Hôm nay,  

Đợi một người như anh

2/15/202410:23:00(View: 3132)
Truyện

couple-in-love

Mẹ và hai chị em tôi đã chuẩn bị xong một bữa ăn ngon lành. Chiều nay nhà có khách. Gia đình bác Hải từ tiểu bang California đến Salt Lake City du lịch và sẽ ghé nhà tôi, mục đích chính là cho trưởng nam của hai bác là anh Nhân gặp Kim Thịnh chị tôi.
    Hai gia đình quen thân bấy lâu nay nhưng mỗi người một tiểu bang, mẹ tôi và bác Hải gái muốn tình bạn thành tình sui gia thì càng thêm vui. Mẹ tôi muốn gả con gái lớn và bác Hải cũng muốn cưới vợ cho trưởng nam. Hai bà cùng hoan hỉ tạo cơ hội cho đôi trẻ biết nhau rồi tùy nhân duyên, hai bên cha mẹ không cưỡng ép. Anh Nhân và chị Kim Thịnh đã thỉnh thoảng trao gởi hình ảnh và email qua lại trò chuyện như hai người bạn.
    Chị Kim Thịnh háo hức vào phòng thay đồ làm tôi cũng háo hức theo chị, phụ giúp chị trang điểm cứ như cho cô dâu sắp ra mắt nhà chồng. Tôi biết chị đã cảm mến anh Nhân, chị vui mừng mỗi khi nhận email của anh, chị khoe anh Nhân là kỹ sư mà kể chuyện nắng mưa hay như làm thơ.
    Mẹ tôi vui vẻ và tự tin anh Nhân nhìn Kim Thịnh bằng hình ảnh đã đẹp, gặp bằng người thật Kim Thịnh hiền dịu anh chàng sẽ chấm ngay thôi. Mẹ nói với ba:
    – Gả con chị xong vài năm sau là đến con em.
    Chị Kim Thịnh 25 tuổi đang làm y tá trong một bệnh viện gần nhà, còn tôi sang năm mới xong bằng đại học 4 năm business. Tôi chưa có người yêu nhưng nhất định tôi không thích sự sắp đặt của mẹ, tôi không hiền lành đến mong manh như chị Kim Thịnh để mẹ phải lo toan cho cả việc nhân duyên.
    Vợ chồng bác Hải và anh Nhân đến, anh xứng đáng là người tình trong mộng của chị Kim Thịnh, đôi mắt đằm thắm ấy, miệng cười ấy, đẹp và nam tính dễ ưa. Mẹ khéo sắp đặt bàn ăn. Bên này gia đình chủ nhà bên kia gia đình khách. Anh Nhân đối diện hai chị em tôi, đôi lúc ánh mắt đằm thắm của anh bỗng làm tôi bối rối không biết anh đang nhìn chị Kim Thịnh hay đang nhìn tôi. Ăn xong mẹ tôi nói hai chị em đưa anh Nhân đi dạo quanh phố núi khu mình ở có những căn nhà trên dốc cao dốc thấp bên những bụi hoa nở đẹp rực rỡ.  Bây giờ đã là Xuân Hạ mà buổi chiều không gian vẫn se se lạnh nhưng bầu trời sáng sủa. Ba chúng tôi ra khỏi nhà một đoạn bỗng chị Kim Thịnh lúng túng níu tay tôi nói khẽ:
    – Chị quên mất, em và anh Nhân đợi chị chút, chị vào nhà lấy khăn choàng cổ và một chút nước hoa vào khăn vào tóc cho thơm. Buổi chiều nay đẹp quá chừng…
    Lòng chị đang xôn xao rạo rực, chị muốn làm đẹp làm điệu vì anh Nhân đấy chứ lạnh này có là bao. Chúng tôi đi ngược về nhà, tôi và anh Nhân đứng ngoài sân chờ đợi. Tôi khoe anh cho bớt trống trải khi chỉ có hai người:
    – Gia đình anh du lịch Utah thật đúng lúc, cuối Xuân chớm Hạ bao loài hoa nở đẹp, có Mountain Bluebell màu xanh chập chùng đồi núi, có hoa xương rồng đỏ vàng đẹp xinh dọc theo những vạt đất dưới chân đồi đầy sỏi đá. Mà khắp nẻo Utah đều có núi đồi đi đâu anh cũng gặp.
    Anh tiếc rẻ:
    – Nếu anh biết thế…
    Tôi mỉm cười:
    – Em hiểu rồi anh chỉ theo cha mẹ đến Utah để gặp chị em.
    Anh dí dỏm:
    – Và gặp em nữa. Thật ra ba mẹ anh nói muốn du lịch Utah nhân thể thăm gia đình người bạn và nhất định muốn anh đi cùng, Kim Thịnh cũng là bạn anh mà.
    Chị Kim Thịnh đã ra tới cửa chị đang bước xuống từng bậc thang gỗ, tấm khăn choàng mỏng màu tím của chị mơ màng và lướt thướt vướng vào chậu hoa Creeping Buttercup nở hoa vàng bên thềm. Hình ảnh đẹp như trong tranh.
    Anh Nhân lịch sự chạy đến gỡ tấm khăn khỏi chậu hoa giúp chị Kim Thịnh nhưng anh lại nhìn tôi, cũng với ánh mắt đằm thắm ấy và hỏi tôi:
    – Nãy em đang nói về loài hoa gì màu tím nhỉ?
    Sao anh không ngắm màu tím khăn choàng của chị Kim Thịnh mà quan tâm làm gì đến màu tím loài hoa nào tôi vừa kể. Tôi hơi giận và bâng quơ:
    – Hình như là Silvery Lupine…
    Gia đình bác Hải ở một khách sạn gần nhà chúng tôi, họ đến Utah chỉ ba ngày cuối tuần. Chị Kim Thịnh xin nghỉ làm 3 ngày này. Ngày nào hai gia đình cũng gặp gỡ khi cơm nhà khi đi nhà hàng, người lớn chuyện trò với nhau, hai chị em tôi cùng tiếp chuyện với anh Nhân, đưa anh đi một vài nơi, Mỗi lần gặp anh Nhân là mỗi lần chị Kim Thịnh vui vẻ sinh động hẳn lên.
    Ba chúng tôi có một buổi sáng dài tự do đi ăn và đi chơi với nhau vì chiều nay gia đình bác Hải sẽ ra phi trường bay trở về nhà. Chúng tôi đến Hồ Muối, nước hồ mặn như nước biển chúng tôi đi dạo trên bãi cát sát ngay những làn sóng nước nhấp nhô, rồi chụp hình kỷ niệm. Anh Nhân chụp hình chung với chị em tôi rồi chụp riêng cho từng người, chụp chị Kim Thịnh yểu điệu ngồi bên một tảng đá gió bay bay mái tóc, chụp hình chị từ xa đang sải bước đến gần anh, kiểu dáng nào cũng đẹp. Đến lượt anh chụp cho tôi, chẳng hiểu tại tôi vụng về hay anh quá cẩn thận đã chạy đến bên tôi để chỉnh sửa lại dáng ngồi, nhưng thật ra anh chỉ nói như thì thầm:
    – Chiều nay anh về, có một điều anh chưa có dịp nói với em, Hãy cho anh số phone của em đi.
    Tôi bối rối và linh cảm điều anh muốn rất riêng tư, những ánh mắt những cử chỉ anh dành cho tôi trong ba ngày nay đã cho tôi những bâng khuâng nhưng không dám suy nghĩ xa hơn. Tôi cố giữ vẻ bình thường và vô tư:
    – Anh nói ngay bây giờ đi cả em và chị Kim Thịnh cùng nghe cho vui.
    – Anh chỉ có thể nói với một mình em. Làm ơn.
    Chị Kim Thịnh đang đùa với sóng nước từ xa, không hiểu sao tôi bỗng e ngại chị sẽ lại gần và không kịp nữa, tôi phản ứng như một cái máy đọc số phôn cho anh. Xong tôi cảm giác như vừa phạm tội, vừa lừa dối qua mặt chị tôi. Chị Kim Thịnh đã đến bên chúng tôi, chị nhờ anh Nhân chụp thêm cho chị mấy kiểu hình đùa bên sóng nước mà chị vừa nghĩ ra.
    Ngay hôm về tới nhà, buổi khuya khi tôi lên giường sắp ngủ anh Nhân đã gọi cho tôi làm như anh không thể để lâu hơn được nữa. Hai tiểu bang xa cách mà tưởng như vẫn gần nhau, anh vẫn đang ở chơi Utah phố núi:
    – Sang năm em ra trường, cho phép anh tham dự chung vui với em không?
    – Anh tìm cơ hội để gặp chị Kim Thịnh chứ gì? Mẹ anh và mẹ em đã mong muốn thế.
    – Anh chỉ xem Kim Thịnh là bạn, chiều lòng mẹ, anh đã liên lạc thư từ. Mẹ anh luôn nghĩ rằng trước là bạn sau sẽ là người yêu mấy hồi, nhưng điều ấy không đến, anh không thể.
    Tôi buồn buồn:
    – Chị Kim Thịnh rất mến anh.
    Chỉ qua phone mà tôi như thấy đôi mắt anh đang thâm trầm nhìn tôi:
    – Anh không được hẹn để gặp em nhưng anh lại cảm mến em ngay từ phút đầu. Anh không lựa chọn, chỉ vì trái tim anh.
    Tôi cũng không lựa chọn, chỉ vì trái tim tôi. Nhưng anh ơi tôi cũng không thể.
    Anh thẳng thắn tỏ tình:
    – Điều anh muốn nói là anh yêu em.
    Tim tôi đập rộn rã cảm giác hạnh phúc lẫn đau buồn cùng một lúc và không nói nên lời. Anh cũng thẳng thắn hỏi:
    – Em có nghĩ về anh với chút tình cảm nào không?
    Hình ảnh mẹ tôi vui chờ hớn hở, ba tôi tự tin Kim Thịnh đã có chàng trai tốt và nhất là chị Kim Thịnh đang rộn ràng hồi hộp mong chờ tiếng nói từ anh, từ cha mẹ anh. Tôi bỗng nói lạnh lùng trôi chảy:
    – Không anh. Trong khi mọi người mong muốn anh yêu và cưới chị Kim Thịnh em cũng xem anh như một người anh mà thôi.
    Tôi càng lạnh lùng khi cúp phôn, để rồi suốt đêm tôi đã khóc ướt gối.
    Anh Nhân vẫn lịch sự thỉnh thoảng liên lạc email với chị Kim Thịnh, vẫn không ngoài chuyện hỏi thăm thông thường và kể chuyện nắng mưa như hai người bạn cho đến khi thư anh thưa dần. Chị Kim Thịnh buồn và thất vọng não nề. Tôi là người bên cạnh khích lệ chị, anh Nhân và chị chưa ai hứa hẹn nói lời yêu thương, chỉ là không có duyên đến với nhau thôi, đường đời còn có nhiều ngõ cho ta rẽ, cuộc đời còn có nhiều cơ hội, nhiều người khác cho ta yêu. Tôi khuyên chị mà như khuyên cho chính mình. Cha mẹ tôi cũng nguôi ngoai dần và khuyên chị như thế.
    Năm sau tôi ra trường. Ngày vui ấy tôi vẫn chờ mong vô cớ biết đâu vì lý do nào đó anh biết được ngày này và sẽ bay đến dự lễ tốt nghiệp chung vui với tôi, anh đã muốn thế mà. Nhưng tôi biết chỉ là giấc mơ hão huyền.
    Chị Kim Thịnh đã có tin vui, chị có người yêu là anh chàng làm trong phòng lab cùng bệnh viện với chị. Cuối năm nay họ sẽ làm đám cưới. Lần này thì chị Kim Thịnh rộn ràng vui với tình yêu có thật của chị.
    Cả nhà tôi đều vui mừng. Cha mẹ tôi sẽ mời gia đình bác Hải và anh Nhân đến dự đám cưới. Tôi lại hi vọng và chờ mong, nếu lần này gặp anh, anh còn nói yêu tôi hay không thì khi chỉ có hai người tôi cũng sẽ ngả đầu vào vai anh và nói: “Em yêu anh”. Tôi sẽ giải thích với anh lời từ chối và xin lỗi anh cử chỉ cúp phôn phũ phàng của tôi hôm ấy, anh sẽ hiểu và càng yêu tôi thêm.
Thiệp cưới in xong mẹ tôi vui vẻ gọi điện thoại nói chuyện với bác Hải gái và mời đi đám cưới Kim Thịnh. Bác Hải cũng hớn hở báo tin vui của nhà bác:
    – Hai đứa này lạ thật, Kim Thịnh nhà chị và Nhân nhà tôi không duyên với nhau mà có nhiều điểm giống nhau, cả hai cùng tính nết hiền lành, không hẹn mà cùng có người yêu và cưới vào cuối năm nay. Đám cưới Kim Thịnh trước chúng tôi sẽ tham dự rồi tháng sau anh chị sẽ tham dự đám cưới con trai tôi nhé. Vui cả đôi bên.
    Thế là hết, anh mãi vời xa tôi không mong gì gặp lại. Mẹ tôi lại nói với ba:
    – Nay mai là tới con út ngay ấy mà. Nó lanh lợi thế kia.
    Tôi không dễ quên như chị Kim Thịnh, như anh Nhân. Cả hai người đều nhanh chóng có tình yêu khác, còn tôi chưa biết đến bao giờ mới quên được. Anh Nhân hòa nhã và thẳng thắn, anh Nhân với đôi mắt và miệng cười ấy.
    Tôi sẽ chờ đợi một người để yêu, để nhớ để thương. Người ấy không là anh nhưng sẽ giống như anh.

 

– Nguyễn Thị Thanh Dương

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.