Hôm nay,  

‘Ăn Chay’ Với Yeong-hye

22/11/202400:00:00(Xem: 3106)

Capture
 
Tôi bước lên chuyến xe buýt, đúng với tuyến đường Han Kang đã chỉ cho In-hye, chị Yeong-hye đi. Núi Chuk-sung hôm nay không ẩm ướt. Những gốc cây to không mang vẻ “run rẩy trong mưa.” Ngược lại, nó trầm mặc, bất động, vì hôm nay trời không mưa gió.
 
Bệnh viện nơi Yeong-hye trú ngụ hiện ra giữa những con núi. Ngôi nhà trắng toát, nhỏ bé lọt thỏm giữa thiên nhiên. Thần núi, thần rừng bao quanh, sẵn sàng che chở những linh hồn đi lạc. Nơi này, Yeong-hye và nhiều người khác nữa, tách biệt khỏi thế giới bên ngoài. Họ sống đúng với bản năng cây cỏ, hào phóng cho mầm sống vươn ra từ bất cứ nơi nào trên cơ thể mình. Nơi này, không ai cần hiểu vì sao “đứa trẻ bé như thế… lúc mới sinh ra ai cũng thế này à?” Nơi này, không có những ánh mắt ái ngại, tò mò nhìn vào hai đầu nhọn nổi lên phía trước ngực Yeong-hye. Nơi này không phải là nơi cho loài người sống cuộc đời cam chịu như chị của Yeong-hye, “rời khỏi nhà từ năm 19 cuổi, một thân một mình không nhờ vả bất cứ ai để bươn chải cuộc sống ở Seoul” hoặc luôn phải “nấu canh giải rượu cho bố.” Nơi này, càng không phải dành cho những người chọn nắm đấm để giải quyết vấn đề như bố của Yeong-hye.
 
Yeong-hye đang trồng cây chuối. Chị của Yeong-hye đã báo trước em mình muốn trở thành một cái cây – cái cây nở hoa, tự mình vươn lên đón ánh nắng. “Cây Pháo Hoa”, vùng đất Yeong-hye đang ở là không gian ngập tràn ánh sáng, chứ không u ám, sợ hãi, vương vãi máu và lãnh cảm như nơi cô từng sống với người chồng cũ và trở thành “Người Ăn Chay” chỉ sau một đêm; cũng không có những cảm xúc vừa bản năng vừa vô hồn từ “Vết Chàm Mongolia.”
 
Tôi bước đến, ngồi xuống bên cạnh Yeong-hye, chậm rãi nói:
 
-          Yeong-hye, tôi biết giấc mơ đó.
 
-          Đã nằm mơ à?
 
Yeong-hye hỏi, vẫn giữ tư thế trồng chuối.
 
Tôi lắc đầu, lẩm bẩm:
 
-          Chị ấy nằm mơ. Trước mặt chị ấy là một tô phở nóng. Trong tô đầy thịt, nhưng là thịt người. Rồi chị ấy ăn chay, từ một tháng nay.
 
Yeong-hye bật người lại, ánh mắt hoàn toàn không cảm xúc, ánh mắt khô như vỏ cây cổ thụ.
 
-          Đừng ăn. Không thích ăn. Ghét ăn. Tại sao phải ăn.
 
Tôi nhìn Yeong-hye bước đến cạnh cửa sổ. Cô rướn cơ thể gầy gò ra ngoài ô cửa, ngửa mặt lên trời cho ánh nắng hắt thẳng vào. Đôi mắt Yeong-hye vẫn mở to nhất định không nhắm lại vì cái chói chang của tia mặt trời. Những cây cổ thụ cao to bên ngoài cũng thế. Chúng nó không phải nhắm mắt. Một trong những nguyên tắc sinh tồn của cây là luôn tìm ánh nắng để nghiêng về. Yeong-hye cũng thế.
 
Nhưng những người trong gia đình của cô không biết điều đó. Họ không biết Yeong-hye cần gì, dù đó là khi cô chọn im lặng hoặc đã phải gào lên kháng cự bằng máu trong thanh quản.
 
Tôi muốn nhìn thẳng Yeong-hye, để hiểu vì sao người phụ nữ kia nằm mơ, rồi ăn chay, nhưng gương mặt không giống với Yeong-hye của Han Kang trong “Vết Chàm Mongolia”? Han Kang kể, Yeong-hye đã vượt thoát cùng với vết chàm định mệnh ấy, là một đứa trẻ ngây thơ hồn nhiên, sống hoàn toàn ngoài vòng vẫn đục.
 
Nụ cười của cô trong vắt, thiêng liêng, đối lập hoàn toàn với những tiếng kêu thất thanh cắt da cắt thị của “Người Ăn Chay” và ‘Vết Chàm Mongolia.”
 
Đến cả những dòng nước trong cơ thể cô khi tuôn ra cũng bất cần phải có nhục cảm bản năng con người.
 
Từ khi Yeong-hye vào bệnh viện, những người từng ảnh hưởng đến cuộc đời cô đều biến mất như chưa từng xuất hiện. Han Kang không cho họ vào thăm, dù là máu mủ. Dù vết chàm Mongolia vẫn còn đó nhưng những bông hoa nở chung quanh nó đã tàn lụi. Những bông hoa chỉ có một đời.
 
Mỗi một mình In-hye, chị của Yeong-hye bên cạnh, với sứ mệnh là đẩy ra hết những bi kịch gia đình đã che dấu suốt mấy chục năm qua. In-hye không lãnh phần bi kịch thay cho Yeong-hye, mà chính là Yeong-hye giúp chị phải đẩy ra hết những phần đã chết trong nửa phần đời trước, và chấp nhận bi kịch trong nửa phần đời còn lại.
 
“Mỗi lần giặt chiếc quần đẫm máu không hiểu vì lý do gì mà cô cứ liên tưởng tới hình ảnhdòng máu ở cổ tay Yeong-hye phụt ra cách đó mấy tháng. Sợ đi đến bệnh viện nên cứ ngày nàyqua ngày khác lần lữa việc đi khám…”
 
Nỗi sợ hãi và sức chịu đựng bám lấy gia đình của Yeong-hye, lâu ngày hóa thành rễ, thành những mảnh xù xì chai cứng theo thời gian. Mỗi người họ có cách ứng phó với bi kịch đó. Bố của Yeong-hye chọn rượu. Mẹ Yeong-hye chọn căn bếp. Em trai Yeong-hye chọn cách ra đường đánh lại người khác sau mỗi trận đòn của bố. Yeong-hye chọn cách nài nỉ chị “đừng trở về nơi đó nữa”. In-hye chọn sự cam chịu. Yeong-hye lấy chồng, đơn giản như cách cô cởi bỏ một nút áo ngực và mặc kệ ánh nhìn soi mói của thế gian. 
 
Những phẫn uất tiềm ẩn mãi mãi không hiện sinh nếu Yeong-hye không mơ thấy giấc mơ đó – giấc mơ không ai biết. Nhưng đó là giấc mơ có thực. Vì nó đã lột trần ra hết sự ích kỷ của những người ruột thịt, những người cùng chăn gối khi đối đãi với nhau. Nó chứng minh tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình mà Yeong-hye đang sống chỉ là sự trói buộc sở thích, cảm xúc của nhau. Ở nơi đó, In-hye, Yeong-hye, và cả những người chồng của họ, không có quyền sống thật với chính mình. Tất cả những gì trái ngược với cách con người tồn tại trong thế gian này đều là bất bình thường, đều không có quyền.
 
Tôi bước đến gần Yeong-hye, tự hỏi khi đã vào đây, cô sẽ được quyền không ăn?
 
Không. Tôi đã lầm.
 
Han Kang kể, bị kịch cuối cùng của Yeong-hye là “không được quyền chết!”
 
Người ta vẫn buộc cô phải truyền dịch để sống. Phản kháng cuối cùng khi sức tàn lực kiệt của Yeong-hye là máu trào ra từ phổi, từ tim, từ nội tạng. Và họ lại chuyển viện cho cô để cô “được sống.”
 
Tôi tạm biệt Yeong-hye. Con đường quanh co núi Chuk-sung dẫn ra ngoài đầy mùi cây cỏ. Tôi chợt hiểu tại sao Yeong-hye luôn ao ước hóa thành cây cổ thụ kia. Vì cây to chỉ cần ánh nắng để sinh tồn. Khi gió thổi, những cành và tán lá của nó vẫy gọi nhau.
 
“Chị, tất cả cây cối trên đời này hình như đều là anh em của nhau.”
 
Khi trời ngừng gió, chúng nó cùng im lặng tuyệt đối, tận hưởng thế giới riêng của mình. Không làm đau đớn nhau. Không nhìn nhau bằng những ánh nhìn dò xét nghi kỵ.
 
Rồi Yeong-hye có thành cái cây đó không? Không biết. Han Kang chỉ nói rằng, cả In-hye lẫn Yeong-hye đều không biết “khi nào sẽ tỉnh lại.”
 
“Trong mơ, cứ tưởng như đó là tất cả sự thật. Nhưng khi tỉnh dậy sẽ biết là không phải... thế cho nên, đến lúc nào đó chúng mình cũng tỉnh lại, khi đó…”
 
Và tôi cũng chợt hiểu, vì sao gương mặt của người phụ nữ ăn chay vì nằm mơ thấy một tô phở đầy thịt người không có những khoảnh khắc giống với gương mặt trẻ thơ, vô hồn của Yeong-hye.
 
Vì Yeong-hye phải tiếp tục kháng cự và chịu đựng!
 
Kalynh Ngô
   

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một tin tức nóng hổi trong giới văn học hiện đại thế kỷ 20: Virginia Woolf, nữ tiểu thuyết gia và nhà viết tiểu luận (essayist) nổi tiếng, hóa ra còn sở hữu một tài năng khác: làm thơ. Bí mật này được hé lộ nhờ những tài liệu mới được phát hiện bởi Sophie Oliver, giảng viên về chủ nghĩa hiện đại tại Đại học Liverpool.
Ông đồ Nhuận Tâm cho biết, Theo lời mời của Thượng Tọa Thích Minh Tâm, trong ngày Mùng Một Tết Ất Tỵ (29 Tháng Giêng Dương Lịch), ông sẽ có mặt tại Tịnh Xá Giác Lý (11262 Lampson Ave, Garden Grove, CA 92840) viết tặng chữ cho bà con du Xuân tại đây.
Phát thanh viên Nhã Lan của kênh truyền hình Hồn Việt TV (Orange County, CA) nói chuyện với nhà văn / nhà thơ Trịnh Y Thư về văn chương và các điều khác...
Tác phẩm Drei Kameraden (Three Comrades) năm 1936 của văn hào Đức, Erich Maria Remarque (1898-1970) Tâm Nguyễn dịch với tựa đề Chiến Hữu, nhà xuất bản Kinh Thi ấn hành năm 1972, gồm 28 chương dày bảy trăm trang. Đệ Nhất Thế Chiến, Remarque ở tuổi 19, bị động viên vào Quân Đội Hoàng Gia Đức, thuyên chuyển về Mặt Trận Miền Tây (The Western Front), bị thương vì các mảnh đạn bắn vào chân trái, tay phải và vào cổ, nên được tản thương về bệnh viện, điều trị cho đến khi chiến tranh kết thúc rồi được giải ngũ khỏi Quân Đội Đức. Sau khi chiến tranh chấm dứt Remarque bị ám ảnh bởi các cảnh tàn phá của chiến tranh, thân phận con người, người lính trong và sau giai đoạn bi thương của lịch sử.
Nguyễn Du là tác giả của “Truyện Kiều” và nhà văn người Đức Johann Wolfgang von Goethe là tác giả kịch thơ “Faust”. Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào" và được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới” vào năm 2013 cùng 107 danh nhân khác. Nếu người Việt tự hào về Nguyễn Du thì người Đức cũng rất tự hào về nhà văn lớn của họ là Goethe. Theo Viện Nghiên cứu xã hội và phân tích thống kê Đức (Forsa), Geothe được xếp đứng hàng đầu trong danh sách „Những người Đức vĩ đại nhất mọi thời đại“ [1]. Sau đó mới đến vị thủ tướng đầu tiên của Cộng Hòa Liên Bang Đức là Konrad Adenauer (1876-1967) đứng hạng nhì và đứng hạng thứ ba lại là nhà khoa học gia Albert Einstein (1879-1955), cha đẻ của Thuyết tương đối.
Với tài năng hội họa, văn, thơ, và nhất là tấm lòng và ý chí bền bỉ với văn học nghệ thuật, Khánh Trường đã chinh phục một số lượng độc giả và giới thưởng ngoạn nghệ thuật lớn, từ hải ngoại về đến trong nước, từ nhiều thập niên qua, và có lẽ Ông sẽ mãi được nhớ đến trong văn sử Việt là người khai phóng một nền văn học hậu chiến ở hải ngoại và trong nước qua tờ báo văn học Hợp Lưu. Sau ba cơn tai biến Ông đã phải mang nhiều bệnh tật, nhưng sự ra đi của ông vào cuối năm 29 tháng 12, 2024 vừa qua vẫn gây bàng hoàng đối với những người thân yêu và mến mộ ông. Nỗi niềm thương tiếc này được biểu hiện bằng đôi lời chia biệt với ông và gia đình từ khắp nơi. Việt Báo trích đăng lại.
Như anh có lần tâm sự, thủa 13, anh đã bỏ quê nhà Quảng Nam, lên Đà Lạt, sống đời lang bạt, ăn bờ ngủ bụi, thậm chí “biết tình yêu gái điếm” dù còn non choẹt. Rồi anh xuống Sài Gòn, không muốn tiếp tục làm du đãng, anh đăng lính, dù chưa đủ tuổi. Có sao đâu, chiến tranh đang lên cao điểm mà, quân đội cần lính, nhất là lính Dù, những người lỳ lợm, can đảm, tự nguyện. Những năm chiến trận, đúng châm ngôn “Nhẩy Dù cố gắng”, anh sống trọn với đồng đội, với màu cờ sắc áo. Bị thương nhiều lần, anh buộc phải giải ngũ. Đời sống dân sự chưa được bao lâu thì “xẩy đàn tan nghé”, ngày 30 Tháng Tư 75, anh bị “bên thắng cuộc” liệt vào hàng ngũ “bên thua cuộc”. Vì là cấp hạ sĩ quan, anh không chịu chung số phận như hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, bị đầy đọa nhiều năm tháng trong các trại tù mà chế độ mới gọi bằng mỹ từ “cải tạo”. Nhưng anh vẫn bị nghi kỵ, bị phân biệt đối xử ngay chính trên quê hương mình.
Chúng tôi quen nhau bắt đầu bằng một… thùng sách...
Giữa mình và Khánh Trường có chút tình văn nghệ tuy thỉnh thoảng mới gặp nhau. Nay Khánh Trường vừa ra đi xin đăng lại một bài viết về Trăng Thiền cách đây cũng đã mươi năm nhân Khánh Trường triển lãm một loạt tranh mới chủ đề là Đáo Bỉ Ngạn và có gởi cho Nguyễn hình chụp một số bức để đưa lên Phố Văn. Xin mời bạn đọc theo dõi bài viết.
Thật ra, trước 1975, tôi cũng đã đọc nhiều sách, nhiều tạp san văn học ở Sài Gòn, (hay tỉnh lẻ), tôi chưa đọc đến tên Khánh trường, biết tên Khánh Trường. Tên đó (hay bút danh đó) hoàn toàn xa lạ đối với tôi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.