Hôm nay,  

Rồng xuất hiện trong Lịch sử Việt Nam

3/17/202415:24:00(View: 3057)
Rồng trên mái lăng ông bao gồm những viên gốm màu
Rồng trên mái Lăng Ông gồm những viên gốm màu.


Trong mười hai con giáp được dùng cho năm âm lịch, mười một con là loài thú có thật. Chỉ có rồng là con vật tưởng tượng. Nhưng có phải rồng chỉ có trong tưởng tượng không? Nếu chưa ai tận mắt nhìn thấy rồng thì tại sao người ta có thể vẽ rồng?
   Trong một bài đăng trên Scientific American năm 1916, J. O’Malley Irwin quan niệm rằng, ở châu Á, hình ảnh về rồng có thể khởi đầu từ những bộ xương hóa thạch của loài khủng long sauropod dinosaurs. Vài bộ xương của giống khủng long Á châu khổng lồ sauropod đã được hai vợ chồng Irwin tìm thấy tháng Mười Một, năm 1915, khi ông bà thám hiểm một cái hang lớn có tên là Shen K’an Tzu, trên hữu ngạn của sông Yangtze, gần dòng nước chảy xiết Ichang.
   Tiến sĩ Carl Sagan trong quyển sách có tên là Dragons of Eden (Rồng trong Địa Đàng (1977), đề nghị rằng huyền thoại về rồng, có lẽ bắt nguồn từ trí nhớ của loài người về loại khủng long, hay từ những con thú thời cổ xưa kết hợp với loại rắn to lớn sống ẩn núp trong bóng tối. Rõ ràng là có một vài loại khủng long có nhiều chi tiết về hình dáng giống rồng (đặc biệt là những con thú lớn ăn thịt người). Điều này chỉ là tình cờ hay là sự biến hình của trí nhớ về những hổi tưởng rất xa xưa? Ai biết?
   Người Việt nhận mình là con rồng cháu tiên, ông tổ là Lạc Long Quân, ắt hẳn, phải có niềm tin vững chắc, rồng là loài vật thiêng liêng và có thật. Khi rồng đáp xuống một vùng đất nào đó, vùng đất này sẽ có vua sinh ra, hay ngự trị, nếu không cũng là nơi sẽ trở nên giàu có thịnh vượng. Cứ nhìn vịnh Hạ Long thì biết. Ngoài vịnh Hạ Long, nơi rồng đáp xuống, còn có vịnh Bái Tử Long nơi rồng cúi đầu lạy chào.
   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[1] có ghi lại một số sự việc người ta tận mắt nhìn thấy rồng. Kỷ Nhà Đinh ghi rằng, Đinh Bộ Lĩnh (924-979) khi còn nhỏ thường bắt trẻ chăn trâu làm kiệu khiêng mình như vua. Trẻ chăn trâu tôn kính Lĩnh, đến phục vụ thổi lửa hầu cơm. Người làng mang con em đến theo, lập trưởng ở sách[2] Đào Áo. Người chú của vua, giữ sách Bông, đánh chống Lĩnh. Còn nhỏ, yếu thế, Lĩnh thua chạy. “Khi qua cầu Đàm Gia Loan[3], cầu gãy bị sa xuống bùn, người chú muốn lấy giáo đâm, thấy có hai con rồng vàng che đỡ, sợ lùi lại. Vua thu nhặt quân còn sót lại đánh. Người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đến đâu cũng dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương.” Đinh Bộ Lĩnh trở thành vua Đinh Tiên Hoàng cai trị Đại Cồ Việt (968-979). Tr. 155.
   Kỷ Nhà Lê, có ghi rằng Lê Hoàn (941-1005) thuở còn hàn vi, cha mẹ mất sớm, Lê Hoàn làm con nuôi của một viên quan sát. “Từng gặp mùa đông trời rét, vua nằm phục úp cối để ngủ, đêm ấy có ánh sáng lạ đầy nhà, viên quan sát lẳng lặng đến xem, thì thấy con rồng vàng ấp lên trên.”[4] Tr. 168. Người Việt tin rằng vua là con của trời, được rồng che chở là người có chân mạng đế vương. Lê Hoàn sau trở thành vua Lê Đại Hành cai trị Đại Cồ Việt  (981-1005).
   Bạn có biết vì sao kinh đô của nước Đại Việt được gọi tên là Thăng Long hay không?
Kỷ Nhà Lý chép rằng, Lý Công Uẩn (974-1028) lập nên thời Hậu Lý, lấy hiệu Lý Thái Tổ, trị vì 1009-1028. Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp cho dời kinh đô về thành Đại La vào mùa thu, tháng 7, năm 1010. “Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, vì thế đổi gọi là thành Thăng Long.” Tr. 196.
   Sang đến đời Lý Thái Tông (1000-1054) rồng vàng xuất hiện đôi ba lần trước khi vua lên ngôi. Đời Lý Nhân Tông có rồng vàng bay từ điện Tử Thần đến điện Hội Long. Đời Trần Thái Tông, tháng 12 năm 1242, có rồng vàng xuất hiện. Đây chỉ là một số ít chi tiết tôi chép lại. Còn nhiều nữa nhưng tôi chưa đọc hết bộ sử ký này. Tôi cũng không cố tình thu nhặt giai thoại về rồng trong sử ký, chỉ tình cờ đọc được khi tôi tìm hiểu thêm về văn hóa nước Chăm.
   Trong sử ký, thường thường, rồng xuất hiện khi có sự đổi đời. Khi triều đại cũ vừa bị chấm dứt, rồng xuất hiện như để trấn an dân chúng và củng cố chân mạng đế vương của vua, người cai trị triều đại mới.
   Rồng không những được ghi chép trong sử ký Việt Nam mà còn xuất hiện vô số trong các loại nghệ thuật. Trên mái chùa, mái đình. Trên chân đèn, trên các đồ gốm sứ. Xưa, tượng rồng được xây trên lăng mộ vua chúa. Ngày nay, trên mộ của dân thường cũng được trang trí với hình rồng, nhất là mộ của những người có tên Long. Xưa, đời nhà Trần, vua thường xâm hình rồng trên thân thể, trên bắp vế. Đến đời một ông vua nhà Trần nào đó, vua từ chối hình xâm. Từ đó tục lệ xâm hình rồng vào thân thể nhà vua chấm dứt. Tôi lỡ đánh mất ghi chú này nên không còn nhớ đời vua nào chỉ viết lại theo trí nhớ nên xin độc giả tha thứ.
   Đọc những sự kiện về rồng được ghi chép lại trong lịch sử, độc giả ngày nay có thể thắc mắc. Ai là người có thể (hoặc là được quyền) ghi lại những chi tiết đã xảy ra trong lịch sử?  Liệu chúng ta có thể tin được vào những câu chuyện lịch sử này không? Mức độ khả tín của những chi tiết này chính xác đến độ nào?  Ai là người quyết định chi tiết nào đáng được ghi lại trong sử sách?  Nếu viết sai thì điều gì sẽ xảy ra?  Nếu viết đúng sự việc xảy ra mà không tốt đẹp cho triều đình (hay nhà cầm quyền) lúc ấy thì số mạng của sử gia sẽ ra sao?
   Người đời nay có thể cho rằng rồng chỉ có trong tưởng tượng. Nhưng, biết đâu chừng, cũng như một số biểu tượng tâm linh khác, chẳng hạn như linh hồn, điều chúng ta không thấy, hay chưa thấy, bằng mắt thường, đang chờ một phát minh kỹ thuật tân tiến, ngày nào đó sẽ khám phá và chứng thực trong tương lai.
 
– Nguyễn Thị Hải Hà


[1] Nhà xuất bản Hồng Đức in theo nội dung bản in Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Nhà xuât bản Khoa học và Xã hội năm 1971 - 1972, Cao Huy Giu dịch. Đào Duy Anh hiệu đính, chú thích, và khảo chứng.

[2] Sách có lẽ đơn vị nhỏ nhất của thôn quê, sau làng xã.

[3] Nay là sông Hoàng Long, Điểm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình

[4] Nhà xuất bản Hồng Đức in theo nội dung bản in Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Nhà xuât bản Khoa học và Xã hội năm 1971 - 1972, Cao Huy Giu dịch. Đào Duy Anh hiệu đính, chú thích, và khảo chứng.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Lần đầu tiên tôi có cơ hội được một mình ngồi trò chuyện với cô Khánh Ly là một ngày của Tháng 3 cách đây tròn 15 năm – khi được sếp phân công phỏng vấn viết bài về sự có mặt của cô trong một đêm nhạc mang tên “Du Mục” của nhóm The Friends. Tôi vẫn nhớ như in lần đầu gặp gỡ đó – giữa Khánh Ly – người được xem như một trong những huyền thoại của làng âm nhạc Việt Nam, và tôi – một phóng viên mới bước vào nghiệp cầm bút chưa đầy 2 năm. Nơi cô hẹn tôi là quán phở Nguyễn Huệ của chú Cảnh ‘Vịt’ (chú Cảnh đã bỏ trần gian đi rong chơi ở chốn xa lắc xa lơ nào cũng đã vài năm). Hôm đó, chồng cô, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan, chở cô tới. Trong hơn một tiếng đồng hồ, tôi đã hỏi cô nhiều câu – phần lớn chả ăn nhập gì đến chương trình cô sắp tham gia – mà chỉ là những câu hỏi tôi tò mò muốn biết về Khánh Ly – một người được bao người ngưỡng mộ, bao người mơ ước được gặp mặt – lại đang ngồi đối diện tôi, cùng tôi uống cà phê trong quán phở, và làm tôi bị say thuốc lá
Người đàn bà ấy, đứng trên sân khấu với mái tóc buông dài, đôi chân trần và một ánh mắt không có gì ngoài sự thản nhiên. Người ta gọi bà là "nữ hoàng chân đất," nhưng bà không phải là hoàng hậu của bất cứ điều gì ngoài nỗi buồn nhân thế. Đó là sự thản nhiên của một người đã thấy hết những gì cuộc đời có thể mang lại: những đỉnh cao, những vực sâu, những ngày tháng của ánh hào quang và những đêm dài của sự cô đơn tuyệt đối. Nếu có một người nào hát về sự mất mát mà không làm cho nó trở nên ủy mị, nếu có một người nào hát về những điều tan vỡ mà không cần phải gào thét lên, thì đó là Khánh Ly.
Và đêm qua, chân dung ấy đã mang bao tâm hồn, bao thế hệ cùng trở lại bên nhau. Anh biết không, trong khuôn viên rộng lớn của Bowers Museum, em đã nhận ra, và tìm về với bao nhiêu gương mặt thân quen mà đã từ lâu em không gặp. Họ là những tên tuổi lớn của mọi lĩnh vực từ văn chương, âm nhạc cho đến điện ảnh... Họ là những vị đã bước qua tuổi tám mươi, đến những em nhỏ chưa tròn đôi mươi. Họ là những nhân chứng của cuộc chiến tranh. Như một định mệnh, những tâm hồn ấy lại ngồi bên nhau để cùng nghe tiếng hát vang lên: “Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng, Người ngỡ đã quên lâu, nhưng người vẫn bâng khuâng” (Trịnh Công Sơn)
“Nếu không có tiếng hát Khánh Ly thì chúng ta có những gì, còn gì?” Nếu chỉ được chọn một câu để nói về người ca sĩ đã cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc, thì tôi xin chọn câu nói trên của MC Lê Đình Ysa trong “Đêm mừng Khánh Ly 80 tuổi” được nhóm bạn trẻ Nina Hòa Bình Lê, Ann Phong, Lê Đình Ysa, Nguyễn Lập Hậu & Jimmy Nhựt Hà... tổ chức vào tối thứ Sáu 7/3/2025 tại quận Cam, Nam California.
Người ta thường gói ghém một cuộc đời trong dăm ba trang giấy để gọi là hồi ký. Người ta cũng thường dùng thước đo của 10 năm, 20 năm, 30 năm… để hoài niệm một điều gì đó, cho dù là hạnh phúc hay mất mát. Nhưng không dễ gì để tái hiện cả một cuộc đời dài 80 năm, trong đó có lịch sử, có tình yêu, có nhân quả, có triết lý sống, có ân tình, có nghệ thuật, có tài năng… chỉ trong một đêm. Vậy mà, Đêm-Khánh-Ly-80-Tuổi, đã làm được điều đó.
Không hiểu sao, khi những giòng nhạc trong bài Tuổi Đá Buồn của TCS qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly vang lên từ máy phát thanh ở rạp hát của Bowers Museum, lòng tôi bỗng nhiên rưng rưng. Cho dù lúc ấy, nhân vật chính là nữ ca sĩ Khánh Ly chưa xuất hiện trên sân khấu trong buổi tối kỷ niệm Sinh Nhật 80 tuổi của bà hôm thứ sáu tuần trước. Cho dù tôi đã nghe rất nhiều lần tiếng hát Khánh Ly từ lúc rất trẻ khi còn ở trong nước, hay những năm sau này ở Mỹ khi về già. Có lẽ tôi xúc động vì ý nghĩa của buổi tối kỷ niệm ngày sinh nhât của môt người nghệ sĩ đã hơn 60 năm ca hát cho đời và tạo cho mình môt chỗ đứng riêng với giọng hát đặc biệt của mình.
Nhìn lui lại kỷ niệm. Khánh Ly với nụ cười đồng cảm những lời văn vẻ tôi đang chia sẻ với 800 khán giả những tâm sự của Trịnh Công Sơn qua những ca từ mà Khánh Ly đã chọn để gửi đến người nghe trong chương trình nhạc “Khánh Ly và Từ Công Phụng” do Việt Art Production tổ chức ngày 6 tháng 3 năm 2011. Phần một, Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn và Phần hai, Từ Công Phụng hát nhạc của ông. Hai nhạc sĩ cùng với Vũ Thành An, Lê Uyên Phương và Ngô Thụy Miên tạo ra một chân trời âm nhạc mới cho những thế hệ trẻ trong thập niên 1960-1975 và kéo dài sang hải ngoại.
Năm 2016, một vụ án xảy ra ở Little Saigon, California, gây chấn động cộng đồng hải ngoại, các hãng thông tấn cũng như báo chí truyền thông địa phương. Bảy năm sau, tình tiết và những nhân vật trong câu chuyện ly kỳ về ông Mã Long, tài xết taxi, bị ba tù vượt ngục bắt cóc, bước lên bục vinh quang ở Sudance Film Festival, dành hạng mục đạo diễn xuất sắc nhất của phim The Accidental Getaway Driver – Tài Xế Đêm. Hai năm sau nữa, vào ngày 27/2/2025, cuốn phim sẽ chính thức được trình chiếu trên màn ảnh rộng.
Cuối tuần qua, ở nhà hát Majestic, New York tràn ngập tiếng vỗ tay khi cựu Phó Tổng Thống Kamala Harris và phu quân Doug Emhoff bước vào. Đoạn video đăng trên broadwayworld và danh khoản Twitter Latina for Kamala cho thấy, vợ chồng cựu phó tổng thống đến thưởng lãm buổi nhạc kịch GYPSY của đạo diễn sáu lần đoạt giải Tony George C. Wolfe. Khi cả hai bước vào, khán giả đồng loạt đứng dậy vỗ tay và hô vang “Kamala” cho đến khi dàn nhạc bắt đầu chơi bản nhạc mở đầu của GYPSY. Cuối buổi biểu diễn, Harris và Emhoff đứng lên, gửi tràng pháo tay dài cho nghệ sĩ Audra McDonald và các bạn diễn. Chỉ vài ngày trước đó, bà Deborah Rutter, giám đốc của Trung Tâm Nghệ Thuật Biểu Diễn John F Kennedy – John F. Kennedy Center for the Performing Arts, thường được gọi là Kennedy Center, bị sa thải. Thay thế bà, không ai khác hơn chính là tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ, Donald Trump.
Khánh Ly khóc.Tôi bất ngờ. Mọi người chưa nghĩ ra. 300 cái đầu, 600 trăm con mắt, 600 trăm lỗ tai, 300 hơi thở đều im lặng. Một cảnh tượng hoàn toàn đồng cảm. Tâm trạng nặng nề trong bóng tối tràn ngập cả thính đường. Lúc đó, sân khấu kéo màn. Hậu cảnh sáng dần lên, thấy tấm hình lớn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đang cầm cây đàn thùng, tay kia quàng qua mái tóc Khánh Ly. Nét mặt ông chìm đắm vào địa đàng âm nhạc và Khánh Ly trẻ như thời còn chân đất ở quán Tre.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.