(Chủ Đề 50 Năm Thơ Nhập Cư 1975-2025, phần Câu chuyện thơ trước 1975.)
Phân lý chữ nghĩa Bùi Giáng là việc làm nghiêm túc một cách khôi hài. Phê bình thơ Bùi Giáng là khôi hài một cách nghiêm túc.
Tôi chú ý đến hai đối cực hài hòa này vì càng suy nghĩ, càng lý luận, thì càng cảm nhận chất khôi hài trong thơ Bùi Giáng là một đặc sản.
Thưởng thức thơ Bùi Giáng, trước hết là thú vị với cách thế đùa nghịch chữ nghĩa và tứ thơ của ông, tiếp theo là những ngạc nhiên về chất lượng ngộ nghĩnh và biến hóa trong ý nghĩ, tư tưởng của Bùi Giáng một cách sâu sắc và sự sâu sắc này mang đến lòng ngưỡng mộ, vì sự sâu sắc này mà chúng ta cần phải nghiêm túc.
Trước Bùi Giáng có rất nhiều nhà thơ làm thơ hài hước nổi danh như Tú Xương, và các ông tú sau này. Hầu hết các nhà thơ thành danh đều có thơ hài hước, như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, vân vân. Tuy nhiên, gần như những hài hước đó luôn kèm theo sự mỉa mai, nụ cười xách mé, mỉm cười khinh bỉ, nín cười che miệng, cười lớn chế nhạo. Trong khi chất khôi hài của Bùi Giáng qua thơ chỉ tạo ra nụ cười hoặc tức cười. Cười vui, cười thông cảm, cười vô hại và đặc biệt nhất là cười suy gẫm. Đó là một loại đặc sản trong thi ca Việt [và có thể luôn cả thế giới. Nói một cách khác, tuy chúng ta không ai có thể đọc hết thơ ngoại quốc, nhưng những gì tôi đã đọc qua, chưa thấy chất đặc sản này.]
Theo tôi, toàn bộ thơ Bùi Giáng có ba đặc tố chính để thưởng lãm:
- Những bài thơ được truyền đạt bằng chữ nghĩa trong phong cách rồng bay phượng múa, vượt ra ngoài văn phạm hàn lâm lẫn bình dân, khác hẳn những cách diễn đạt của các nhà thơ đi trước và có lẽ, kể cả những nhà thơ theo sau. Nói một cách khác, nghệ thuật truyền đạt của Bùi Giáng là duy nhất. “Xin chào nhau giữa bàn tay / có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con.” (Chào Nguyên Xuân.)
- Những bài thơ mang chất khôi hài một cách đơn giản hoặc khôi hài ngụ ý để nói lên những gì sâu xa hoặc cao siêu hơn. “Tà tà khép mở kiều khu kẹp / Chênh chếch đong đưa mỵ nhãn kề.” (Nữ Sinh Viên)
- Những bài thơ trang nghiêm, rất ít, nhưng cưu mang tình cảm và suy tư của một nghệ sĩ triết gia. “Điên chơi cho biết điên đầu / Điên đầu cho biết điên rầu rĩ chơi.” (Mây Chiều Nay.)
Phân chia như vậy cũng có phần cưỡng ép, vì cả ba đặc tố nêu trên thường xuyên đồng xuất hiện trong cùng một bài thơ. Tuy vậy, ý tôi muốn nhấn mạnh một đặc tố vượt trội hơn, xuất sắc hơn hai đặc tố kia.
Rất ít và trang nghiêm.
Cụm từ “trang nghiêm” hình như có vẻ đối nghịch với Bùi Giáng. Ông nghịch ngợm với thơ, đùa cợt với đời, chọc cười thiên hạ, làm sao mà nghiêm và buồn?
Có. Một đời người sống lâu như ông, làm sao không có lúc thật lòng buồn bã trong trang nghiêm. Khi vợ ông qua đời, nỗi đau đớn, tổn thương đó gói lại trong ba bài thơ: Ly Tao 1, 2, và 3. Về sau, bàng bạc trong những câu thơ tưởng nhớ. Loại thơ này, như đã nói, rất ít nhưng tôi chọn để thưởng lãm trước vì trong toàn bộ thơ họ Bùi, ít có thơ trang nghiêm nên nét độc đáo trở nên đặc biệt.
Tôi chọn “Ly Tao 1.” Bùi Giáng làm nhiều thơ tình. Hầu hết là bỡn cợt. Ít khi có bài thơ tình như bài này.
Ly Tao theo nghĩa của Vương Dật chú giải bài thơ “Ly Tao” của Khuất Nguyên, nghĩa là “Sầu Ly Biệt”.
Bài thơ này gần gũi với siêu thực trong cách diễn đạt và tượng trưng trong tứ thơ và hình ảnh. Hầu hết những câu thơ trong bài thơ đều mang theo ngụ ý, gợi cảm, điềm chỉ một nghĩa khác hơn nghĩa đen.
Đặc điểm của bài thơ nằm trong chữ nghĩa sâu sắc, tứ thơ mông lung mà tạo ra một không khí buồn bã, mất mát, thương nhớ, và vĩnh biệt, một cách trang nghiêm và trang nhã.
Cấu trúc và cấu tứ.
Bài Ly Tao 1 dường như không có một cấu trúc rõ ràng hoặc nói một cách khác là cấu trúc rời rạc. Nói theo kiểu phê bình Tây phương là cần tu chỉnh lại cấu trúc. Nhưng nếu quen đọc thơ họ Bùi, nếu quen biết với họ Bùi, ông này, đời ông còn bất cần huống chi là cấu trúc bài thơ. Tôi nghĩ, Bùi Giáng chẳng bao giờ quan tâm đến cấu trúc. Làm thơ là ghi vội thơ đang tuôn ra, ngập ngừng làm gì với những cản trở. Làm xong, e chẳng cần xét lại, cứ như cào cào châu chấu thả ra bay nhảy khắp nơi. Cái tự do thoải mái này tạo ra cái hay, cái bay bướm, cái tinh hoa, nhưng đồng thời cho phép ông làm những bài thơ không có giá trị, thơ dở. Đọc thơ họ Bùi có thể cảm được ông không coi giá trị của thơ là điều gì quan trọng. Ông làm thơ vì không thể không làm và không biết làm gì khác.
Tuy nhiên trong những lúc trang nghiêm hiếm hoi, ông để lại những hay đẹp hiếm hoi trong dòng thơ Việt. Rất nhiều nhà thơ trẻ chịu ảnh hưởng thơ Bùi Giáng ít hoặc nhiều, nhưng chưa có ai chính thức đi con đường tương tựa mà tương tựa như ông.
Điểm mạnh trong sáng tạo thơ Bùi Giáng không phải là cấu trúc mà là cấu tứ. Tứ thơ của thi sĩ họ Bùi luôn tuyệt thủ và đầy kinh ngạc. Chúng liên tục thu hút người đọc theo sát từ đầu đến cuối.
Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ / Và yêu thương như lá ở bên hoa / Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả / Bủa vi vu như thoáng mộng la đà
Hai câu mở đầu rất đặc sắc, ví yêu thương như lá kề cận bên hoa nhưng bất ngờ hoa đã rơi, bỏ lá. Ông dùng chữ “bay” thế động từ “rơi” như một cách lãng mạn và trân trọng cái chết.
Em đã lại với đời về nắng ấm / Thắm không gian thương nhớ bóng hình em / Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm / Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm
“đã lại với đời về” là một đoạn bắt cầu khó hiểu. Chỉ có thể cảm nhận rằng: Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm, rồi em đến làm đời anh ấm áp ánh mặt trời, rồi em ra đi chỉ để lại ánh trăng lạnh lẽo dù trăng đang rằm. Bất kỳ nhìn ở đâu, khắp nơi trong không gian, đều thấy bóng hình em.
Riêng câu “Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm,” không hiểu dấu phẩy, dấu ngắt nằm trước hay sau chữ “không” vì nó sẽ tạo ra sự thay đổi lớn. “Ngày đi không”, nghĩa là ra đi tay không, chỉ để lại vầng trăng lạnh. Nếu “Ngày đi, không…”, nghĩa là khi ra đi, thậm chí không để lại vầng trăng rằm lạnh lẽo. Ý nghĩa này sẽ làm đoạn thơ thay đổi ý và tứ.
Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng / Quên não nùng sa mạc của yêu thương / Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động / Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Bốn câu này tương đối dễ nắm bắt và thưởng thức cụm từ “não nùng sa mạc của yêu thương” thật là quá đẹp.
Em có nụ cười buồn buồn môi mọng / Em có làn mi khép lá cây rung / Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng / Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
Cách móc nối hình ảnh khi ông diễn tả dung nhan của vợ, khiến tôi phải đọc lại nhiều lần:
- Nụ cười buồn ---> buồn môi mọng.
- Làn mi khép ---> lá cây rung.
- Đôi mắt sầu xanh ----> sóng lục ở Hồ Gươm.
Tôi không rõ ý nghĩa của “sóng lục”, chỉ đoán chừng là sóng xanh. Rồi bốn câu tiếp theo, tạo ra khả năng cảm động”
Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ / Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang / Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể / Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn
Tôi nghĩ Bùi Giáng không cố ý, nhưng nghệ thuật sáng tác sẽ chỉ ra rằng ông đã khéo léo xây dựng và phát triển cảm xúc từ nhẹ lên đến cao trào mãnh liệt. Cũng có thể, nhưng tôi nghĩ, tự nhiên thôi, khi ông chìm đắm vào tình cảm, người vợ yêu thương qua đời chắc hẳn là cơn sốc lớn. Tự động thôi, cảm giác cuốn chữ nghĩa dâng lên cao theo cơn cảm xúc:
Em ở lại với đời ta em nhé / Em đừng đi. Cho ta nắm tay em / Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ / Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm
Lời lẽ đơn giản, thành thật, thương yêu: “Em đừng đi. Cho ta nắm tay em.” Nghe thì thầm mà vang rền đau đớn.
Ông đổi cách xưng hô của nhân vật chính từ “anh” qua “ta” khiến tôi bỡ ngỡ. Nếu là chữ “anh” thì dòng thơ tiếp tục khăng khít lời và ý nghĩ của người tình đang tâm sự về người tình đã đi xa. Nhưng chữ “ta” làm đứt dòng thơ đang chảy. Chuyển sang điều gì đây?
Tôi nghĩ có hai giải đáp:
- Giữa “anh” và “ta” là một khoảng cách thời gian. Dù muốn hay không, ý nghĩa của chữ “ta” khiến nghe ra xa xôi hơn chữ “anh”. Có điều gì phai nhạt?
Cũng có thể những đoạn thơ với chữ “anh” chỉ về hồi ức, về quá khứ. Trong khi đoạn thơ kết với chữ “ta” chỉ chuyện về sau, bối cảnh hiện tại. Bằng chứng là từ “sẽ” sau chữ “ta”, nói lên một ý nghĩ, một ý định cho ngày mai.
- Một cách giải thích khác. Chữ “anh” chỉ cá nhân của nhân vật chính trong bài thơ. Trong khi chữ “ta” chỉ nghĩa rộng hơn, không mang ý nghĩa duy nhất của bản thân. Chữ “ta” mang ý nghĩa chúng ta. (Chúng ta những kẻ khổ đau vì người vợ yêu quí đã qua đời?)
Nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn.
Hai câu: Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt / Để nhìn em qua khe hở du dương…
Hình ảnh một người đàn ông ngồi gục đầu ôm mặt suy tư, qua những khe hở của các ngón tay, tưởng tượng lại những kỹ niệm yêu thương đẹp đẽ mà chữ “du dương” diễn tả rộng hơn và say đắm hơn.
Giá như bài thơ dừng lại sau hai chữ “du dương”, vì hai câu tiếp theo ý nghĩ không độc đáo đủ, cách truyền đạt cũng bình thường, không có gì sâu đậm để kết thúc bằng một ấn tượng đáng ghi nhớ.
Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.
Nếu bạn đọc toàn bài thơ, bạn sẽ thấy tôi bỏ ra bốn câu thơ trước khi cao trào của cảm xúc mang đến cảm động: Em ở lại cùng đời ta em nhé. Bốn câu trước đó cản trở cơn cảm xúc đang phát triển. Hơn nữa tứ thơ của bốn câu này bình thường, “hẹn gặp lại kiếp sau,” được sử dụng quá nhàm trong thơ văn.
Trời đất nhớ lần đầu… năm trước…
Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền
Khi gặp bài thơ thú vị, tôi thường đọc nhiều lần. Rồi lâu lâu, thích đọc lại. Một lần, khi đọc lại Ly Tao 1, tôi mới nhận ra mình đã lầm.
Bốn câu mà tôi nghĩ rằng thừa, dù ý và tứ không đạt được như tôi nghĩ, nhưng nhờ bốn câu đó, chúng ta mới nhận ra tâm sự hồi ức về người tình không còn nữa đã chấm dứt.
Để bước qua phần đối thoại bằng độc thoại, “Em ở lại cùng đời ta, em nhé”, trực tiếp nói với người đã khuất, sau câu “Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền.” Phần độc thoại này làm bài thơ trở nên gần gũi với người đọc, tạo ra được sự đồng cảm, là phần nhạy cảm độc đáo của bài thơ.
Nói một cách khác, bốn câu thơ đó là một chuyển tiếp từ quá khứ qua hiện tại, từ hồi ức qua lời thoại trực tiếp, tạo ra sự liên tục và nhất quán.
Xét chung bài Ly Tao 1.
Dĩ nhiên đây là bài thơ hay đầy cá tính Bùi Giáng từ nghệ thuật truyền đạt cho đến ý nghĩa trong tứ thơ biến chuyển, cho đến cảm xúc. Chính sức mạnh của cảm xúc làm cho bài thơ tỏ lộ hương sắc đẹp và tạo ra rung động.
Bài thơ này tuy không có một cấu trúc bắt mắt nhưng cũng như những bài thơ khác của ông đều thể hiện chữ nghĩa tinh tế, ý tứ lôi cuốn, khiến người đọc thích thú và yêu mến thơ Bùi Giáng. Ví dụ:
- Em đã lại với đời về nắng ấm
- Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động / Em là em anh đợi khắp nẻo đường
- Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ / Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
vân vân.
vân vân.
Bài thơ này không có một thông điệp mạnh mẽ. Có lẽ chủ yếu là sức cảm động dành cho tình yêu và cho người quá cố.
Nhưng tại sao bài thơ này thấm thía?
Vì có lẽ một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều giống nhau, sẽ có lần thì thầm và tôi chắc rằng tôi sẽ kêu gào trong im lặng: Em ở lại cùng đời anh em nhé. Em đừng đi cho anh nắm tay em.
Ngu Yên
Nguyên tác:
Ly Tao (1)
Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà
Em đã lại với đời về nắng ấm
Thắm không gian thương nhớ bóng hình em
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm
Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng
Quên não nùng sa mạc của yêu thương
Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động
Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ
Trên nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể
Với đèn khuya vò võ mộng khôn hàn
Trời đất nhớ lần đầu… năm trước…
Đó một lần đôi mắt đã nhìn lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ còn dịp đáp đền
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Để nhìn em qua khe hở du dương
Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.
Gửi ý kiến của bạn



