Hôm nay,  

Đời là thoáng chốc

10/04/202417:51:00(Xem: 3162)
Truyện

xe lan

Người ta nói: “Hết quan là hoàn dân” và chỉ mong có vậy, đừng hết quan hoàn…tàn phế” thì buồn quá! Hôm nay lão Dụng đã tự ngồi dậy được. Lão không nhớ là mình đã nằm như khúc gỗ mục, bất động bao lâu rồi! “Mới đó mà đã lại sang một năm mới. Thời gian bây giờ có nghĩa gì đâu chứ!” Lão lẩm nhẩm một mình!
    Nhưng dù sao ngồi dậy được cũng là một tiến bộ vượt bậc của lão rồi! Lão tự an ủi mình như vậy! Lâu nay mọi việc ăn, uống vệ sinh cá nhân đều trông cả vào bà Hường- vợ lão.
    Kể từ ngày ông Trần Hứa Dụng (tên của lão) bị một cơn tai biến trối chết nằm hôn mê một tháng, sau đó tỉnh dậy ú ớ, nói không rõ tiếng và bị liệt nửa người thì bà Hường phải đút cho ông từng muỗng cháo, hai đứa con phụ bà thay nhau phục vụ ông những đã hơn năm rồi có lẻ. Ông mở mắt nhìn bà với cái nhìn biết ơn. Bà Hường cũng không còn trẻ nữa, u bảy mươi rồi còn gì! Nhưng vợ chồng mà! “ đui thì dắt, què thì cõng”-Người xưa đã dạy đạo nghĩa tào khang nào có bỏ nhau được. Bà đỡ ông ngồi lên chiếc xe lăn, đưa ông ra hiên nhà để hứng chút nắng gió ban mai của mùa xuân thổi tới còn lẩn quất đâu đây. Ngắm nhìn phố phường, dòng người và xe cộ tấp nập lướt qua trước cửa. Ông hồi tưởng lại đời mình, mới đây thôi mình là một sếp Trần Hứa Dụng oai vệ tại một cơ quan có đến hơn trăm nhân viện văn phòng. Đó là đơn vị lớn trong tốp đầu của thành phố. Hằng ngày tới cơ quan, nhân viên dưới quyền vui vẻ, dễ thương. Nhà tết lễ đầy khách khứa vào ra tấp nập.  Mặc dù công việc đôi khi cũng có phần áp lực. Nhưng công việc ưa ý và cuộc đời  đầy ý nghĩa. Lính lác hết giờ làm cù rũ mình đi chơi chỗ này chỗ nọ, quán xá các kiểu thời gian lúc nào cũng bận rộn. Khi thì tiếp khách trên về, đối tác làm ăn, mệt nhưng vui. Lão bất giác tủm tỉm cười, một nụ cười kín đáo vừa liếc nhìn bà vợ già của lão đang lúi húi múc cháo vào tô nhỏ, mang ra cho lão ăn sáng.
    Lão nhớ lại, hồi ở cơ quan nhiều em cũng đáo để lắm cơ! Có đứa son rỗi (gái tơ) không nói, có đứa chồng nó đi dạm ngõ rồi mà nó cũng sẵn sang sà vào lòng. Lão chỉ cần huýt sáo một cái là có ngay gái trẻ trung xinh đẹp hừng hực sức xuân, nhiều lúc cả tháng trời lão quên béng đi là mình còn có mụ vợ già. Về nhà lão như kẻ no xôi chán chè, nhìn mụ vợ già nua đen đúa, tóc tai nhễ nhại dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng mà phát chán, nên lão từng phụ rẫy bà vợ già của mình bằng những lời lẽ cộc cằn, xua đuổi. So sánh với các em thơm phức váy áo, da dẻ nuột nà, đôi khi lão ước gì ngủ dậy con vợ già cũ kỹ của mình biến mất. Thay vào đó là em Đào Mộng Điệp. Điệp mới về cơ quan làm chưa lâu, đang ở dạng thử việc một năm.     Lúc này cơ quan cần một biên chế, nhưng người ta gửi về đến ba nhân viên nữ là Nguyễn Thị Vân Lệ, Đào Thị Mộng Điệp và Trương Thị Sương Mai. Trong ba đứa thì Mộng Điệp nhan sắc bắt mắt hơn cả. Biên chế dư, công việc của một người nay chia đều cho ba cô. Thời gian còn lại cho phụ trách thư viện cơ quan. Và kiêm tạp vụ, trà nước tiếp khách. Ba nữ nhân viên mới mỗi nàng đều có cách riêng để phấn đấu làm sao cho lọt vào vé biên chế. Vân Lệ và Sương Mai chăm chỉ, giao việc nào hoàn thành việc đó, không có gì phải phàn nàn. Nhiều khi xong phần việc của mình còn xuống phòng bảo vệ giúp luôn công việc của bác bảo vệ và dọn rác. Văn phòng cơ quan sạch sẽ ngăn nắp hơn từ ngày có nhân viên mới. Mộng Điệp thì khác, bởi nàng biết nàng đẹp, nàng dựa vào nhan sắc của mình: Nước da trắng ngần, eo thon ngực nở, mông tròn, dáng dấp đầy quyến rũ.  Nàng nghĩ trong ba đứa, chắc chắn mình lọt vào mắt xanh của sếp là cái chắc. Nàng nghe đâu là con dâu tương lai của một sếp  nào đó cũng lớn lắm, nên chuyện gửi gắm vào làm ở một cơ quan không có gì là khó. Mộng Điệp được giao làm tổ trưởng của nhóm nhân viên mới. Mông Điệp phân công cho hai nàng kia làm luôn cả phần việc của mình.  Ba đứa lúc đầu, cũng chơi với nhau, thân nhau. Vân Lệ và Sương Mai thì vô tư, nghĩ Mộng Điệp cũng xuất thân nông thôn chắc cũng thật thà chất phác nên muốn hỗ trợ nhau để cùng nhau hoàn thành công việc được giao. Mộng Điệp thì khác. Dù bên ngoài tỏ ra thân nhưng bên trong lúc nào cũng muốn loại bỏ hai nhỏ này ra khỏi miếng bánh biên chế cơ quan. Một hôm Mộng Điệp giao cho Vân Lệ làm kiểm kê sách, ghi vào sổ sách, rồi Mộng Điệp đem lấy sổ giấu mất để khi sếp kiểm tra sẽ thấy Vân Lệ không hoàn thành nhiệm vụ. Có mấy lần bị Vân Lệ bắt ốc rơ, tìm ra sổ sách, rồi hai đứa cự cãi. Đẩy qua, đẩy lại, Mộng Điệp nhào vào đánh Vân lệ hai bạt tai như trời giáng, Vân Lệ bị đánh bất ngờ nên tức giận cũng sấn tới và Mộng Điệp đi lui ngã vào cạnh bàn. Thế là Mộng Điệp chạy thẳng lên phòng sếp khóc rấm rức vừa tỷ tê mách sếp. Hôm sau cơ quan họp đem ra kiểm điểm kỷ luật. Lúc này bố của Vân Lệ đang ốm nặng nằm ở phòng cấp cứu khó qua khỏi, tối hôm đó bệnh viện trả về, Vân Lệ lòng tan nát, nhìn bố nằm thiêm thiếp, tiên lượng xấu, Vân Lệ viết đơn xin nghỉ để ở nhà bên bố những giâu phút cuối. Nhưng cơ quan vẫn tiến hành họp đòi kỷ luật Vân Lệ.
    Sau khi đưa bố về nơi an nghỉ, việc hiếu tang chế đã tròn. Vân Lệ trở lại cơ quan làm việc. Công việc gặp nhiều ngáng trở từ phía đồng nghiệp trẻ cạnh tranh không lành mạnh. Mộng Điệp ngày càng lên mặt, sếp hạch hỏi bất cứ khi nào, sau mỗi lần Mộng Điệp nhỏ vài giọt nước mắt làm xót xa lòng sếp.
    Có lần Vân Lệ ôm chồng sổ sách lên phòng sếp ký, thấy cửa phòng không đóng, chỉ  khép hờ, Vân lệ vô tình đẩy cửa đi vào thì thấy cảnh tượng như phim. Sếp với hai tay xoa xoa, nắn nắn khắp bờ vai Mộng Điệp. Vân Lệ nói lời xin lỗi và lui. Sếp quắc mắt hỏi:
    – Vô phòng sao không gõ cửa?
    Vân Lệ líu ríu trả lời:
    – Là lỗi của em, tại em thấy cửa không đóng, lần sau em sẽ lưu ý hơn!
    Từ đó về sau. Sếp và Mộng Điệp là hai gọng kìm ngày càng bóp nghẹt tinh thần và công việc của Vân Lệ. Được sếp cưng, Mộng Điệp ngày càng lộng hành. Vân Lệ nghĩ nếu mình buông xuôi là thất bại, trúng kế của họ nên phải nổ lực cố gắng. Nhờ sự chuyên cần, yêu nghề và chuyên môn vững, cùng với sự vào cuộc của các trưởng phòng ban chân chính, chỉ vẻ cho Vân Lệ, cuối cùng Vân lệ cũng được vào biên chế dù muộn so với bạn cùng khóa, vậy là trể một năm.
    Những cuộc họp hành liên miên, những hăm he phe phái diễn ra phức tạp, sau năm năm, Vân Lệ viết đơn xin chuyển vào đơn vị gần nhà. Trần Hứa Dụng cũng bị thanh tra vì bộc lộ nhiều bất cập trong quản lý nên bị thuyên chuyển. Ông bị đổi sang làm ở một bộ phận phòng ban gì đó của hội sở (cấp cao hơn) nhưng ở vị trí mới thì nhàn, ngồi chơi xơi nước nhiều hơn nhưng buồn, không còn lính lác gì ráo. Hằng ngày muốn đi nhậu thì phải share. Muốn uống một ngụm trà cũng phải bỏ tiền túi ra mua, không còn cảnh nhân viên vây quanh, muốn gì được nấy như hồi làm ở cơ sở. Buồn ơi là buồn! Đúng là “đầu chó hơn đuôi voi”. Lên voi, xuống chó thiệt tình.  Thế là chiều tà đã đến với đời ta. Hứa Dụng nghĩ bụng, nhưng nhờ Mộng Điệp vẫn còn ngon ngọt khi cần nhưng cũng chỉ qua loa chiếu lệ chứ chuyện gặp gỡ thì không dễ như hồi cùng “chung một chiến hào”.
    Đùng một cái, đang từ trong quán nhậu bước ra, Hứa Dụng bỗng xây xẩm mặt mày, té xuống. May có hai nhân viên quán chạy đến đỡ và đưa lão vào bệnh viện cấp cứu. Lão đã bị tai biến, rồi sau đó đi vào hôn mê. Hơn một tháng thì tỉnh. Cũng có vài đồng nghiệp lui tới thăm hỏi. Nhưng lão chưa lần nào thấy Mộng Điệp xuất hiện. Đời nó bạc như vôi! Lúc xưa mình là thủ trưởng, nó lúc nào cũng ngọt xớt: anh anh, em em vậy mà khi mình bị bệnh đến tàn phế thế này, nó biến mất khỏi đời mình không một chút sủi tăm. Hóa ra nó chỉ yêu quý  “sếp” khi còn ngồi trên ghế chức quyền. Xuống khỏi ghế rồi thì đường ai nấy đi –“anh đường anh, tôi đường tôi tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi” như không hề quen biết.
    Ấy vậy mà mình vì nó, đã từng phụ rẫy mụ vợ già của mình với những cử chỉ lạnh lùng và lời nói rất chi là gừng nghệ cắt lát, lòng lão chợt chùng xuống, ân hận dẫu muộn màng. May mà bà vợ mình thuộc lớp người xưa được cha mẹ dạy dỗ chu toàn: Hiền thục, chăm chồng, chăm con hết lòng, không toan tính. Chứ thời nay thì khó giữ nổi, có người nói vui: “chán cơm them phở, nhưng khi chán phở trở về chưa chắc đã còn cơm”. Mà cũng có lý của nó. Lão tự an ủi, bả chưa bỏ mình, mình cũng còn may mắn chán. Lão ngước nhìn người vợ tào khang đã già theo năm tháng, đang lụi cụi bưng chậu nước ấm đến lau mặt, lau tay cho lão. Mắt lão nhòe đi hai giọt nước mắt chiết ra sau hốc mắt già nua hốc hác sau những tháng ngày chống chọi với bệnh tật. Lão lại nghỉ vẫn vơ, nước mắt lại tứa ra, bà đút cháo cho lão, đoạn quay lưng lấy khăn thấm nước mắt cho lão và dỗ dành:
    – Thôi ông đừng khóc. Đời người ai chẳng có lúc bệnh. Giờ qua rồi, ông đỡ nhiều rồi! Ông phải vui lên mới phải.

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.