, không thể chữa, thì chủ nhân gác nó lên ránh bếp như một vật kỷ niệm, gác cất lâu quá, bề bộn, người ta cũng không mang dục bỏ mà mang đi đốt nó đi, coi như đòn gánh được hỏa thiêu, được hóa kiếp… với hy vọng mong manh nó trở thành một khúc đoạn trường ca văn chương:
 
“Hương ơi, sao tiếng hát em, nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào. Dù em ca những lơi yêu đương hay chuyện tình gẫy gánh giữa đường…“
                                                                             Phạm Duy
 
Ở quê miền Trung Việt Nam, người ta vẫn có thể đi chân đất, mặc áo dài và mang đòn gánh lên vai đi bán rong các loại chè, các loại bánh nậm, bánh bột lọc… khi hạ gánh để bán, họ dựa đòn gánh vào đâu đó và không để xuống đất.
 
Người Hoa khi mới sang Việt Nam, họ thường nương nhờ ở cái đòn gánh mà sống, sau làm giầu:
“Cái nị là cái nị bên Tàu
Nị sang Nam Việt bán buôn làm giàu
Nị sang có cái gì đâu
Có cái đòn gánh bán buôn chè
… Chí mả phù (chè mè đen, táo tàu)
… Lục tàu xá (chè đậu xanh, bột báng)
 
Thời buổi cơ khí văn minh tiên tiến ào đến, chúng ta có hệ thống dẫn nước về từng nhà, tiện lợi sung sướng vô cùng nhớ đời ông cố bà cố thuở xưa, ở quê cũng như ở tỉnh, ai ai mà không dung đòn gánh, gánh nước từ giếng, ao, sông, hồ về đổ vô bể, vại, thùng, phi… để ăn, uống, tắm, rửa. Nên chúng ta tới bao giờ cũng không phủ nhận công lao của cây đòn gánh trong nhiều thập kỷ thập niên dài.
 
Cứ tưởng tượng mà hình dung ra hình ảnh một bà mẹ già quẩy quang gánh trên một nẻo đường mòn, bà vẫn bước đều, tự tại, kiên nhẫn, dẻo dai trong mỗi bước chân… hình ảnh đó long lanh đều đặn như những con dã tràng xe cát biển đông?
 
Bảo rằng nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì? Không, ý nghĩ đó có lúc không đúng chút nào, vì mẹ già tôi đang dẻo dai trong mỗi bước chân với cây đòn gánh, với hai thúng nặng kẻo kẹt trên vai, bà đang vê tròn quả phúc cho cả một dân tộc, biết đâu trong một kiếp lai sinh nào đó, chúng ta thoát khỏi đại họa cộng sản đói nghèo lúng túng!
 
Paris mùa hạ nóng 2024
Chúc Thanh 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó. Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn. Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
Tuần này tôi trân trọng giới thiệu Đỗ Kh. Nhà văn Đỗ Kh., hẳn không xa lạ gì với người yêu văn chương tiếng Việt, ở hải ngoại nói riêng, trong nước nó chung. Ba mươi bốn năm trước, Đỗ Kh. (lúc bấy giờ ông còn ký bút hiệu Đỗ Khiêm) là tác giả đầu tiên tôi chọn để trình làng nhà xuất bản Tân Thư do tôi chủ trương. CÂY GẬY LÀM MƯA cũng là tác phẩm đầu tiên tác giả này đến với thế giới văn chương tiếng việt. Ngoài CGLM, Tân Thư còn in của ông một tập truyện nữa, KHÔNG KHÍ THỜI CHƯA CHIẾN. Với bút pháp rất riêng cộng kiến thức và trải nghiệm sâu rộng qua những chuyến đi khắp mọi nơi trên hành tinh này, Đỗ Kh. cho chúng ta những bài viết lý thú.
Mặt trời như chiếc nong đỏ ối sắp chạm mái ngói phủ rêu của dãy phố cổ. Bức tường bên trái loang lổ, tróc lở, chồng chéo những dòng chữ thô tục cạnh các bộ phận sinh dục nam nữ đủ cỡ đủ kiểu vẽ bằng than hoặc mảnh gạch vỡ. Bức tường thấp, có chiếc cổng gỗ đã mất hẳn màu sơn, xiêu vẹo, quanh năm nằm trong vị thế mở ngõ. Chiếc cổng dẫn vào ngôi miếu nhỏ. Bên trong miếu, trên bệ thờ bằng xi măng hai ba bài vị chẳng hiểu viết gì, chẳng biết thờ ai. Trước bài vị, lư hương chỉ toàn chân nhang. Từ lâu không còn ai đến đây hương khói, ngôi miếu đã biến thành giang sơn riêng của dơi, chuột cùng các loại côn trùng. Cạnh ngôi miếu, một tàn cổ thụ rậm lá với những rễ phụ chảy thõng thượt, bò ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1994, dưới thời Bill Clinton. Khởi từ dấu mốc đó Việt Nam dần dần thân thiện hơn với người anh em “sen đầm đế quốc” này, thời kỳ ngăn sông cách chợ đã được khai thông, nhiều người xuất ngoại thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác. Giới văn nghệ sĩ không ngoại lệ. Thuở đó gần như tháng nào tôi cũng đón ít nhất một văn, thi, nhạc, họa… sĩ. Phải chăng tại fake news, một người nhà quê như tôi bỗng biến thành “tay chơi” có số má dưới mắt nhìn các vị cầm cọ, cầm bút trong nước?
Hầu hết mọi người già thường mắc phải chứng quên những chuyện gần, nhưng lại nhớ những chuyện xưa, có khi hàng sáu bảy chục năm trước. May mắn (hay xui xẻo?), tôi có một trí nhớ khá tốt, dù gần hay xa tôi đều không quên. Tuy nhiên tôi lại vướng phải nhược điểm là chỉ nhớ sự việc nhưng lại không nhớ thời điểm. Nhược điểm này theo tôi từ ngày thơ trẻ cho đến hôm nay. Khác hẳn một vài người quen, chả hạn nhà văn Hoàng Khởi Phong, anh có một trí nhớ xuất chúng về những con số. Số điện thoại, số nhà của ai đó, chỉ nhìn hoặc nghe qua một lần là ghim ngay vào não, nhiều năm sau, hỏi, anh trả lời vanh vách. Nhà văn Cung Tích Biền cũng không kém, xuất thân là giáo sư dạy sử, ngoài những chi tiết liên quan đến chuyên môn như tên, đế hiệu các vị vua, ngày lên ngôi, ngày chết, những hành trạng của họ suốt thời gian trị vì, và mọi biến cố lịch sử… trải dài từ thời lập quốc, bốn nghìn năm trước, đến bây giờ. Như Hoàng Khởi Phong, anh nhớ rõ mọi con số, kể cả những chi tiết liên quan.
Hai hôm trước một cô em, cũng cầm bút, đến thăm, nhân tiện đề nghị, nếu sức khỏe không cho phép tôi gõ chữ thì cô ấy sẽ giúp, tôi chỉ cần nói qua băng ghi âm, cô em chép lại rồi giao cho tôi nhuận sắc. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, qua trao đổi riêng, vẫn nhiều lần khuyên tôi nên viết hồi ký. Theo hai người, do một thời chủ trương tạp chí Hợp Lưu, tôi có điều kiện tiếp cận và rành rất nhiều chuyện của giới văn nghệ sĩ cũng như văn học hải ngoại lẫn trong nước, nếu tôi không làm thì rồi mọi sự cố sẽ trôi vào lãng quên, thiệt thòi cho văn học Việt Nam, uổng lắm.
Tuổi già thường sống với dĩ vãng. Nhiều chuyện tưởng đã vĩnh viễn ra khỏi trí nhớ, thế mà bất chợt bỗng hiện về, có khi mồn một từng chi tiết nhỏ, tựa mới xảy ra hôm qua, hôm kia, có khi nhập nhòa hư thực bất phân. Chuyện này không lâu, chỉ 23 mươi năm, trước một năm ngày tôi bị tai biến. Nhớ, vì có một chi tiết, lạc đề, nhưng vui.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn "Ba Điều Bốn Chuyện" này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.