Thơ của các tác giả: LÊ HUỲNH LÂM, TRẦN KIÊM ĐOÀN, NGUYỄN HÀN CHUNG, TRẦN MỘNG TÚ, TRẦN YÊN HÒA, PHẠM NGỌC SAN
LÊ HUỲNH LÂM
Lời khẩn cầu cho ngày mưa lũ
Những hạt nước rơi không nhịp điệu
Trên quê hương mùa bão lũ
Tạo ra âm ba sầu thảm
Như khúc cầu hồn của Mozart
Những bản dự báo là niềm hy vọng run rẩy cùng nỗi âu lo
Dập dìu theo con nước
Và những cư dân vùng trũng
Biết cũng chẳng để làm gì
Khi bốn bề mênh mông màu nước bạc
Lạnh ngắt
Cùng bóng đêm bao phủ
Gió rít mưa tuôn xối xả con nước cuồn cuộn
Tràn vào mỗi nhà, mỗi con đường, mỗi xóm nhỏ
May mắn cho con người còn biết nguyện cầu
Để có chút bình tâm trong hoạn nạn
Để còn hoài mong vào sự cứu rỗi ở thời khắc lâm chung
Những hạt nước không tội tình chi
Chỉ những kẻ vì lợi riêng
đã hủy hoại môi trường
San lấp ruộng đồng
Huỳ hoại những cánh rừng
Hủy hoại nhân tâm
Khiến bao thế hệ chỉ biết câm lặng
Chỉ biết tích trữ vật chất vô độ
Chỉ biết đưa thức ăn vào miệng
Như đưa từng bản tin thụ động
Chỉ biết…
Họ đã trở thành thứ gì khác lạ với con người
Những hạt nước rơi
Họ gọi là mưa
Họ bảo do hơi nước bay lên ngưng tụ khi gặp lạnh
Họ bảo đủ điều
Nhưng họ không chịu tự vấn lương tri
Nước từ đâu đến
Đất từ đâu đến
Gió từ đâu đến
Lửa từ đâu đến
Họ lý giải rất nhiều hiện tượng
Nhưng họ không lý giải hiện tượng tham lam tàn nhẫn
Họ không lý giải vì sao con người mãi tranh dành, hãm hại, giết nhau
Họ không lý giải vì sao họ có mặt ở cuộc đời này!
Những hạt nước rơi
Như nước mắt
Khóc cho con người trần gian này đã tàn phá cuộc sống chính mình
Khóc cho những kẻ tham tàn vong thân vì lợi quyền
Như Alan Paton kêu gọi
“Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu”
Và bây giờ
Tôi khẩn cầu các vị
Hãy biết khóc cho nỗi đau của người dân nước mình!
Lê Huỳnh Lâm
Huế, Thủy nạn kép 27-31/10/2025
TRẦN KIÊM ĐOÀN
Thiên Tai Hay Nhân Tai
Việt Nam ơi, Miền Trung đó! Đất khó bao năm cày lên sỏi đá, Mưa nguồn nước lũ bạc đầu thôn. Gió trút cây ngàn che núi xả, Mẹ thiên nhiên dang cánh rộng vuông tròn. Nhưng màu xanh càng ngày càng vắng, Cây rừng thành hoang sơ; Gỗ đại ngàn đốn sạch, Tham vọng vẫn chưa vừa…
Có một thuở:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước…”
Sao bây giờ:
Xé nát Trường Sơn?
Sếp lớn đốn rừng to,
Đàn em cưa rừng nhỏ…
Những biệt thự nguy nga đồ sộ,
Dựng lên bằng máu gỗ Trường Sơn.
Những tư dinh càng lớn,
Tội phá rừng bán rú không lường.
Loa đầu đường nhơn nhơn nói… tướng:
“Việt Nam ta có bao giờ đẹp thế này đâu:”
Thế nào là đẹp là giàu:
Rừng vàng biển bạc nhét vào túi tham,
Vơ sông núi về làm tài sản,
Vét tài nguyên đem bán cho người,
Trăm năm bia miệng còn cười,
Ngàn năm lịch sử để đời nỗi đau:
Trường Sơn nửa thế kỷ sau, Đường Mòn… xưa đã đổi màu hoang sơ: Thiên tai chống nạn đắp bờ, Nhân tai tự diệt ngồi trơ mắt nhìn.
Đập thủy điện tốn nghìn nghìn tỷ,
Những công trình vị kỷ chia nhau.
Trời không mưa, lụt vẫn sâu: Sau lưng xả nước, tuyến đầu xả thân.
Gặp Thiên nạn từ ngoài còn giải,
Nhân nạn nầy tồn tại từ trong.
Sư tử nhục - sư tử trùng,
Ăn từ gan ruột khó mong chữa lành.
Tai Trời ấy cũng đành gánh chịu,
Ách nước nầy sao liệu cho xong.
Rừng tàn dân tộc nguy vong,
Việt Nam ơi triệu nỗi lòng về đâu?
11/11/2020
Trần Kiêm Đoàn
Hướng về quê hương đang bão lụt tháng 10 - 2020
NGUYỄN HÀN CHUNG
Nỗi Này Đau Thấu Cao Xanh
Rơi tôi gió bão điên cuồng
tiếng ma ghê rợn âm hồn vãng lai
thấy thây bà mẹ mang thai
thấy bùn non nhuộm thi hài ba quân
Chôn đau vào lũ triều dâng
cuốn phăng cơ nghiệp mộ phần tổ tiên
rú hờn rừng giận núi thiêng
lằn ranh sống chết nhỡn tiền mắt ta
Hai mươi mười mấy năm ba
hồn oan vất vưởng ta bà không đi
khóc than thống trách ích gì
có làm mặt sắt đen sì chuyển không?
Phá rừng đào núi hút sông
giúp dân hay thỏa cơn lòng tham quan
cầm vận mệnh của giang san
ham nghe nịnh nước tan hoang bao đời
Công hầu khanh tướng lá rơi
ngàn năm để lại những lời oán than
bão mưa gió lũ hung tàn
thay trời đổi đất huênh hoang nỗi này! 29/10/2020
TRẦN MỘNG TÚ
Vượt Cạn Trong Lũ
Người chồng cong mình chạy trên bờ
nhìn người vợ lên chiếc thuyền lá tre
chiếc thuyền chỉ chở được hai người
người chèo thuyền
đưa vợ anh qua sông sanh đẻ
Chiếc thuyền không tới bờ bên kia
người vợ không hoàn thành cuộc “vượt cạn” một mình được
chị đắm giữa dòng
đứa bé chết đuối trong bụng mẹ
Người chồng chạy điên cuồng trên bờ
cong mình gào trong lũ
chiếc thuyền xoáy theo dòng
úp hai mẹ con chị
giấu dưới tận đáy sông
Chị không nghe tiếng chồng gào khóc
Anh không nghe tiếng chị gọi với lên bờ
Bố không nghe tiếng con kêu vào đời
Bố không nhìn thấy con chui ra từ bụng mẹ
chỉ có con sông
và tiếng nước đập vào bờ
Nước cứ lên
nước trào như nước mắt
nước mắt của người dân nghèo
một đời sống trong “Tai Trời Ách Nước”
Tiếng khóc của con người
lẫn vào gió vào lũ
nước mắt hòa vào nước sông
nên không làm sao vớt riêng ra được
Người đàn bà đó
không “vượt cạn” được một mình
đã chìm cùng với con
Chồng chị chạy điên cuồng trên bờ
nước vẫn thản nhiên dâng
chỉ còn anh và lũ. (*)
25/10/2020
Trần Mộng Tú
(*) Ngày 12 tháng 10. Trong cơn lũ, chị Hoàng Thị Phượng ở Huyện Phong Điền-Thừa Thiên Huế, thuê thuyền qua sông để sanh nở, thuyền lật chết cả mẹ và thai nhi.
TRẦN YÊN HÒA
Gởi Tam Kỳ Thương Khó
Bên này đại dương được nghe tin dữ
làng quê ta bị nước cuốn trôi rồi
nước như giặc, chảy tràn thác lũ
còn mô căn nhà, còn mô nương dâu
Cơn đại nạn của quê đã đến
mẹ, cha, ông, bà, con cháu... bà con
cái sống chết đã nằm trên số phận
nên cột chung nhau cùng chết theo dòng
Vành khăn tang buộc mái tóc xanh
mắt người vợ kiệt cùng tuyệt vọng
xác của chồng trôi mất, biệt tăm
những đứa con co ro, bé bỏng
Còn lại nơi quê là cơn gió lạnh
cơn gió xé tim những kẻ sống còn
cái đói, cái đau, và ngàn cái khổ
mất mát này tai họa trăm năm
Tôi ở bên này trông vời quảng tín
tam kỳ ơi, thương khó quá đi thôi
trận giặc bảy lăm tan nhà nát cửa
nay tai họa này sống làm sao nguôi
Hãy đứng lên em tựa lưng đứng dậy
dắt díu nhau lên núi tìm cha
cha dù chết nhưng rồi em sẽ thấy
sẽ hồi sinh sau tiếng khóc òa
Bài thơ ni tôi viết tự tim mình
như có máu rỉ trong lời tình tự
dù thơ có trăm câu nghìn tứ
cũng không bằng một chút lòng chia
Tôi chia cùng quê nổi khổ phân lìa
cái hạnh phúc không bao giờ có được
dân quê tôi nghèo suốt đời khổ nhục
bão lụt tai ương...nước mắt đầm đìa
Tôi mang trong tim thương nhớ khôn nguôi
nên gởi dòng này về cho quảng tín
nỗi đau của quê, nỗi đau của đất
vẫn đeo đẳng hoài một nỗi đau chung
Tam kỳ của tôi thương khó quá chừng
Trần Yên Hòa
PHẠM NGỌC SAN
Đau Lòng Lũ Lụt Miền Trung
Mưa giăng mắc nỗi buồn nhân thế Mờ chân mây dâu bể đón đưa Ai làm bão tố gió mưa Đời chan nước mắt, héo dưa kiếp người!
Ngày rát mặt, ngang trời mưa đổ Đêm giá băng sương nhỏ lệ rơi Mây đen phủ kín bầu trời Sinh linh chết đứng giữa trời nước non!
Nghe gió thổi lòng cồn bão tố Tiếng mưa rơi thác đổ ngàn xa Lũ ơi, sấp ngửa ập oà Nước ơi, trắng xoá lệ nhoà bóng quê!
Mưa gấp khúc đường về nẻo cũ Bong bóng trôi theo lũ cuốn đê Bàn tay kêu cứu - tái tê Thò qua mái ngói bốn bề nước trôi!
Nhìn trẻ nhỏ màn trời chiếu nước Các cụ già rét mướt tái xanh Cuộc đời lúc rách lúc lành Người mình chia sẻ đã thành bản năng!
Cùng một bọc, chung cành chung gốc Nào cùng chia bão lốc gió sương “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”...!
TRẦN HOÀNG PHỐ
Nói Gì Về Trận Lụt Huế Năm Ất Tỵ 2025
1-
“Ông tha mà bà chẳng tha”
Bóng tối và cơn mưa đêm không dứt
Mưa
Mưa tại trở ngược vào đêm hoang vu
Mưa như bóng ma
kinh hoàng nước dâng trong đêm
Đêm dày dặc mưa
bóng tối nước dâng
Các con đường trong Huế
như biến thành mênh mông sông
Cố đô
chìm
và vật lộn trong cơn mưa lũ màu vàng đục
2-
Đại Nội ngủ trong cơn ác mộng dài mưa lũ
Cửa Thượng Tứ nước dâng cao chảy ào ào
như thác nước vần vũ
Điện Thái Hoà như sừng sững trong cái bóng khẩn Vua ban
phán truyền sức thánh chỉ chống lụt
sức khẩn trong tiếng trống đánh liên hồi đêm
3-
Sân vận động Tự Do nhìn trên cao
lòng chảo biến thành hồ nước đục
Tượng Chúa Giê Su giang tay
ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế
trong mênh mông nước
như thể
Chúa lòng lành đang muốn giang tay ngăn nước lên
cứu khổ cho dân
4-
Nghinh Lương Đình chới với
nhìn nước sông Hương dâng cao
Và tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ
buồn bã ngắm nhìn
Cả một thành phố nhà cửa đền đài kinh thành như bơi đuối trong cơn Đại Hồng thủy
5-
Con rồng chầu trên mái Điện Kiến Trung như muốn bay lên không trung
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan...
Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Collage là một nghệ thuật. Hay chỉ là một thao tác thủ công?
Có người cho cắt dán ( thơ ) mang tính nghệ thuật vì có sự suy nghĩ và đồng cảm của tác nhân.
Có người cho đấy là một trò chơi lắp ráp trẻ con vì sự dễ dàng của cắt xén.
Có người cảm nhận thơ cắt dán là một hình thức của họa thơ tân thời.
Thử nghiệm xem
Hãy sống thêm một ngày nữa / Tới trước cánh cửa em chưa bao giờ mở ra / Hãy đọc lời ai điếu trên mộ chúng ta / Hãy đi qua / Dòng sông mùa lũ / Đặt tâm hồn / Vào trong tay một người khác / Hãy bắt đầu / Ngồi xuống / Giữa kẻ thù / Hãy để mưa / Rơi trên nghĩa địa / Hãy để tự do làm thành trí nhớ / Của quê hương chúng ta, hãy để người thiếu nữ / Đã chết trở thành hoa, hãy bắt tay một người .
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
We use cookies to help us understand ease of use and relevance of content. This ensures that we can give you the best experience on our website. If you continue, we'll assume that you are happy to receive cookies for this purpose.