Lửa, Thấy Từ Stochkholm

20/06/202500:00:00(Xem: 1737)

Hình để Cường dùng cho web only với bài thơ


Thomas von Vegesack* quẹt diêm
Lửa bếp, Lửa đèn. Lửa lò sưởi
Ngọn nến bữa ăn chiều lung linh
Quặn lòng quê xa, bạn tù tội

Phương Đông: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
Quê ta, bao nhiêu ngũ hành sơn
Bếp ai tro lạnh chiều nay nữa
Lửa gì đâu. Lửa tủi, lửa hờn

Nâng ly rượu thơm, bọt dàn dụa
Tưởng thấy dòng thác xưa vật mình
Ghềnh đá trơ vơ sùi bọt nhớ
Thơ chết oan đầy của tử sinh

Nắm xương ai gửi rừng Xuyên Mộc**
Ngọn đèn nào leo lét gió mưa
Cơm kêu. Kẻng gõ. Miệng khô khốc
Con đóm đêm nao vẫn vật vờ

Bạn ta nữa. Chân núi Mây Tào***
Mười ba năm rừng sâu sức cạn
Chiều khổ sai, khoai sắn ra sao
Lửa nào giữ cho lòng đủ ấm

Tha lỗi nhé. Miếng ngon nuốt nghẹn
Vui riêng cứng lưỡi, thốt không đành
Cháy mãi cùng ta vậy, nghe nến
Ngọn lửa anh em ngày tái sinh.

Stockholm. 9.1988

*Thomas von Vegesack, nhà văn Thụy Điển, nguyên chủ tịch văn bút thế giới,
chủ tịch điều hành Ủy ban quốc tế các nhà văn vị cầm tù.

**Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn chết tại trại khổ sai Xuyên Mộc.
***Nhà văn Thảo Trường bị giam tại trại khổ sai Z30D, Hàm Tân.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Valentine ngày rung động/ Đông Tây tìm gặp lại nhau/ hai trái tim thật gần/ hai bờ vai thật yên
Rưng rưng giọt lệ ở ngăn tim/ hoang bóng cơn mưa mùa trái đắng/ sâu hút trên cồn đá màu sương/ vẫn mênh mang một chốn về/ giao kết với thời gian biển lận...
thơ viết lên từng hàng da diết/ như nhánh sông đi qua thành phố/ như cơn mưa rót vào tim người/ngày đầu năm những nỗi nhớ có ai hay …
tôi không thể nào quên được hình ảnh/ hai con khỉ bắt chí rận cho nhau/ qua nhiều tháng năm/ hai con khỉ dần dà lão hóa/ (không thoát khỏi lẽ vô thường) ...
Sáng mùng ba Tết nắng lên tươi/ hương nồng từ biển gió lay mời/ ngoài hiên giò lan tía nở rộ/ lòng ta mở rộng đón đất trời...
Thả lỏng hết canh đời nhức nhối / vành đai nghiệt ngã của thông đồng / cái chết. niềm đau chìm thất lạc / một thoáng tâm thiền nơi ngộ không
thở lên cầu lộng chân mây/ loa xa nhánh nữa cởi vai sông triền / từng say đắm rượu bách niên / cây nhân gian sẽ nhện phiền muộn giăng / bím thư sinh bới lọn mầm / lưới yêu mị chải lệch tâm lược ngà / nhá nhem đóm lội tịch tà / cái hôn ám cũ tách ra giữa vời
Một nhà phê bình văn học ngoại quốc đã nói đại ý: Nếu các nhà thơ hiện đại không có độc giả, họ có thể tạo ra độc giả. Đây thuộc vào phần lớn thi tài của nhà thơ. Để có được một bài thơ ra thơ, nghĩa là, được sinh ra từ cảm xúc thực, có sự mới lạ của chữ và nghĩa, và ít nhất là có nhạc thơ. Thơ hiện đại có khi nghiêng về lý sự mà coi nhẹ cảm xúc. Làm thế nào để một bài thơ triết lý, suy tư, gây được rung động Thơ nơi người đọc? Thơ Nguyên Yên có một gợi mở như thế. Thơ của cô trầm tĩnh, đầy những suy tư triết lý, và táo bạo một cách sáng suốt để không phá đi thẩm mỹ từ của thi ngữ. Cô tôn trọng thi ngữ, cô triết lý bằng cảm xúc thơ (là khi trái tim phỉnh cái đầu… ), và vì vậy dòng thơ hiện đại của cô bật lên được nhạc chữ rất riêng của thơ tự do, đọc lên, có được cảm xúc đọc một bài thơ, cảm được cái mới lạ của chữ, nghĩa, hình ảnh. Suy tư mà vẫn ánh lên nét thơ mộng, lãng mạn, đặc biệt là những bất ngờ ở cuối bài thơ. Đó là những yếu tố mà thơ Nguyên Yên đã chinh phục được người đọ
tôi xòe bàn tay gọi màu vàng / gọi màu cam màu đỏ của ráng chiều. gọi màu xanh của mây trưa. ôm hôn những cánh mỏng phía trên đầu gió / nhưng trái tim tôi không quyền phép bàn tay tôi quá nhỏ / đóa hoa không màu
tháng hai/ ngôi nhà xám có ánh sáng hắt ra/ như ân huệ sót lại của đêm/ người con gái ngồi cạnh bàn hoa/ nhớ trăm điều cổ tích/ ngón tay mân mê/ trên những trang sách cũ già...