Hôm nay,  

Ngẫu nhĩ “Sầu Ly Biệt”

10/3/202500:00:00(View: 2436)
Bùi Giáng
Tranh của Họa sĩ Trần Thế Vĩnh và của Họa Sĩ Chóe.
(Chủ Đề 50 Năm Thơ Nhập Cư 1975-2025, phần Câu chuyện thơ trước 1975.)
 
Phân lý chữ nghĩa Bùi Giáng là việc làm nghiêm túc một cách khôi hài. Phê bình thơ Bùi Giáng là khôi hài một cách nghiêm túc.

Tôi chú ý đến hai đối cực hài hòa này vì càng suy nghĩ, càng lý luận, thì càng cảm nhận chất khôi hài trong thơ Bùi Giáng là một đặc sản.

Thưởng thức thơ Bùi Giáng, trước hết là thú vị với cách thế đùa nghịch chữ nghĩa và tứ thơ của ông, tiếp theo là những ngạc nhiên về chất lượng ngộ nghĩnh và biến hóa trong ý nghĩ, tư tưởng của Bùi Giáng một cách sâu sắc và sự sâu sắc này mang đến lòng ngưỡng mộ, vì sự sâu sắc này mà chúng ta cần phải nghiêm túc.

Trước Bùi Giáng có rất nhiều nhà thơ làm thơ hài hước nổi danh như Tú Xương, và các ông tú sau này. Hầu hết các nhà thơ thành danh đều có thơ hài hước, như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, vân vân. Tuy nhiên, gần như những hài hước đó luôn kèm theo sự mỉa mai, nụ cười xách mé, mỉm cười khinh bỉ, nín cười che miệng, cười lớn chế nhạo. Trong khi chất khôi hài của Bùi Giáng qua thơ chỉ tạo ra nụ cười hoặc tức cười. Cười vui, cười thông cảm, cười vô hại và đặc biệt nhất là cười suy gẫm. Đó là một loại đặc sản trong thi ca Việt [và có thể luôn cả thế giới. Nói một cách khác, tuy chúng ta không ai có thể đọc hết thơ ngoại quốc, nhưng những gì tôi đã đọc qua, chưa thấy chất đặc sản này.]

Theo tôi, toàn bộ thơ Bùi Giáng có ba đặc tố chính để thưởng lãm:

- Những bài thơ được truyền đạt bằng chữ nghĩa trong phong cách rồng bay phượng múa, vượt ra ngoài văn phạm hàn lâm lẫn bình dân, khác hẳn những cách diễn đạt của các nhà thơ đi trước và có lẽ, kể cả những nhà thơ theo sau. Nói một cách khác, nghệ thuật truyền đạt của Bùi Giáng là duy nhất. “Xin chào nhau giữa bàn tay / có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con.” (Chào Nguyên Xuân.)

- Những bài thơ mang chất khôi hài một cách đơn giản hoặc khôi hài ngụ ý để nói lên những gì sâu xa hoặc cao siêu hơn. “Tà tà khép mở kiều khu kẹp / Chênh chếch đong đưa mỵ nhãn kề.” (Nữ Sinh Viên)

- Những bài thơ trang nghiêm, rất ít, nhưng cưu mang tình cảm và suy tư của một nghệ sĩ triết gia. “Điên chơi cho biết điên đầu / Điên đầu cho biết điên rầu rĩ chơi.” (Mây Chiều Nay.)

Phân chia như vậy cũng có phần cưỡng ép, vì cả ba đặc tố nêu trên thường xuyên đồng xuất hiện trong cùng một bài thơ. Tuy vậy, ý tôi muốn nhấn mạnh một đặc tố vượt trội hơn, xuất sắc hơn hai đặc tố kia.

Rất ít và trang nghiêm.

Cụm từ “trang nghiêm” hình như có vẻ đối nghịch với Bùi Giáng. Ông nghịch ngợm với thơ, đùa cợt với đời, chọc cười thiên hạ, làm sao mà nghiêm và buồn?

Có. Một đời người sống lâu như ông, làm sao không có lúc thật lòng buồn bã trong trang nghiêm. Khi vợ ông qua đời, nỗi đau đớn, tổn thương đó gói lại trong ba bài thơ: Ly Tao 1, 2, và 3. Về sau, bàng bạc trong những câu thơ tưởng nhớ. Loại thơ này, như đã nói, rất ít nhưng tôi chọn để thưởng lãm trước vì trong toàn bộ thơ họ Bùi, ít có thơ trang nghiêm nên nét độc đáo trở nên đặc biệt.

Tôi chọn “Ly Tao 1.” Bùi Giáng làm nhiều thơ tình. Hầu hết là bỡn cợt. Ít khi có bài thơ tình như bài này.

Ly Tao theo nghĩa của Vương Dật chú giải bài thơ “Ly Tao” của Khuất Nguyên, nghĩa là “Sầu Ly Biệt”.

Bài thơ này gần gũi với siêu thực trong cách diễn đạt và tượng trưng trong tứ thơ và hình ảnh. Hầu hết những câu thơ trong bài thơ đều mang theo ngụ ý, gợi cảm, điềm chỉ một nghĩa khác hơn nghĩa đen.

Đặc điểm của bài thơ nằm trong chữ nghĩa sâu sắc, tứ thơ mông lung mà tạo ra một không khí buồn bã, mất mát, thương nhớ, và vĩnh biệt, một cách trang nghiêm và trang nhã.

Cấu trúc và cấu tứ.

Bài Ly Tao 1 dường như không có một cấu trúc rõ ràng hoặc nói một cách khác là cấu trúc rời rạc. Nói theo kiểu phê bình Tây phương là cần tu chỉnh lại cấu trúc. Nhưng nếu quen đọc thơ họ Bùi, nếu quen biết với họ Bùi, ông này, đời ông còn bất cần huống chi là cấu trúc bài thơ. Tôi nghĩ, Bùi Giáng chẳng bao giờ quan tâm đến cấu trúc. Làm thơ là ghi vội thơ đang tuôn ra, ngập ngừng làm gì với những cản trở. Làm xong, e chẳng cần xét lại, cứ như cào cào châu chấu thả ra bay nhảy khắp nơi. Cái tự do thoải mái này tạo ra cái hay, cái bay bướm, cái tinh hoa, nhưng đồng thời cho phép ông làm những bài thơ không có giá trị, thơ dở. Đọc thơ họ Bùi có thể cảm được ông không coi giá trị của thơ là điều gì quan trọng. Ông làm thơ vì không thể không làm và không biết làm gì khác.

Tuy nhiên trong những lúc trang nghiêm hiếm hoi, ông để lại những hay đẹp hiếm hoi trong dòng thơ Việt. Rất nhiều nhà thơ trẻ chịu ảnh hưởng thơ Bùi Giáng ít hoặc nhiều, nhưng chưa có ai chính thức đi con đường tương tựa mà tương tựa như ông.

Điểm mạnh trong sáng tạo thơ Bùi Giáng không phải là cấu trúc mà là cấu tứ. Tứ thơ của thi sĩ họ Bùi luôn tuyệt thủ và đầy kinh ngạc. Chúng liên tục thu hút người đọc theo sát từ đầu đến cuối.

Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ / Và yêu thương như lá ở bên hoa / Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả / Bủa vi vu như thoáng mộng la đà

Hai câu mở đầu rất đặc sắc, ví yêu thương như lá kề cận bên hoa nhưng bất ngờ hoa đã rơi, bỏ lá. Ông dùng chữ “bay” thế động từ “rơi” như một cách lãng mạn và trân trọng cái chết.

Em đã lại với đời về nắng ấm / Thắm không gian thương nhớ bóng hình em / Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm / Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm

“đã lại với đời về” là một đoạn bắt cầu khó hiểu. Chỉ có thể cảm nhận rằng: Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm, rồi em đến làm đời anh ấm áp ánh mặt trời, rồi em ra đi chỉ để lại ánh trăng lạnh lẽo dù trăng đang rằm. Bất kỳ nhìn ở đâu, khắp nơi trong không gian, đều thấy bóng hình em.

Riêng câu “Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm,” không hiểu dấu phẩy, dấu ngắt nằm trước hay sau chữ “không” vì nó sẽ tạo ra sự thay đổi lớn. “Ngày đi không”, nghĩa là ra đi tay không, chỉ để lại vầng trăng lạnh. Nếu “Ngày đi, không…”, nghĩa là khi ra đi, thậm chí không để lại vầng trăng rằm lạnh lẽo. Ý nghĩa này sẽ làm đoạn thơ thay đổi ý và tứ.

Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng / Quên não nùng sa mạc của yêu thương / Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động / Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Bốn câu này tương đối dễ nắm bắt và thưởng thức cụm từ “não nùng sa mạc của yêu thương” thật là quá đẹp.

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng / Em có làn mi khép lá cây rung / Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng / Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
Cách móc nối hình ảnh khi ông diễn tả dung nhan của vợ, khiến tôi phải đọc lại nhiều lần:

- Nụ cười buồn ---> buồn môi mọng.
- Làn mi khép  ---> lá cây rung.
- Đôi mắt sầu xanh ----> sóng lục ở Hồ Gươm.

Tôi không rõ ý nghĩa của “sóng lục”, chỉ đoán chừng là sóng xanh. Rồi bốn câu tiếp theo, tạo ra khả năng cảm động”

Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ / Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang / Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể / Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn

Tôi nghĩ Bùi Giáng không cố ý, nhưng nghệ thuật sáng tác sẽ chỉ ra rằng ông đã khéo léo xây dựng và phát triển cảm xúc từ nhẹ lên đến cao trào mãnh liệt. Cũng có thể, nhưng tôi nghĩ, tự nhiên thôi, khi ông chìm đắm vào tình cảm, người vợ yêu thương qua đời chắc hẳn là cơn sốc lớn. Tự động thôi, cảm giác cuốn chữ nghĩa dâng lên cao theo cơn cảm xúc:

Em ở lại với đời ta em nhé / Em đừng đi. Cho ta nắm tay em / Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ / Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm

Lời lẽ đơn giản, thành thật, thương yêu: “Em đừng đi. Cho ta nắm tay em.” Nghe thì thầm mà vang rền đau đớn. 

Ông đổi cách xưng hô của nhân vật chính từ “anh” qua “ta” khiến tôi bỡ ngỡ. Nếu là chữ “anh” thì dòng thơ tiếp tục khăng khít lời và ý nghĩ của người tình đang tâm sự về người tình đã đi xa. Nhưng chữ “ta” làm đứt dòng thơ đang chảy. Chuyển sang điều gì đây?

Tôi nghĩ có hai giải đáp:

- Giữa “anh” và “ta” là một khoảng cách thời gian. Dù muốn hay không, ý nghĩa của chữ “ta” khiến nghe ra xa xôi hơn chữ “anh”. Có điều gì phai nhạt?
Cũng có thể những đoạn thơ với chữ “anh” chỉ về hồi ức, về quá khứ. Trong khi đoạn thơ kết với chữ “ta” chỉ chuyện về sau, bối cảnh hiện tại. Bằng chứng là từ “sẽ” sau chữ “ta”, nói lên một ý nghĩ, một ý định cho ngày mai.

- Một cách giải thích khác. Chữ “anh” chỉ cá nhân của nhân vật chính trong bài thơ. Trong khi chữ “ta” chỉ nghĩa rộng hơn, không mang ý nghĩa duy nhất của bản thân. Chữ “ta” mang ý nghĩa chúng ta. (Chúng ta những kẻ khổ đau vì người vợ yêu quí đã qua đời?)

Nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn.

Hai câu: Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt / Để nhìn em qua khe hở du dương…

Hình ảnh một người đàn ông ngồi gục đầu ôm mặt suy tư, qua những khe hở của các ngón tay, tưởng tượng lại những kỹ niệm yêu thương đẹp đẽ mà chữ “du dương” diễn tả rộng hơn và say đắm hơn.

Giá như bài thơ dừng lại sau hai chữ “du dương”, vì hai câu tiếp theo ý nghĩ không độc đáo đủ, cách truyền đạt cũng bình thường, không có gì sâu đậm để kết thúc bằng một ấn tượng đáng ghi nhớ.

Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.

Nếu bạn đọc toàn bài thơ, bạn sẽ thấy tôi bỏ ra bốn câu thơ trước khi cao trào của cảm xúc mang đến cảm động: Em ở lại cùng đời ta em nhé. Bốn câu trước đó cản trở cơn cảm xúc đang phát triển. Hơn nữa tứ thơ của bốn câu này bình thường, “hẹn gặp lại kiếp sau,” được sử dụng quá nhàm trong thơ văn.

Trời đất nhớ lần đầu… năm trước…
Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền

Khi gặp bài thơ thú vị, tôi thường đọc nhiều lần. Rồi lâu lâu, thích đọc lại. Một lần, khi đọc lại Ly Tao 1, tôi mới nhận ra mình đã lầm.

Bốn câu mà tôi nghĩ rằng thừa, dù ý và tứ không đạt được như tôi nghĩ, nhưng nhờ bốn câu đó, chúng ta mới nhận ra tâm sự hồi ức về người tình không còn nữa đã chấm dứt.

Để bước qua phần đối thoại bằng độc thoại, “Em ở lại cùng đời ta, em nhé”, trực tiếp nói với người đã khuất, sau câu “Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền.” Phần độc thoại này làm bài thơ trở nên gần gũi với người đọc, tạo ra được sự đồng cảm, là phần nhạy cảm độc đáo của bài thơ.

Nói một cách khác, bốn câu thơ đó là một chuyển tiếp từ quá khứ qua hiện tại, từ hồi ức qua lời thoại trực tiếp, tạo ra sự liên tục và nhất quán.

Xét chung bài Ly Tao 1.

Dĩ nhiên đây là bài thơ hay đầy cá tính Bùi Giáng từ nghệ thuật truyền đạt cho đến ý nghĩa trong tứ thơ biến chuyển, cho đến cảm xúc. Chính sức mạnh của cảm xúc làm cho bài thơ tỏ lộ hương sắc đẹp và tạo ra rung động. 

Bài thơ này tuy không có một cấu trúc bắt mắt nhưng cũng như những bài thơ khác của ông đều thể hiện chữ nghĩa tinh tế, ý tứ lôi cuốn, khiến người đọc thích thú và yêu mến thơ Bùi Giáng. Ví dụ:

- Em đã lại với đời về nắng ấm
- Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động / Em là em anh đợi khắp nẻo đường
- Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ / Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
vân vân.

Bài thơ này không có một thông điệp mạnh mẽ. Có lẽ chủ yếu là sức cảm động dành cho tình yêu và cho người quá cố.

Nhưng tại sao bài thơ này thấm thía?

Vì có lẽ một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều giống nhau, sẽ có lần thì thầm và tôi chắc rằng tôi sẽ kêu gào trong im lặng: Em ở lại cùng đời anh em nhé. Em đừng đi cho anh nắm tay em.
 
Ngu Yên
 
Nguyên tác:
Ly Tao (1)
 
Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà
 
Em đã lại với đời về nắng ấm
Thắm không gian thương nhớ bóng hình em
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm
 
Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng
Quên não nùng sa mạc của yêu thương
Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động
Em là em anh đợi khắp nẻo đường
 
Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
 
Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ
Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể
Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn
 
Trời đất nhớ lần đầu… năm trước…
Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền
 
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm
 
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Để nhìn em qua khe hở du dương
Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.
  

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.
Nhã Ca, tên thật Trần Thị Thu Vân, sinh ngày 20-10-1939 tại Huế. Nhà văn nhà báo thời Việt Nam Cộng Hoà, sau nhiều năm tháng bị bắt và tù đày sau biến cố 30-4-1975, đã được Văn Bút Thụy Điển bảo lãnh sang nước này tháng 9-1988. Một thời cùng gia-đình sang định cư ở vùng Quận Cam CA, cùng chồng Trần Dạ Từ chủ trương tuần báo Việt Báo Kinh Tế (sau thành nhật-báo Việt Báo và từ tháng 12-2019 trở lại thành tuần báo) rồi thêm Việt Báo USA (San Jose, cùng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)
Nhã Ca sáng tác bài “Một Đoạn Nhã Ca” vào năm 1972. Trước biến cố lịch sử 1975, bà là một trong vài nhà thơ nữ hàng đầu ở Miền Nam Việt Nam, với dòng thơ mang những tứ thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ lãng mạn, ý niệm thể hiện và bênh vực giá trị của người nữ. Thơ Nhã Ca có thể gom vào hai chữ “dám nói.” Bài “Một Đoạn Nhã Ca” mở đầu bằng 9 câu, kết bằng 3 câu, và 111 câu thân, tổng thể là 123 câu, chia ra 15 đoạn. Nhìn một cách tâm lý, phải chăng 15 đoạn thơ này đại biểu một số điều cho một đoạn tiểu sử ngầm của Nhã Ca? Nói một cách văn vẻ, phải chăng có 15 cửa sổ để mở nhìn vào căn nhà bí ẩn của một nhà thơ nữ? Đây là bài thơ truyền đạt qua thể thơ tự do. Số chữ không đều trong mỗi câu. Số câu không đều trong mỗi đoạn. Số đoạn không có giới hạn trong bài. Sự so le và thoát khỏi ràng buộc này nói lên tình tiết diễn đạt qua thơ không bị tù túng, ý thơ không bị chật hẹp trong luật lệ. Phù hợp với cảm xúc thôi thúc, ngổn ngang của tác giả và tạo ra cảm giác kích động của độc giả
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh. Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này.
Krasznahorkai, trong các tiểu thuyết như Melancholy of Resistance hay Baron Wenckheim’s Homecoming, viết như người vừa chứng kiến ngày tận thế và vẫn phải tiếp tục kể, dù biết không còn có người nghe. Văn chương ấy, như James Wood nói, “vừa tuyệt vọng vừa kiêu hãnh, như một bản cầu siêu cho nhân loại.”
Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi. Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đắng lại bài viết Tác Phẩm Khu Rừng Lau Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vào ngày 5/11/2025
László Krasznahorkai – nhà văn Hungary vừa được trao giải Nobel văn chương – nổi tiếng với những câu văn dài như một hơi thở kìm nén, nơi ý tưởng đi qua địa ngục mà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh của thiên thần. Một thiên thần lướt trên chúng ta là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy: giữa bùn lầy chiến hào và tiếng pháo rít xé trên đầu, một người lính cụt chân, mắt mờ, lại giảng về văn minh số, về văn hóa như bản năng sinh tồn của loài người. Chiến tranh vẫn gầm thét, nhưng lời anh vẫn tuôn, dài, sáng, và lạ thay – đầy hy vọng. Bản Việt ngữ của Ngu Yên dịch từ bản Anh ngữ của John Batki, giữ nguyên nhịp câu, những đoạn văn dài như dòng suy tưởng không dứt.
Khoảng hai giờ trước khi Mats Malm, vị thư ký trầm tĩnh của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, bước ra, thế giới vừa nghe tin: Israel và Hamas ký hiệp định hòa bình. Một mẩu tin nhỏ, nhưng làm cả hành tinh thở nhẹ. Có lẽ, nếu tinh ý, người ta đã thấy khóe miệng vị diễn giả ấy nhích lên một nụ cười như thể dành riêng cho nhân loại, sau khi đã hứng chịu quá nhiều tuyệt vọng. Và rồi, cái tên được xướng lên: László Krasznahorkai, nhà văn Hungary – kẻ viết những câu văn dài như cơn hấp hối, nhưng mỗi chữ lại sáng rực như ngọn đèn dầu giữa đêm mất điện. Một bất ngờ… mà thật ra chẳng mấy ai bất ngờ. Viện Hàn lâm Thụy Điển, như thường lệ, lại khiến người ta ngạc nhiên bằng cách không hề ngạc nhiên.
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.