Hôm nay,  

Âm Nhạc & Giáo Dục

19/07/202400:00:00(Xem: 4412)
am nhac va giao duc
Ảnh: Doãn Hưng

Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm.
Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.

Một thí dụ dễ hình dung cho giáo dục âm nhạc chính là giáo viên dạy nhạc trong các trường học. Tôi nhớ hồi xưa học lớp 6 ở trường trung học Petrus Ký Sài Gòn, ông thầy dạy nhạc là một nhạc sĩ khá nổi tiếng trong giới nhạc sĩ đương thời. Là người mê nhạc từ nhỏ, được học với ông từng làm tôi rất hào hứng. Ấy thế mà trong suốt một năm học, đây lại là môn học chán nhất. Giờ học nhạc giống như giờ toán với kiến thức nốt tròn bằng hai nốt trắng, nốt trắng bằng hai nốt đen… Bài thi âm nhạc học kỳ hai là thi vẽ “cây thông âm nhạc”, với nốt tròn trên đỉnh và 64 nốt móc bốn ở dưới đáy. Điểm thi môn âm nhạc của tôi không cao, vì tôi vẽ khá tồi, kéo theo xếp hạng môn nhạc trong lớp chỉ ở mức trung bình! Những năm sau đó ở trung học, khi biết đàn guitar, tôi có dịp đàn cho các bạn nghe trong những đêm ngủ trong trường để trực đêm. Có thằng bạn còn hỏi: “Không ngờ mày dở môn âm nhạc, mà sao đàn nghe cũng được quá?!”

May sao cũng có được hình ảnh một ông thầy dạy nhạc dễ thương hơn nhiều qua phim ảnh. Sau 1975, cuốn phim trắng đen về cuộc đời của nhạc sĩ cổ điển Franz Schubert được chiếu ngoài rạp. Trong phim, ông thầy giáo tiểu học Schubert đang dạy học trò môn toán. Khi ông đang viết trên bảng phép tính chia 2/4, thì ông dừng lại suy nghĩ điều gì đó trong đầu khá lâu. Rồi bỗng dưng ông viết bảng tiếp, nhưng lần này thì 2/4 không phải là phép chia mà là nhịp 2/4 của một bài nhạc. Ông kẻ khuôn nhạc và viết nốt của một ca khúc lên bảng, rồi dạy cho học trò hát. Giờ học toán trở thành giờ dạy nhạc, cả thầy trò cùng hát say sưa. Khi ban giám hiệu biết được chuyện này, ông thầy giáo Schubert đương nhiên là mất việc. Chỉ có đám học trò là vui sướng, vì đã có được những giờ phút âm nhạc tuyệt vời và đầy ngẫu hứng.

Kể như vậy để thấy người truyền cảm hứng âm nhạc cho trẻ con chưa chắc đã là những ông thầy dạy âm nhạc. Trong trường hợp gia đình tôi, bố là người truyền tình yêu âm nhạc cho mọi thành viên trong gia đình của cả hai thế hệ. Ông là một nhà văn nhưng rất mê nhạc, đặc biệt là nhạc cổ điển. Là anh cả trong gia đình, một hôm bố tôi nói với bà nội rằng nên cho các em học nhạc, vì nhạc làm đẹp tâm hồn. Thế là bà nội, một phụ nữ làng quê ngoại thành Hà Nội, đã mua một chiếc đàn piano về để các con học. Hình ảnh cây đàn piano được kéo trên con đường làng, đặt vào trong căn nhà của ông bà nội gần cuối thôn thời bấy giờ là một hiện tượng!

Cũng tương tự như vậy, vài tháng sau ngày mất nước 1975, một số nhà giàu ở Sài Gòn muốn bán đàn piano vì sợ bị đánh tư sản. Bố tôi bàn với cô em ruột rằng đây là cơ hội hiếm có để mua một cây piano cho đám con cháu học. Thế là cô tôi đã quyết định lấy số tiền của hồi môn từ gia đình chồng để mua một cây piano, đặt nó ở nhà tôi, một căn nhà ở cuối hẻm lao động. Em gái tôi, con gái của cô nhờ vậy mà được cho đi học đàn; cả nhà từ đó được học nhạc “ké”. Bản thân tôi bắt đầu biết chơi nhạc từ đó, nhờ vào niềm tin “âm nhạc làm đẹp tâm hồn” của bố.

Ý tưởng “mua đàn piano” của bố tôi làm ảnh hưởng rất nhiều đến những người khác trong đại gia đình qua nhiều thế hệ. Ông chú tôi là một nhạc sĩ quân đội của chế độ cộng sản miền Bắc, học đến tiến sĩ về nhạc giao hưởng. Hiện nay ông được xem là một cây đại thụ của nền âm nhạc cách mạng, có thể so sánh với Phạm Duy trong nền âm nhạc Miền Nam. Nhiều người em họ của tôi ngoài Bắc đi học nhạc chuyên nghiệp, sống bằng những nghề có liên quan đến âm nhạc. Riêng gia đình bố tôi và bà cô cùng di cư vào Nam không có ai sống bằng nghề âm nhạc cả. Tất cả chỉ dừng lại ở mức “âm nhạc làm đẹp tâm hồn”. Con cháu thuộc thế hệ thứ ba của đại gia đình hầu hết đều được cho đi học thêm nhạc để giải trí, để làm phong phú thêm cuộc sống.


Trở lại với câu chuyện về “âm nhạc” và “giáo dục”, câu hỏi đặt ra là việc học nhạc không nhằm mục đích kiếm sống có lợi ích ra sao đối với một cá nhân? Trong thời buổi hiện nay việc nuôi dạy con cái khá đắt đỏ và bận rộn, liệu có cần thiết phải cho con cái học thêm nhạc sau những giờ bận bịu ở trường? Câu trả lời chắc chắn sẽ rất khác nhau tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình. Dưới đây là những chia sẻ cá nhân của một người kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau, nhưng cả đời xem âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu.

Đầu tiên, việc có kiến thức về âm nhạc sẽ làm tăng khả năng cảm thụ âm nhạc. Một người dù không biết về nhạc lý, nhưng nghe một bản nhạc vẫn có cảm nhận riêng là “hay” hoặc “dở”, “thích” hoặc “không thích”.  Nhưng hỏi tại sao “hay” hoặc “dở” thì sẽ không biết tại sao. Thêm nữa, nếu không có kiến thức thì chỉ có thể nghe được một số loại nhạc nhất định. Thí dụ, có rất nhiều người yêu thích nhạc pop, nhưng tự nhận rằng mình “không đủ trình độ để thưởng thức nhạc cổ điển”. 

Khác với ca khúc, nhạc cổ điển không có lời. Những gì tác giả muốn diễn đạt chỉ thông qua thứ ngôn ngữ âm thanh thuần túy. Vì vậy nó đòi hỏi phải có một chút kiến thức, một ít trí tưởng tượng để thưởng thức. Khi biết rằng cấu tạo của một bản nhạc bao gồm giai điệu, hòa âm, tiết tấu, người nghe có thể bắt đầu đi vào thế giới âm nhạc cổ điển, khám phá những vẻ đẹp không cần ngôn ngữ để diễn tả. Lấy ví dụ như tấu khúc Sonate Ánh Trăng của Beethoven. Nhắm mắt lại, người nghe có thể tưởng tượng ra ánh trăng đang lung linh trên mặt hồ. Khi mặt hồ phẳng lặng, ánh trăng phản chiếu cũng trầm mặc. Khi mặt hồ gợn sóng, ánh trăng cũng chao đảo cùng những cơn sóng chập chùng. Người nghe cũng có thể cảm nhận được những cảm xúc lúc lắng đọng, lúc tuôn trào của tác giả theo những giai điệu tuyệt đẹp. Không phải tự nhiên mà tấu khúc này trở thành bất tử. Và nếu không có kiến thức về âm nhạc, người nghe sẽ khó có thể đón nhận được hết món quà tuyệt vời mà người nghệ sĩ đã dâng tặng cho đời. Nhiều người phải trả rất nhiều tiền để mua được cảm giác hạnh phúc, thỏa mãn. Trong khi cảm nhận vẻ đẹp âm nhạc là niềm hạnh phúc dễ dàng có được mà không mất tiền mua.

Âm nhạc không chỉ mang lại cho con người cảm xúc, mà còn có khả năng ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ nhỏ, đem lại nhiều tác động tích cực cho tâm lý con người ở mọi lứa tuổi. Không phải tự nhiên mà âm nhạc có trong chương trình giáo dục tiểu học, trung học của nhiều quốc gia trên thế giới. Trên mạng internet có rất nhiều bài viết, nhiều nghiên cứu cho thấy âm nhạc như một công cụ để kết nối người với người, để cá nhân thể hiện chính mình, giúp giảm nhẹ những căng thẳng tâm lý… Âm nhạc làm tăng cảm nhận hạnh phúc, tạo sự tin tưởng giữa con người, giúp người ta dễ thương yêu nhau hơn. Hãy tưởng tượng một người đang yêu không có khả năng diễn tả cảm xúc của mình, bỗng dưng nghe một câu hát trong một tình khúc nói lên đúng tâm trạng của mình. Nghe sướng làm sao! Người đó sẽ muốn cảm ơn người nhạc sĩ không quen biết, và hiểu được sự đồng cảm giữa người với người qua âm nhạc.

Âm nhạc làm cho một người trở nên phong phú hơn, tốt đẹp hơn; có khả năng đưa con người đến gần nhau hơn. Như vậy khả năng âm nhạc làm cho xã hội thăng hoa là một điều hoàn toàn khả thi. Một xã hội có nhiều cá nhân có khả năng thưởng ngoạn âm nhạc cao ắt hẳn sẽ là một xã hội nhân văn hơn, với tinh thần hòa ái cao hơn. Trong bối cảnh Việt Nam trong nửa thế kỷ qua loay hoay chuyển từ “đấu tranh giai cấp” sang “làm giàu trên hết”, một xã hội nhân văn hơn là niềm mơ ước của nhiều người Việt.

Rồi cũng với âm nhạc, nhân loại mơ về một thế giới đại đồng với hoan khúc bất tử Hymne Ode A La Joie (Symphony No.9 – Beethoven). Âm nhạc là ngôn ngữ chung của mọi dân tộc. Nói chi đến thế giới cho to lớn, chỉ ở trong nước Mỹ thôi ngày nay người ta đang thù ghét, chia rẽ vì chính trị. Trong tình hình như vậy, bàn chuyện giáo dục âm nhạc để làm cho con người biết thương yêu nhau là một đề tài không bao giờ cũ.

Doãn Hưng
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này. Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.” Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.
Trong thế hệ ca nhạc sĩ trẻ của nền âm nhạc Sài Gòn trước 1975, cặp uyên ương Lê Uyên - Phương có một chỗ đứng đặc biệt, độc nhất. Sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Phương kéo dài từ đầu thập niên 1970s ở Miền Nam sang đến tận Hoa Kỳ sau 1975, cho đến khi ông mất vào năm 1999. Nhiều ca khúc Lê Uyên Phương cho đến nay vẫn chưa được chính thức phổ biến, phát hành. Để tưởng nhớ 25 năm ngày mất của người nhạc sĩ tài hoa, ca sĩ Lê Uyên sẽ tổ chức đêm nhạc chủ đề “Lê Uyên Phương 25 Năm Cuộc Đời– Tình Yêu – Âm Nhạc” tại Saigon Grand Center thành phố Fountain Valley vào ngày 7 tháng 12 2024.
Nhà thơ Kiên Giang nổi tiếng trên thi đàn miền Nam từ những năm 1955, 1956 với bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” (được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc rất nổi tiếng)
Bài thơ này đăng trên Việt Báo vào ngày 10 tháng 8 2024. Người dịch nói rằng “…Bài này hợp với tinh thần Phật Giáo…” Tác giả Henry Wadsworth Longfellow là một nhà thơ nổi tiếng vào bậc nhất ở Mỹ trong thế kỷ 19. Trong tiểu sử không thấy nhắc ông có nghiên cứu về Phật Giáo. Có thể giải thích rằng những gì thuộc về chân lý, sự thật thì sẽ mãi mãi tồn tại, bất kể Đức Phật có thuyết giảng hay không.
VFF đang cùng cộng đồng hướng đến một sự kiện trọng đại: kỷ niệm 50 năm tị nạn kể từ biến cố 30-04-1975. Không phải tình cờ khi nhiều phim đoạt giải năm nay có chủ đề liên quan đến sự hòa giải giữa các thế hệ sau nửa thế kỷ ly hương.
Năm 1816, khi nhà phát minh người Pháp, Joseph Nicephore Niepce thành công chế tạo ra chiếc máy ảnh bằng gỗ có gắn thấu kính, cũng là lúc nghề vẽ tranh truyền thần của những họa sĩ thời đó bắt đầu gặp nguy hiểm. Đến khi công nghệ chụp ảnh hoàn hảo hơn ra đời vào khoảng 1839, thì những người vẽ tranh chân dung dần dần… thất nghiệp.
Tuy than thở như vậy nhưng Nguyễn Vỹ theo cái nghiệp trong suốt bốn thập niên. Sau khi tốt nghiệp tiểu học ở quê, lên trung học Pháp-Việt ở Quy Nhơn (1924-1927), tham gia bãi khóa để tang nhà cách mạng Phan Châu Trinh nên bị đuổi học, phải ra Hà Nội học tiếp. Sau khi đậu tú tài toàn phần, Nguyễn Vỹ dạy học tại trường trung học Thăng Long, Hà Nội. Vừa dạy học, vừa làm thơ, viết văn, viết báo... Nguyễn Vỹ là tên thật, các bút hiệu khác: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền. Cuộc đời ông trải qua nhiều sóng gió và nghiệt ngã nhất với nghề báo.
Vào chiều ngày 3 tháng 9, 2024, tại rạp Frida Cinema, thành phố Santa Ana, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) chính thức khởi động Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế 2024 (Viet Film Fest-VFF), sự kiện phim ảnh quốc tế thường niên lớn và lâu dài nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Đội Los Angeles Lakers vừa công bố kết quả cuộc thi tuyển nghệ thuật “Lakers In The Paint - 2023-2024”, nhằm vinh danh mười nghệ sĩ da màu từ khắp khu vực Los Angeles như một phần của chương trình nghệ thuật thường niên của đội nhằm ghi nhận, hỗ trợ và nâng cao tinh thần cho các nghệ sĩ đến từ các cộng đồng thiểu số. Trong mười họa sĩ trúng tuyển, có hai họa sĩ gốc Việt, gồm họa sĩ Ann Phong và Michael Trần Thế Khôi, và 8 họa sĩ từ các cộng đồng đa dạng Abby Aceves, Estefania Ajcip, Jessica Taylor Bellamy, Daryll Cumbie, Derick Edwards, Megan Gabrielle Harris, Marlon Ivory, Larry Li
Khán thính giả yêu nhạc Từ Công Phụng sẽ có dịp nghe nhạc, mua sách, gặp mặt, được ký tặng sách tại hai buổi chiều cuối tuần Thứ Bảy 21/09 và Chủ Nhật 22/09/2024, từ 2:00 PM đến 6:00 PM, tại Phòng Sinh Hoạt Báo Người Việt (14771 Moran St. Westminster) qua chương trình nhạc để giới thiệu Tuyển Tập Tình Khúc Từ Công Phụng. Đây là một tuyển tập bao gồm toàn bộ những tình khúc của Từ Công Phụng trước và sau 1975, cùng những bài viết về người nhạc sĩ tài hoa này từ người thân và bằng hữu.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.