Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Di Sản Âm Nhạc Của Người Mỹ Gốc Phi Châu

26/06/202000:00:00(Xem: 1851)
  
DI SAN AM NHAC NGUOI MY DA DEN 02

Những vũ công người Mỹ gốc Phi Châu đang trình diễn vũ nhạc.(www.pixabay.com)


Tháng 6 là tháng âm nhạc của người Mỹ gốc Phi Châu tại Hoa Kỳ. Nói cho có đầu có đuôi thì vào ngày 7 tháng 6 năm 1979, Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã ban hành sắc lệnh ghi nhận rằng tháng 6 là tháng âm nhạc của người da đen ở Mỹ, theo www.en.wikipedia.org.

Trong tuyên bố năm 2016, Tổng Thống Barack Obama nói rằng âm nhạc và các nhạc sĩ người Mỹ gốc Phi Châu đã giúp đất nước này “để khiêu vũ, để bày tỏ niềm tin của họ qua bài hát, để tụ tập biểu tình chống bất công, và để bảo vệ sự cam kết chắc chắn của quốc gia này đối với sự tự do và cơ hội cho tất cả mọi người.”

Sau khi người đàn ông da đen George Floyd bị một cảnh sát da trắng đè cổ tới chết tại thành phố Minneapolis vào ngày 25 tháng 5 năm 2020, những cuộc biểu tình rầm rộ đã bùng nổ trên khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới để chống lại sự bạo hành của cảnh sát và sự kỳ thị chủng tộc.

Người Mỹ gốc Phi Châu đã có mặt ở Mỹ trên 400 năm kể từ khi người nô lệ Phi Châu đầu tiên được chở tới Jamestown tại Virginia vào năm 1619, theo www.en.wikipedia.org. Người Mỹ da đen đã đóng góp rất nhiều cho nước Mỹ, mà trong đó âm nhạc là một trong những lãnh vực nổi bật, từ nhạc Folk, nhạc Blues, nhạc Jazz, cho tới nhạc Rock and Roll và nhạc Hip-Hop and Rap.

Đây là di sản văn hóa rất lớn của người Mỹ gốc Phi Châu góp phần làm phong phú thêm cho xã hội đa chủng tộc và đa văn hóa Hoa Kỳ.
 
Một chút bối cảnh lịch sử
 
Âm nhạc người Mỹ gốc Phi Châu là một từ ngữ bao gồm phạm vi đa dạng của âm nhạc và thể loại âm nhạc phần lớn được phát triển bởi người Mỹ gốc Phi Châu. Nguồn gốc của chúng nằm trong dạng âm nhạc phát sinh từ điều kiện lịch sử của chế độ nô lệ mà đặc trưng cho cuộc sống của người Mỹ gốc Phi Châu trước cuộc Nội Chiến Mỹ (1861-1865).

Sau Nội Chiến, người Mỹ da đen, thông qua công việc là nhạc sĩ chơi nhạc Châu Âu trong các ban nhạc quân đội, đã phát triển một phong cách âm nhạc mới gọi là ragtime dần dần phát triển thành nhạc jazz. Trong việc phát triển hình thức âm nhạc sau này, người Mỹ gốc Phi Châu đã đóng góp kiến thức về cấu trúc đa nhịp điệu phức tạp của điệu nhảy và âm nhạc dân gian của các dân tộc trên khắp miền tây và vùng phụ cận sa mạc Sahara ở Châu Phi. Những hình thức âm nhạc này có ảnh hưởng trên phạm vi rộng lớn đối với sự phát triển âm nhạc tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới trong thế kỷ 20.

Các thể loại hiện đại của nhạc blues và ragtime đã được phát triển vào cuối thế kỷ 19 bằng cách hợp nhất các cách hát của người dân tại Tây Phi - sử dụng hàng loạt hòa âm tự nhiên và các nốt blue.

Băng nhạc jazz và blues đầu tiên được thực hiện vào thập niên 1920s. Các nhạc sĩ người Mỹ gốc Phi Châu đã phát triển các loại nhạc liên quan như rhythm  và blues vào thập niên 1940s. Vào thập niên 1960s, những người trình diễn nhạc tâm linh có ảnh hưởng lớn đến các ca sĩ người Mỹ và người Anh da trắng. Vào giữa những năm 1960, các nhạc sĩ da đen đã phát triển nhạc funk và họ là số đông trong những nhân vật hàng đầu vào cuối thập niên 1960s và 1970s của thể loại hợp nhất nhạc jazz-rock. Trong thập niên 1970s và 1980s, các nghệ sĩ da đen đã phát triển nhạc hip-hop, và trong những năm 1980 đã giới thiệu loại vũ điệu pha trộn được biết là nhạc nhà. Âm nhạc hiện đại chịu ảnh hưởng rất nhiều từ âm nhạc người Mỹ gốc Phi Châu.

DI SAN AM NHAC NGUOI MY DA DEN 01

Ca sĩ Slayton Jubilee giúp giải trí nhân viên của nhà máy ấp trứng Old Trusty Incubator Factory, Clay Center, vào khoảng năm 1910. (www.en.wikipedia.org

 
Nhạc Thiêng Liêng
 
Nhạc thiêng liêng, gồm nhạc tâm linh và nhạc phúc âm, miêu tả vai trò trung tâm mà âm nhạc đóng góp trong đời sống tâm linh và tôn giáo người Mỹ gốc Phi Châu. Hình thái sơ khai của sự trình diễn âm nhạc da đen tại Mỹ, nhạc tâm linh dựa vào các thánh thi và thánh ca Thiên Chúa Giáo và đã hòa hợp với các loại âm nhạc Phi Châu và các hình thức âm nhạc thế tục của người Mỹ. Nhạc tâm linh bắt nguồn từ truyền khẩu và truyền đạt những giá trị Thiên Chúa Giáo trong khi cũng miêu tả các khó khăn của người nô lệ.

Nhạc phúc âm bắt nguồn trong nhà thờ da đen và đã trở thành thể loại nhạc phổ thông được thừa nhận trên toàn cầu. Trong những biểu hiện ban đầu, nhạc phúc âm có chức năng như là sự thực hành tôn giáo và nghi lễ không thể thiếu trong thời gian các buổi lễ lộc. Hiện nay, nhạc phúc âm được bán trên thị trường và thu hút những âm nhạc hiện đại, thế tục trong khi vẫn chuyển tải những ý tưởng tâm linh và tôn giáo.

Người Mỹ gốc Châu Phi đã phát triển thánh ca phong phú từ tâm linh được hát trong thời kỳ nô lệ. Trong thời kỳ Second Great Awakening [Phục Hưng Vĩ Đại Lần Thứ Hai] tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thứ 19, dẫn tới sự trỗi dậy của thể loại âm nhạc phổ biến mới. Fanny Crosby, Ira D. Sankey, và nhiều người khác đã chế tác âm nhạc chứng thực đối với cuộc thập tự chinh truyền giáo. Các bản nhạc này thường được gọi là "những bài ca phúc âm" khác với các bài thánh ca, vì chúng thường bao gồm một điệp khúc (hoặc hợp xướng) và thường (dù không phải luôn luôn) có nhịp độ nhanh hơn các bài thánh ca. Thí dụ về sự khác biệt, chúng ta thấy "Amazing Grace" là một bài thánh ca (không điệp khúc), nhưng "How Great Thou Art" là một bài ca phúc âm. Trong thời gian thế kỷ thứ 19 thể loại bài ca phúc âm phổ biến nhanh chóng trong Tin Lành và, tới mức độ thấp hơn nhưng vẫn còn mở rộng, trong Công Giáo. Thể loại bài ca phúc âm không phổ biến trong buổi lễ của các nhà thờ Chính Thống Giáo Đông Phương, vốn chỉ dựa vào các bài ca truyền thống, và không cho phép đệm nhạc cụ.
 
Nhạc Dân Gian
 
Nhạc dân gian của người Mỹ gốc Phi Châu nối kết trở lại với các truyền thống văn hóa Phi Châu. Xuất phát từ các hò đồng quê, hát lúc lao động và bài ca trò chơi, âm nhạc dân gian bùng nổ với diễn đạt xã hội. Âm nhạc phản kháng dân gian phổ biến trong thập niên 1960s, và ảnh hưởng của nó vẫn được tìm thấy trong nhạc hip-hop ngày nay.

Ngày xưa nhạc dân gian là một phần của “sự giải trí chung.” Điều này có nghĩa là các cộng đồng nhỏ như những ngôi làng hay các gia đình thư giãn bằng trò chơi và ca hát với nhau. Người dân thường tạo ra bài ca mới hay một khúc nhạc, hay tạo ra những thay đổi âm nhạc mà họ đã biết. Trong cách này âm nhạc thường biến đổi. Người dân có được ý tưởng âm nhạc từ các nhóm khác gần đó. Đây là lý do tại sao nhạc dân gian từ các quốc gia láng giềng thường có giai điệu giống nhau.

Ballad là một loại nhạc dân gian phổ biến. Đây là những bài hát dân gian kể chuyện (chúng là truyện kể). Đôi khi, chúng có điệp khúc sau mỗi câu hát để mọi người có thể tham gia. Ballad kể những câu chuyện về tình yêu, thần thoại hoặc văn hóa dân gian. Đây là cách những câu chuyện được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhạc dân gian được dùng để nhảy múa. Một số nhạc cụ có thể rất đơn giản, chẳng hạn như một đôi gậy, trống lắt hoặc trống đơn. Các nhạc cụ khác có thể gồm fiddle (chữ dân gian để chỉ “vĩ cầm”), kèn túi, đàn hạc, đàn tam thập lục hoặc các nhạc cụ thổi khác nhau, tùy thuộc vào thời gian của lịch sử và đất nước.

Nhạc dân gian được hát bởi mọi người khi họ làm việc. Trong những ngày đầu di dân Châu Âu vào Mỹ, những người tiên phong đã hát khi họ đi du lịch, những chàng cao bồi hát khi họ làm việc, nô lệ hát trên những cánh đồng bông.
 
Nhạc Blues
 
Nhạc blues hình thành nền tảng của âm nhạc người Mỹ đương đại. Như nhạc thiêng liêng và nhạc dân gian, nhạc blues cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống văn hóa và xã hội của người Mỹ gốc Phi Châu. Về mặt địa lý các hiện thân đa dạng của nhạc blues đã phát sinh tại nhiều vùng khác nhau, gồm Đồng Bằng Sông Mississippi, Memphis, Chicago, Miền Nam Texas. Mỗi biểu hiện khu vực của nhạc blues đều có âm thanh và thông điệp độc đáo riêng. Chẳng hạn, nhạc blues tại vùng Đồng Bằng Sông Mississippi làm rõ sự nghèo đói của khu vực trong khi ca tụng sự giàu có về thiên nhiên và văn hóa của nó.

Chữ Blues có thể xuất phát từ chữ “blue devils” [những con quỷ xanh], có nghĩa là u sầu và buồn bã; việc sử dụng sớm chữ này theo nghĩa này là trong trò hề Blue Devils (1798) của George Colman. Các chữ ‘những con quỷ xanh’ cũng có thể bắt nguồn từ Anh vào những năm 1600s, khi đó chữ này đề cập đến “ảo tưởng thị giác mạnh có thể đi kèm với việc từ bỏ rượu nghiêm trọng.” Theo thời gian, nhóm chữ này không còn để nói đến những con quỷ, và “nó đã chuyển sang ý nghĩa trạng thái kích động và trầm cảm.” Vào những năm 1800s tại Hoa Kỳ, chữ blues có liên quan đến việc uống rượu, một nghĩa tồn tại trong chữ ‘blue law’ hay ‘Sunday law’, cấm bán rượu vào Chủ Nhật. Mặc dù việc sử dụng chữ này trong âm nhạc người Mỹ gốc Phi Châu có thể xưa hơn, nhưng nó đã được chứng thực trong bản in từ năm 1912, khi bản nhạc “Dallas Blues” của nhạc sĩ Hart Wand trở thành tác phẩm blues có bản quyền đầu tiên.

Trong lời bản nhạc, chữ này thường được dùng để mô tả tâm trạng buồn chán. Trong ý nghĩa của tâm trạng buồn bã mà một trong những tài liệu được ghi  sớm nhất về “nhạc blues” được viết bởi Charlotte Forten, khi đó 25 tuổi, trong nhật ký của cô vào ngày 14 tháng 12 năm 1862. Cô là một người da đen sinh ra ở Pennsylvania, đang làm giáo viên ở South Carolina, dạy cho những người nô lệ và người tự do, và viết rằng cô “về nhà với nỗi buồn” vì cô cảm thấy cô đơn và thương hại chính mình. Cô đã vượt qua trầm cảm của mình và sau đó đã viết nhiều bản nhạc, như bản ‘Poor Rosy’, đã rất phổ biến trong những người nô lệ. Mặc dù cô thừa nhận không thể mô tả cách hát mà cô đã nghe, Forten đã viết rằng các bản nhạc “không thể được hát mà không có trái tim trọn vẹn và tinh thần bối rối,” là những điều kiện đã truyền cảm hứng cho vô số nhạc phẩm blues.
 
Nhạc Quân Đội
 
Khởi đầu với Cuộc Chiến Tranh Cách Mạng (hay Chiến Tranh Giành Độc Lập), người Mỹ gốc Phi Châu thường giữ vai trò quan trọng trong truyền thống ban nhạc quân đội của quân nhân. Trong Chiến Tranh Cách Mạng và Nội Chiến, người Mỹ gốc Phi Châu đã phục vụ trong quân đoàn ống tiêu và trống. Các nhạc sĩ chơi trong các ban nhạc quân đội trong Thế Chiến Thứ Nhất và Thế Chiến Thứ Hai thường phối hợp các thể loại âm nhạc hiện đại, như jazz, vào trong các tuyển tập nhạc của họ. Họ cũng lưu diễn tại Hoa Kỳ và Châu Âu để giải trí cho các khán giả thường dân và binh sĩ.
 
Nhạc Jazz
 
Nhạc Jazz phát triển từ nhạc ragtime [của người Mỹ da đen], một thể loại nhạc cụ được cách điệu của người Mỹ. Jazz lần đầu tiên được thực hiện ở thành phố New Orleans và thường được làm nổi bật bởi sự sáng tạo âm nhạc của người Mỹ gốc Phi Châu. Nhiều hình thức của thể loại này tồn tại đến ngày nay, từ âm nhạc hướng dẫn khiêu vũ của thời đại ban nhạc lớn thập niên 1920s đến tài năng thực nghiệm của nhạc jazz thăng hoa hiện đại.

DI SAN AM NHAC NGUOI MY DA DEN 03

Nhạc sĩ nhạc Jazz Louis Arm Strong thổi kèn trumpet.(www.pixabay.com)


Jazz là thể loại nhạc bắt rễ trong các cộng đồng người Mỹ gốc Phi Châu của thành phố New Orleans tại Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, với gốc gác của nó trong nhạc blues và nhạc ragtime. Kể từ Thời Đại Nhạc Jazz của thập niên 1920s, nó đã được thừa nhận là hình thức diễn đạt âm nhạc chính trong âm nhạc truyền thống và phổ biến, được nối kết bởi các mối ràng buộc thông thường của dòng họ âm nhạc người Mỹ gốc Phi Châu và người Mỹ gốc Châu Âu.

Jazz được đặc trưng bởi các nốt nhạc swing và blues, giọng ứng tác, đa âm điệu và ngẫu hứng. Jazz có nguồn gốc từ biểu hiện văn hóa và âm nhạc Tây Phi, và trong các truyền thống âm nhạc Mỹ gốc Phi Châu.

Khi nhạc jazz lan rộng khắp thế giới, nó đã thu hút các nền văn hóa âm nhạc quốc gia, khu vực và địa phương, giúp làm phát sinh ra các thể loại khác nhau. Nhạc jazz New Orleans bắt đầu vào đầu thập niên 1910s, kết hợp các cuộc diễn hành tháng ba có ban nhạc kèn đồng trước đó, khiêu vũ bốn cặp theo lối Pháp, biguine, ragtime và blues với sự ngẫu hứng đa âm tập hợp. Trong thập niên 1930s, các ban nhạc lớn có khuynh hướng khiêu vũ được sắp xếp rất kỹ lưỡng, nhạc jazz Kansas City, và nhạc jazz Gypsy là những thể loại nổi bật. Bebop nổi lên vào những năm 1940, chuyển nhạc jazz từ nhạc phổ biến có thể nhảy sang loại "nhạc của nhạc sĩ" thách thức hơn, được chơi ở nhịp độ nhanh hơn và sử dụng nhiều ngẫu hứng dựa trên hợp âm. Nhạc Cool jazz được phát triển vào gần cuối thập niên 1940s, giới thiệu những âm thanh êm dịu, mượt mà hơn và những dòng giai điệu dài.

Vào thập niên 1950s chứng kiến sự xuất hiện của nhạc jazz tự do, khám phá việc chơi mà không theo vận luật thông thường, nhịp và cấu trúc chính quy, và vào giữa thập niên 1950s, loại nhạc hard bop [thể loại phụ của nhạc jazz] xuất hiện, giới thiệu những ảnh hưởng từ nhịp điệu và blues, phúc âm, và blues, đặc biệt là trong việc chơi kèn saxophone và đàn piano. Modal jazz được phát triển vào cuối thập niên 1950s, sử dụng điệu, hoặc gam âm nhạc, làm cơ sở cho cấu trúc âm nhạc và ngẫu hứng. Hợp nhất nhạc jazz-rock xuất hiện vào cuối thập niên 1960s và đầu thập niên 1970s, kết hợp sự ngẫu hứng của nhạc jazz với nhịp điệu của nhạc rock, nhạc cụ điện và âm thanh sân khấu được khuếch đại cao. Đầu thập niên 1980s, một hình thức hợp nhất jazz thương mại được gọi là jazz mượt mà đã thành công, thu được những phát trên những kênh truyền hình quan trọng. Các phong cách và thể loại khác có rất nhiều trong thập niên 2000s, chẳng hạn như nhạc jazz Latin và Afro-Cuba.
 
Nhạc Rhythm và Blues
 
Tiền thân của nhạc tâm linh, Rhythm và Blues (R&B) là một thể loại đa dạng về phong cách khác có nguồn gốc từ nhạc jazz, nhạc blues và nhạc phúc âm. R&B đã giúp truyền bá văn hóa người Mỹ gốc Phi Châu và phổ biến ý tưởng về hợp nhất chủng tộc trên làn sóng phát thanh và trong xã hội người da trắng. Sự lặp đi lặp lại của thể loại này ngày nay đã đồng hóa tâm linh và các đặc tính trầm cảm.

Nhạc rhythm và blues là một thể loại âm nhạc phổ biến bắt nguồn từ các cộng đồng người Mỹ gốc Phi Châu trong thập niên 1940s. Thuật ngữ này ban đầu được sử dụng bởi các công ty thu âm để mô tả các bản ghi âm được bán chủ yếu cho người Mỹ gốc Phi Châu ở thành thị, vào thời điểm “urbane, rocking, jazz dựa vào âm nhạc với nhịp nhấn mạnh” đang trở nên phổ biến hơn. Trong loại nhạc rhythm và blues thương mại của thập niên 1950s đến 1970s, các ban nhạc thường gồm có piano, một hoặc hai cây đàn guitar, bass, trống, một hoặc nhiều saxophone, và đôi khi là những giọng ca nền. Các chủ đề trữ tình của nhạc R&B thường chứa đựng trải nghiệm đau đớn của người Mỹ gốc Phi Châu và tìm kiếm tự do và niềm vui, cũng như chiến thắng và thất bại trong lãnh vực các mối quan hệ, kinh tế và khát vọng.
 
Nhạc Rock and Roll
 
Nhạc rock 'n' roll kết hợp các yếu tố từ tất cả các thể loại nhạc của người Mỹ gốc Phi Châu và tổng hợp chúng với các thành phần nhạc pop và nhạc đồng quê của người Mỹ. Thể loại này ra đời vào thập niên 1950s và lôi cuốn những khát khao nổi loạn của văn hóa giới trẻ Mỹ.

Trong các phong cách rock and roll ban đầu, piano hoặc saxophone thường là nhạc cụ chính, nhưng những nhạc cụ này thường được thay thế hoặc bổ sung bằng guitar vào giữa cuối thập niên 1950s. Nhịp chính yếu là một điệu nhảy với nhịp sau được nhấn mạnh, hầu như luôn được cung cấp bởi một cái trống cơm. Rock and roll cổ điển thường được chơi với một hoặc hai cây guitar điện (một dây dẫn, một nhịp), bass đôi (string bass) hoặc sau giữa thập niên 1950s một cây guitar bass điện và bộ trống.

Thuật ngữ “rock and roll” được Bách Khoa Từ Điển Britannica định nghĩa là âm nhạc bắt nguồn từ giữa thập niên 1950s và sau đó phát triển “thành phong cách quốc tế toàn diện hơn được biết là nhạc rock.” Thuật ngữ này thỉnh thoảng cũng được sử dụng đồng nghĩa với “nhạc rock” và được định nghĩa như vậy trong một số từ điển. Nhiều bản thu âm nhạc phúc âm, blues và swing đã sử dụng chữ này trước khi nó được dùng thường xuyên hơn - nhưng vẫn không liên tục - vào thập niên 1940s, trên các bản ghi âm và trong các bài phê bình về thứ được biết là nhạc “rhythm và blues” nhắm vào khán giả da đen.

Năm 1934, bản nhạc “Rock and Roll” của nhóm Boswell Sisters đã xuất hiện trong bộ phim Transatlantic Merry-Go-Round. Năm 1942, nhà báo chuyên mục của tạp chí Billboard là Maurie Orodenker bắt đầu dùng thuật ngữ "rock and roll" để mô tả các bản thu âm vui vẻ như “Rock Me” của Chị Rosetta Tharpe. Đến năm 1943, “Rock and Roll Inn” ở South Merchantville, New Jersey, được thiết lập như một địa điểm âm nhạc. Năm 1951, Cleveland, Ohio, tay đua đĩa nhạc Alan Freed bắt đầu chơi phong cách âm nhạc này trong khi phổ biến thuật ngữ “Rock and Roll” để mô tả nó.
 
Nhạc Hip-Hop và Rap
 
Nhạc Hip-Hop và rap là các truyền thống âm nhạc gắn chặt vào trong nền văn hóa của người Mỹ gốc Phi Châu. Giống như nhạc jazz, hip-hop đã trở thành một hiện tượng toàn cầu và đã tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhạc hip-hop sinh ra hình thức văn hóa toàn diện, trong khi rap vẫn là phương tiện để các nghệ sĩ nói lên các quan điểm và chia sẻ kinh nghiệm về các vấn đề xã hội và chính trị.

Nhạc hip hop, còn được gọi là nhạc rap, là thể loại nhạc phổ biến được phát triển ở Hoa Kỳ bởi người Mỹ gốc Phi Châu và người Mỹ gốc Latinh ở quận Bronx của thành phố New York vào thập niên 1970s. Nó gồm nhạc nhịp điệu chuẩn hóa thường đi kèm với rap, một bài phát biểu có nhịp điệu và vần điệu được hát lên. Nó được phát triển như một phần của văn hóa hip hop, một nền văn hóa nhóm được xác định bởi bốn yếu tố phong cách chính: MCing/rapping, DJing/scratching with turntables (Cào, đôi khi được gọi là chà, là một kỹ thuật DJ và bàn xoay để di chuyển dĩa nhạc qua lại trên bàn xoay để tạo ra âm thanh gõ hoặc nhịp điệu), break dancing (lối nhảy múa đầy năng lượng và nhào lộn, được phát triển bởi người Mỹ da đen), và graffiti writing (viết trên tường). Các yếu tố khác bao gồm nhịp mẫu hoặc dòng bass từ các bản ghi âm (hoặc nhịp và âm thanh tổng hợp) và nhịp đập nhịp nhàng.

Tóm lại, nói đến âm nhạc người Mỹ gốc Phi Châu tại Hoa Kỳ là nói đến lãnh vực bao quát và đa dạng mà không thể nào nói hết được trong một bài viết giới hạn như thế này. Vì vậy, bài viết này xin được xem như là một bài giới thiệu rất khái quát về nền âm nhạc mà người Mỹ da đen đã đóng góp trong suốt mấy trăm năm qua cho đất nước Hoa Kỳ.

Ý kiến bạn đọc
15/09/202011:14:35
Khách
Bài về nguồn gốc di sản nhạc Mỹ gốc Phi Châu rất hay.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nước mắt người dân , đổ xuống trên cánh đồng, trên mảnh vườn, trên ngôi nhà yêu thương sống bao năm qua. Nay bỗng trắng tay biến thành kẻ lang thang.
Không biết từ bao giờ, biệt ly chia lìa gắn liền với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Điều này thể hiện khá rõ qua văn học nghệ thuật. Văn học truyền khẩu có câu chuyện Hòn Vọng Phu, chuyện Thiếu Phụ Nam Xương về bị kịch người vợ ngóng trông chồng đi chinh chiến trở về.
Giải thi Hoa Hậu Áo Dài California năm 2020 diễn ra vào chiều Thứ Bảy 4 tháng 1 năm 2020 tại rạp hát Santa Clara Convention Center gồm 14 thí sinh
Lần đầu tiên kể từ các cuộc thi sắc đẹp tại Mỹ ra đời, vương miện cả bốn cuộc thi Miss America, Miss USA, Miss Teen USA và Miss Universe đều do những "bông hồng đen" - những người đẹp gốc Phi Châu nắm giữ.
Sau 28 năm ở trong ngôi nhà nhật báo, Việt Báo trong buổi chiều cuối năm đã nói lời chia tay với một nơi chốn thân quen, để sẽ mặc vào một manh áo mới nghiêng về văn học nghệ thuật, để khởi đi trên một con đường cam go mới ít người chọn dấn bước, trong một thời tiết truyền thông đổi mới từng giờ từng khắc.
Lâu đời nhất có lẽ là bài Stille Nacht, Heilige Nacht được sáng tác năm 1818. Đó là bài ca giáng sinh ra đời trước hết, mà hay nữa.
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái...và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Vào khoảng năm 1985, nhóm ca viên cũ của Ca Đoàn Trùng Dương được dịp họp mặt lần đầu tiên trên đất Mỹ với hai cựu ca trưởng của Trùng Dương là nhạc sĩ Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Trần Chúc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa hôm đó đã cho mọi người nghe cassette tape nhạc giao hưởng trình bày trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương với 4 giọng tứ ca, rồi nói “nếu chúng ta có một ban đại hợp xướng thì sẽ khác hơn nhiều.
Một chương trình ca nhạc đánh dấu 30 năm ngày thành lập ban hợp xướng vốn được xem là nổi bật nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, với những khúc nhạc bất hủ của bảy, tám mươi năm tân nhạc VN, trình diễn bởi những ca sĩ tên tuổi hiện thời, cùng hàng trăm nhạc sĩ, ca viên, dưới tài điều khiển của những nhạc trưởng đầy khả năng và giàu kinh nghiệm, hiển nhiên phải là một chương trình đặc sắc, để lại dư âm trong lòng người nghe một thời gian thật dài, nếu không muốn nói là mãi mãi…
Nhạc trưởng Trần Chúc năm 1989. 2. Ngàn Khơi ra đời, lần đầu tiên hát Viễn Du tháng 6, 1989. 3. Thái Thanh, hát Việt Nam Quê Hương Mến Yêu trong buổi hòa nhạc đầu tiên 1990. 4. Mai Hương hát VNQHMY 1990. 5. Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi tại Concert 2007. 6. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương & Nhạc trưởng Lê Văn Khoa 1990.