Hôm nay,  

Gia Trung Tứ Lão

09/09/202207:27:00(Xem: 3598)

2000-vvnm-ng-v-khanh-gray

LTS:  Nhân ngày Việt Báo tròn 30 tuổi, xin trích lại bài viết của cố nhà báo kỳ cựu Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Ông là vị chủ biên sáng lập Việt Báo, và là chánh chủ khảo đầu tiên của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sinh ngày 2 tháng 10 năm 1921. Làm báo từ năm 1948, Ông là nhà báo chuyên nghiệp đã sống liên tục với nghề báo suốt 74 năm. Ông từng du học và tham quan về truyền thông tại Nhật Bản và Hoa Kỳ, thời Việt Nam Cộng Hoà, ông là Tổng Thư Ký Việt Nam Thông Tấn Xã, đồng thời là giáo sư dạy về báo chí tại các Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt, người thầy của nghề báo Việt Nam.

Sau hơn 12 năm tù cộng sản, năm 1992, ông cùng vợ rời Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với các con tại San Jose, khi đó Ông đã qua tuổi bẩy mươi, có thể an nhàn nghỉ ngơi bên cạnh con cháu. Nhưng êm ấm mới được dăm ba tháng, chuông điện thoại lại reo.- “Lão Nhị, làm báo lại nhé.” – “Làm thì làm. Sợ gì.” – “Lão Nhị phải xách cái túi xuống ở luôn dưới này. Xuống được không” – “Cái gì? Cái này... Hà hà... để coi, Lão Tứ.” (Lão Nhị-Lão Tứ là cách thức xưng hô trong tù của Ông và nhà thơ Trần Dạ Từ, người cùng nhà văn Nhã Ca sáng lập tờ Việt Báo năm 1992).

 

Chỉ vài ba ngày sau, với một cái túi nhỏ trên tay, Ông cười cười xuất hiện tại Little Saigon. Và từ thứ Bảy ngày 5 tháng 9 năm 1992, Việt Báo Kinh Tế ấn hành số đầu tiên. Liên tục suốt 20 năm, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh giữ mục bình luận “Việt Báo: Trước Thời Cuộc” cho tới những năm tháng cuối đời.

Ông viết bài này vào mùa xuân năm 2005, nhắc đến các văn nghệ sĩ cầm bút của miền Nam: “Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng.” 


Vị cố nhà báo có “chí chim bằng và trái tim sư tử” của chúng ta từ trần tại tư gia vào ngày Chủ Nhật, 12 tháng Tám năm 2012, hưởng thọ 92 tuổi. Với 92 năm sống và 74 năm cầm bút, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh là tấm gương tiêu biểu phẩm giá của người làm báo, tỉnh thức và chân thực. Khi thanh thản ra đi, ông gửi lại cho tương lai niềm tin vào con người và lý tưởng tự do, dân chủ. 

 

***

Vào dịp Xuân mới, tôi muốn ôn lại một chuyện cũ. Đó là chuyện Tứ Lão ở trại tù Cải tạo Gia Trung, nơi giam giữ phần đông các văn nghệ sĩ năm xưa. Trong thời miền Nam Việt Nam còn được sống tự do dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, các nhà văn nhà báo thường ít khi có dịp gặp nhau, nếu có là trong khoảng thời gian ngắn của các dịp lễ tết hay họp báo, hoặc ngắn hơn nữa là dịp tao ngộ qua tách cà-phê ở nhà hàng để rồi sau đó, vội vã người nào việc nấy đi làm phận sự riêng. Nhưng sau khi Saigon sụp đổ, nhờ ơn Bác và Đảng các văn nghệ sĩ bị lùa đi cải tạo theo kiểu “tam cùng” (cùng ăn cùng ở cùng làm), chúng tôi đã có dịp gặp nhau hàng ngày trong nhiều năm liên tiếp, tạo thành mối quan hệ khắng khít với nhau hơn trước rất nhiều.

 

Hoàn cảnh những người văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trong trại tù cải tạo Gia Trung, gần Pleku, có lẽ khắt khe hơn những thành phần khác, nên đã có một bài thơ nhiều anh em đã biết, tôi xin nhắc lại như sau:

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta,

“Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu,

“Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết.

“Sắp đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê.”

(Nguyễn và Nguyễn là nhà báo Nguyễn Viết Khánh và nhà văn Nguyễn Sĩ Tế. Lưu là nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Doãn là nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Lê là người làm thơ, tức Lê Hà Vĩnh bút hiệu Trần Dạ Từ).

 

Chính trong bối cảnh gần đất xa trời đó, nhóm Gia Trung Tứ Lão ra đời. Chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến bộ Tứ này. Nay vì trong bốn đã có hai ra đi, tức đã mất đi một nửa nên chúng tôi muốn nói rõ hơn chuyện này một chút để tránh mọi sự hiểu lầm. Việc thành lập nhóm Tứ lão không phải là chuyện cố ý để tách rời khỏi các anh chị em văn nghệ sĩ khác mà chỉ do một sự tình cờ, đúng hơn là một cái “duyên”. Chúng tôi cũng không uống máu ăn thề hay họp nhau theo kiểu Đào viên kết nghĩa vì làm như vậy là tự cho chân vào cùm trong biệt giam.

 

sd nvk
Từ trái: Mặc Thu Lưu Đức Sinh - Nguyễn Sỹ Tế - Trần Dạ Từ Ký họa CHÓE



Tứ Lão có Lưu Đức Sinh, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ và tôi. Tôi được biết nhiều hơn như một ký giả, nhưng báo chỉ là cái vỏ, còn cái ruột vẫn là văn. Chúng tôi là giống đa tình, nhạy cảm. Và cái “duyên” gắn bó là cả bốn đều thích thơ Đường và chuyện chưởng, nên hay gặp nhau trong giờ nghỉ để đấu láo cho đỡ buồn. Đấu láo để có vẻ tếu, nhằm tránh cái nhìn soi bói của đám cán bộ công an coi tù cũng như đánh lạc hướng những tay sai “ăng-ten” nghe lén của chúng. Thật ra giữa những chuyện tếu, khi có thời cơ vắng người chúng tôi lại rỉ tai nhau về những chuyện cần cảnh giác trong trại, nhất là những tin tức bên ngoài do người nhà đi thăm nuôi lén cho biết.

 

Về Đường thi, chúng tôi đã có 3 người là nhà thơ, còn về chuyện chưởng tôi lãnh phần chính. Ở ngoài đời từ năm 1960, tôi đã từng dịch nhiều đoạn chuyện chưởng từ chữ Hán theo sách báo của Hong Kong, không phải vì tôi muốn kiếm thêm tiền mà vì thích chuyện chưởng. Bởi vậy tôi nhớ được các chuyện chưởng nên có thể “quay phim” những đoạn mà tôi cho là hay, tôi cũng bình luận theo kiểu Mao Tôn Cương đôi khi đượm vẻ tiếu lâm nên khi chúng tôi nói chuyện, nhiều anh em tù nhân khác cũng xúm lại nghe để rồi cùng phá lên cười ha hả, xôm trò vô cùng. Về việc dịch tiểu thuyết võ hiệp từ chữ Hán ra tiếng Việt, người tâm đắc với tôi nhất là anh Mặc Thu. Chúng tôi đều đồng ý về một điểm: Giỏi chữ Hán không có nghĩa là đã biết dịch chuyện chưởng cho hay. Dịch chuyện chưởng là phải thấu được ngôn ngữ và tác phong đặc biệt của tiếng Việt trong chuyện chưởng. Nếu không, chuyện chưởng Việt ngữ sẽ trở thành ngô nghê, lạc lõng và khó hiểu. Về điểm này tôi xin nói thêm tôi rất kính phục các vị dịch chuyện chưởng đi trước tôi vào thời đó như Hàn Giang Nhạn và Tiền Phong, tôi chẳng khi nào mạo muội muốn tranh tài với mấy vị đàn anh trong môn “võ công” này.

 

Vậy danh xưng “Tứ lão” ở đâu mà ra? Sự thật chúng tôi không bao giờ tự coi như một nhóm riêng nên không có chuyện đặt tên cho nhóm. Nhưng sau nhiều tháng họp thành thói quen như vậy, một hôm tình cờ tôi quay lại cuốn Thiên Long Bát Bộ, có đoạn nói đến Tứ đại ác nhân. 1)Đệ nhất Ác Đoàn Diên Khánh, Ác quán mãn doanh, 2)Đệ nhị Ác Diệp Nhị Nương, Vô Ác bất tác, 3)Đệ tam Ác Nam Hải Ngạc Thần, Hung thần Ác sát, 4)Đệ tứ Ác Vân Trung Hạc, Cùng hung cực Ác. Nên ghi nhớ hỗn danh của kẻ ác nhất có chữ Ác đứng đầu. kẻ ác nhì có chữ Ác đứng thứ hai, kẻ ác ba có chữ Ác thứ đứng thứ ba và kẻ ác bốn có chữ Ác đứng thứ tư. Cách dùng chữ của Kim Dung quả thật đã vào hàng cao thủ đệ nhất thiên hạ. Sau khi kể xong chuyện này bỗng có một bạn thính giả đứng ngoài xem nói: “Mấy ông có 4 người, vậy không giống tứ ác rồi sao”. Mọi người cùng rú lên cười và chúng tôi cũng cuời híp mắt, thích thú. Chuyện cuời nghe qua rồi bỏ mà. Hôm sau chúng tôi lại ngồi với nhau, nhưng trước khi định làm gì, không hiểu sao cả bốn bỗng im lặng rồi bốn cái mồm cùng nhếch ra cười và nói “Tứ Ác họp”. Chúng tôi đã bắt đầu yêu trò giễu này.

 

Vài ngày sau, Trần Dạ Từ nói: “Trong chuyện họ gọi Đệ nhất Ác là Lão Đại, vậy trong chúng ta ai là Lão Đại đây?” Chúng tôi đồng ý anh nào lớn tuổi nhất là Lão Đại. Mặc Thu và tôi xấp xỉ tuổi nhau, nhưng vì Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt, trông già hơn cả bọn nên tôi đề nghị Mặc Thu là Lão Đại. Mọi người hoan ngênh. Tôi là Lão Nhị, Nguyễn Sĩ Tế là Lão Tam và Trần Dạ Từ là Lão Tứ. Từ đó và cả sau khi ra khỏi tù Cải tạo, bốn danh xưng “ác” bám lấy chúng tôi khi nói chuyện với nhau. Bốn anh ác đó chỉ là “giả tưởng”, hoặc như về sau có anh nào bị ai - hay bà nào - gọi là ác thật, thì cố nhiên đó là chuyện cấm ngoại cuộc không ai được biết. Thật ra anh em chúng tôi đều hiền khô chớ không ác, nhưng mỗi người một vẻ khác nhau.

 

Trong bốn người, Nguyễn Sĩ Tế có vẻ đạo mạo nhất, ăn nói nhỏ nhẻ chậm rãi, ít khi nóng nảy lớn tiếng, anh giỏi chữ Hán hơn tôi nên tôi học được ở anh rất nhiều. Tác phong của anh đúng là một nhà mô phạm làm tôi liên tưởng đến một nhân vật trứ danh trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ. Đó là vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương, ẩn dật trong một hang núi của đỉnh Hoa Sơn. Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt nên tôi thấy anh giống Trương Tam Phong, Chưởng môn nhân phái Võ Đang trong cuốn Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Trần Dạ Từ giống anh chàng Quách Tĩnh trong cuốn Anh Hùng Xạ Điêu, võ công đầy mình nhưng lại rút về trấn ải thủ đồn, một tay điều binh khiển tướng để giữ sao cho thành (hay Tòa soạn) khỏi sập tiệm. Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh thì sao? Tôi chỉ là một lãng tử đơn thân khăn gói quả mướp, xách kiếm đi hoang để.... “Tiếu Ngạo Giang Hồ”.

 

Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng. Trong những tháng tôi bị biệt giam, chân bị cùm đau nhức đêm ngày, cơ thể bị teo lại vì bị bỏ đói, cán bộ Cộng sản bảo tôi bị “bao vây kinh tế”, tức là một cách tra tấn không có dụng cụ cực hình để ép tôi phải khai ra những gì họ nghi là tôi biết mà không chịu nói. Lạ lùng thay lúc tôi tin tôi sắp chết lại lúc đầu óc tôi sáng tác được chuyện khoa học giả tưởng, chuyện hư cấu diễm tình mà sau khi ra khỏi biệt giam tôi có dịp kể lại cho các anh em trong tù nghe. Nhiều người tưởng đó là những tiểu thuyết tôi đã đọc từ trước khi đi cải tạo.

 

Tôi không phải là một người anh hùng. Nhà văn nhà báo không phải là những người anh hùng. Chúng tôi cũng biết sợ như bất cứ ai. Trong tù Cải tạo Cộng sản, bất cứ ai dù trước là ông quan, ông tướng, ông tá, khi đi lao động gặp lúc có những nhu cầu của cơ thể con người, tất cả đều biết chụm chân đứng nghiêm như lính, hướng về anh cán bộ mặt còn non choẹt để hô lớn: “Báo cáo cán bộ, xin phép cán bộ cho tôi đi tiểu”. Nếu không làm như vậy mà tự ý đi ra bờ ruộng bờ rừng, cán bộ quản chế sẽ nổ súng bắn bỏ không chút nương tay. Năm xưa nếu Hàn Tín không chịu nhục luồn chôn thì về sau làm sao có cơ hội làm Tướng và trả ơn bát cơm Phiếu mẫu? Ở tù Cộng sản cũng có những người tù anh hùng. Những người đó không trở về. Họ còn ở đó, trong lòng đất lạnh. Giờ đây những nấm mồ hoang đó có thể đã bị san bằng không còn chút di tích. Chúng tôi đã trở về.

 

Tứ lão đều đã đến được nước Mỹ. Lão Đại đến muộn nhất nhưng anh lại là người rời nước Mỹ sớm nhất và cũng ra đi vĩnh viễn sớm nhất. Năm 2002 Mặc Thu từ trần ở Việt Nam trong khi về thăm quê nhà. Tôi có duyên may được góp phần xây dựng tờ Việt Báo nên từ hơn 12 năm qua tôi và Trần Dạ Từ làm việc sát cánh bên nhau, ngay cả trong những năm gần đây tôi không còn ở Nam California. Riêng với anh Nguyễn Sỹ Tế, tôi ít khi được gặp anh. Nhưng tôi còn nhớ hình ảnh lần chót tôi tình cờ được thấy anh. Lúc đó khoảng năm 1997, tôi đang đi bộ trên vỉa hè đường Bolsa, chợt nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đang chống gậy đi chầm chậm trên vỉa hè đường phía bên kia. Trông anh đã có vẻ yếu rồi, mắt đeo kính đen có vẻ thị lực cũng rất yếu. Tôi muốn chạy băng qua đường để nắm tay anh, nhưng qua làm sao được vào giờ đường Bolsa đông xe nhất. Giòng đời của nước Mỹ ồn ào và sống động đã ngăn cách anh và tôi. Bây giờ nghĩ lại, phải chăng điềm báo trước tôi nhìn thấy anh lần chót? Nguyễn Sĩ Tế không còn nữa.

 

Năm 2002, khi được tin Mặc Thu qua đời tôi viết bài “Thắp Nén Hương Lòng” để tiễn anh về chốn cửu tuyền.

Bài viết này cũng là một giọt lệ trong không gian trừu tượng để đưa anh Nguyễn Sĩ Tế về Thế giới bên kia, đến Văn miếu trên cao thẳm, nơi có những mộ bia ghi công đức của những bực thầy vĩ đại ở cõi Thế này.

 

Tháng 12 năm 2005.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
“Cơn mưa di tản trở về giữa quá khứ và hiện tại, giữa người chết và người sống. Đó là lăng kính mà mọi thứ đã được chắt lọc qua. Những năm tháng trở nên trong suốt như nước. Những gì chúng ta thấy là những hình dạng mờ nhạt đang trôi về nguồn. Tất cả những viễn cảnh và cách diễn giải của chúng ta khi chúng ta quay trở về là đường nét chuyển động của người khác. Để tồn tại, chúng ta đã di tản qua thời gian, và để nói, chúng ta học ngôn ngữ của mưa.”
Bạn tắt hết điện thoại, truyền hình, bạn gập lại các quyển sách đang đọc. Bạn ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, khóa kín cửa, hay bạn ngồi trên một tảng đá trong rừng, hay bạn ngồi giữa chợ, điều ấy không quan trọng. Bạn không cần phải thực hành bất kì một lễ nghi tôn giáo, yoga hay thiền nào cả.
Một trong những thành tựu quan trọng đáng tự hào của cộng đồng người Việt là sự thành công của những cây bút người Mỹ gốc Việt, kể câu chuyện Việt góp phần vào nền văn học lưu vong Việt Nam cũng như góp mặt vào dòng văn học chính Hoa Kỳ. Bài giới thiệu sách này thuộc loạt bài giới thiệu các tác giả, tác phẩm thuộc dòng văn học thế hệ thứ nhất-thứ hai, trong thời điểm 50 Năm Nhìn Lại, từ biến cố tháng Tư, 1975.
Bạn có thích đọc thơ không? Người ta nói, mỗi người Việt là mỗi nhà thơ. Nhà thơ sao lại không đọc thơ? À, như vậy, bạn có đọc thơ. Dĩ nhiên bạn thích đọc thơ hay. Nhưng làm thế nào để biết bài thơ hay? Có bài thơ được nhiều người khen hay quá trời, sao bạn lại nghĩ là dở. Hoặc bạn hí hửng khoe bài thơ hay vừa đọc được, người bạn đọc xong, lắc đầu. Sao vậy? Thơ hay không bảo đảm người đọc đồng ý với nhau. Hãy hỏi bạn Trí Thông Minh Nhân Tạo (A.I.), trông cậy anh ta biết nhiều, hiểu rộng, có thể cho đôi lời vắn tắt.
Tôi có một thói quen xấu khi đọc sách – luôn bắt đầu bằng cách mở trang cuối và đọc hàng cuối rồi gấp sách lại xem đầu óc mình nghĩ gì. Hôm nay, mở cuốn “Stories from the Edge of The Sea”, cuốn sách dày 216 trang với 14 truyện ngắn của tác giả người Mỹ gốc Việt Andrew Lâm, tôi lẩm nhẩm: “Hãy đứng đến giây phút cuối cùng, và bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ phải đứng một mình.“* “Giây phút cuối cùng”? Không hiểu sao hình ảnh Việt Nam những ngày cuối tháng Tư, 1975 hiện về. Dẫu chỉ là một đứa bé con 6 tuổi vào thời điểm này, nhưng lớn lên và sống với những hệ lụy lịch sử kéo dài từ cái ngày định mệnh đó, ngay trên mảnh đất quê hương bị đánh mất, những mảng đời, những câu chuyện, những ám ảnh, những mất mát luôn là những gì mà chính tôi, bạn bè tôi, gia đình tôi, quê hương, dân tộc tôi, vẫn gồng mình hứng chịu… dẫu nửa thế kỷ đã trôi qua. Tôi hiểu mình sẽ bắt đầu đọc cuốn sách này bằng một sự “khó ở” trong lòng của một độc giả người Việt sống xa quê hương, trong tâm trạng u uẩn
Cô lớn lên như một đứa con gái tomboy, đánh gậy bóng chày giỏi hơn thằng em trai mình, có thể đá văng cặp kính ra khỏi mặt một thằng con trai, và vì thế cô không gần với mẹ lắm. Cô chẳng thấy mẹ mình có gì đáng yêu kính. Bà là người với một thân hình đẫy đà, có tật ngồi lê đôi mách, luôn tay luôn chân công việc nhà cửa, lại nợ nần cờ bạc, chẳng bao giờ thích hoạt động ngoài trời, vì quá quan tâm đến những chuyện trong gia đình nên bà chẳng hề đi đâu thăm thú thế giới, đại dương này nọ, ví dụ, bầu trời xanh chẳng có gì cho bà quan tâm, thấy thú vị.
Hôm nay 17 tháng 3, 2025, dân chúng Canada tạm biệt Justin Trudeau. Tôi yêu mến thủ tướng và tự hào về ông. Trudeau nói: Dân chủ không phải được ban cho, tự do không phải được ban cho, Canada cũng không phải được ban cho. Bạn phải giành lấy chúng bằng tất cả lòng can đảm, sự hy sinh và công việc cần mẫn mỗi ngày.
Vào đầu tháng 3, 2025 xem chương trình The Jimmy TV trên YouTube trò chuyện với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, cụ bà năm nay 86 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn trò chuyện với nhau. Gần sáu thập niên qua, Hè năm 1967, sau bốn tháng học Quân Sự trong giai đoạn I cùng với Khóa 24 ở Truồng Bộ Binh Thủ Đức, Khóa Nguyễn Trãi I thuyên chuyển về Trường ĐH. CTCT ở Đà Lạt. Vào thời điểm đó Vòng Tay Học Trò của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã tái bản nhiều lần gây xôn xao trong dư luận và dĩ nhiên thu hút độc giả nơi nầy vì nhân vật và bối cảnh xảy ra trên mảnh đất nầy.
Một buổi chiều, từ rất lâu rồi, tôi thấy mình đơn độc trên bãi biển Vũng Tàu, Việt Nam, một thành phố biển gần Sài Gòn, đứng nhìn ra khơi. Chiến tranh ngày một tệ hơn. Huế và Đà Nẵng đã thất thủ. Tiếp theo là cao nguyên Trung Phần. Sài Gòn đang hoảng loạn. Quân đội cộng sản đang tiến quân mà không bị cản trở. Tôi mới mười một tuổi và khá nhỏ con so với tuổi của mình. Bãi biển gần như vắng tanh. Gió và sóng như thét gào bên tai tôi. Với hai cánh tay dang rộng, tạo thành những hình thù kỳ lạ trên không, tôi lớn tiếng tụng niệm những câu thần chú.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.