Hôm nay,  

Giáng Sinh Này, Giáng Sinh Xưa

23/12/202321:06:00(Xem: 2290)


Cho sinh nhật ldv

Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì. Ông chỉ thấy hình ảnh những thiếu nữ áo dài trắng đứng bên hang đá, mấp máy những cánh môi hồng. Ông chôn chân trên nền nhà lót thảm. Lẩn quẩn một lúc, ông lết đôi dép qua phòng làm việc, đứng trước tủ sách, cau mày suy nghĩ. Lũ sách vở chen lấn nhau, cố ló mặt ra khỏi cái đám ngay hàng thẳng lối để ông nhìn thấy. Ông đứng lặng thinh. Ông không rút đại một cuốn ra để đọc vài câu rồi nhét vào chỗ cũ như mọi khi. Một lát, ông bỏ ra phòng ăn, ngẩn ngơ nhìn những ngăn tủ. Lũ ly chén lơ láo nhìn ông, như lũ học trò của ông ngày xưa vẫn xếp hàng trước cửa lớp đầu buổi học. Ông không nghe tiếng bọn học trò xì xào nhưng ông nghe ra được tiếng lanh canh của ly chén chạm nhau. Ông đứng bất động. Rồi ông lắc đầu. Lưng khòm. Mắt mỏi. Đầu gối run. Óc rối mù.

Ông lần ra phòng khách, nhìn cuốn lịch trên tường. Những con chữ bò lổm ngổm trên chân dung cô ca sĩ mắt to, môi mọng. Ông nheo mắt nhìn. Quái lạ! Mấy hôm trước cuốn lịch bảo ông sắp Giáng Sinh mà hôm nay – nghĩa là cả tuần lễ sau, ông nhớ loáng thoáng như thế - cũng vẫn chỉ sắp Giáng Sinh. Con số 20 và hàng chữ Tháng Mười Hai lao xao trò chuyện. Như vậy nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa là lễ Giáng Sinh. Thời gian có lướt đi hay đã đọng lại và ngủ quên trên cuốn lịch? Sắp Giáng Sinh rồi. Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng; cực kỳ quan trọng, bởi đó cũng là sinh nhật của vợ ông. Ông gõ ngón tay xương lên vầng trán nhăn như gõ cửa phòng người quản gia canh chừng trí nhớ. Và ông nhớ đã mua quà sinh nhật cùng với quà Giáng Sinh cho vợ, ông nhớ đã giấu thật kỹ để tạo bất ngờ cho bà nhưng tai họa đang chờ ông bởi ông không nhớ mình giấu món quà ấy ở đâu.

Đúng là tai họa.

Người ta gọi ông là ông già từ hồi nào ông cũng không nhớ nữa. Ban đầu ông không mấy tin, bởi ông thấy mình chưa già. Dù những thứ bệnh của người già cứ đeo dính lấy ông như lũ đỉa đói trong đầm lầy nhiệt đới. Huyết áp cao. Mỡ trong máu cao. Tiểu đường. Cườm mắt. Loãng xương. Phong thấp. Nhưng những thứ bệnh vớ vẩn ấy đến từ từ, khiến ông quen dần với chúng nó, và không còn cảm thấy bất ngờ. Có khác chăng là dạo này mọi thứ đồ vật trong nhà đua nhau chọc ghẹo ông, như cặp gối trong phòng ngủ, như lũ sách vở trên kệ, như đám ly tách trong tủ, như cái ti vi dựa vách tường. Đôi khi ông nghe được cả tiếng chúng nó cười khúc khích. 

Thì cứ cho là ông đã già với mắt nhìn kèm nhèm, tai nghe lõng bõng, nhưng ông vẫn tin là mình chưa già mấy. Bởi ông vẫn yêu thương vợ ông, yêu hơn cái thời hai mươi tuổi. Vậy là ông chưa già. Trái tim còn nguyên vẹn. Ông định nghĩa tuổi tác qua cách hành xử của trái tim. Năm nào gần Giáng Sinh ông cũng mua cho vợ vài món quà nho nhỏ, vừa để mừng lễ, vừa để tặng sinh nhật bà. Và ông nghĩ còn yêu thương được là vẫn còn rất trẻ. Điều làm ông bận tâm là dạo này trí nhớ ông hơi loạc choạc. Ông hay quên. Quên nhiều nhất là những chuyện vừa xảy ra. Đơn giản như vừa uống thuốc xong, quay đi quay lại, đã băn khoăn không biết mình đã uống thuốc chưa. Thuốc của ông lại là thứ độc hại, bỏ một ngày là thấy phiền phức ngay. Ngày nào vợ ông cũng phải nhắc ông uống thuốc. Định lục tủ kiếm quyển sách nào đó nhưng bước vào phòng làm việc, ông ngẩn ngơ không biết mình vừa định làm gì. Thật lâu sau mới sực nhớ lại là định đi tìm một cuốn sách. Nhớ được rằng mình đi tìm cuốn sách nhưng lại quên mất tên cuốn sách ban nãy muốn tìm. Cứ loanh quanh lẩn quẩn như thế mà hết ngày.

Và hôm nay cái tật hay quên làm ông cuống lên. Quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của bà ông lén đi mua về rồi ông giấu ở đâu không nhớ nữa. Biết lục ngăn nào trong trí nhớ để tìm bây giờ! Thông thường khi cần tìm cái gì đó mà không thấy thì ông hỏi bà, nhưng chuyện này làm sao mà hỏi được.

Ông đã từng tìm tòi, nghiên cứu sách vở để tìm phương thức chống lại chứng hay quên của mình. Và ông đã tìm ra được cách tốt nhất để chế ngự nó. Ông áp dụng cách ấy. Phương pháp của ông là khi định làm gì thì miệng nhắc liên tục đến việc ấy, cho đến khi làm xong. Như muốn tìm cái áo thì khi đi đến tủ áo, miệng sẽ luôn lẩm bẩm "cái áo, cái áo, cái áo." Khi tìm thấy cái áo rồi thì miệng mới thôi lẩm bẩm.

Mới hồi sáng cái tật chóng quên đã chọc ghẹo ông một cách sỗ sàng. Ấy là thời tuổi trẻ, đôi khi ông cũng có thơ đăng báo. Bây giờ không còn bận tâm với vần với điệu nữa nhưng thỉnh thoảng, bất chợt ông cũng nghĩ ra được một câu nghe như thơ, và ông quyết định lấy bút viết cái câu hay ho ấy xuống. Ông lẩm bẩm "cái bút, cái bút, cái bút" trong khi bước vào phòng làm việc để lấy bút. Nhưng rồi khi tìm được cái bút thì câu thơ trong đầu đã tan biến như vạt sương mù sớm mùa thu trên khóm lá đường phong trước nhà.

Trí nhớ của ông cứ mòn dần, và đầu óc ông nhiều lúc trôi dạt đến tận nơi nào xa lắc. Và bây giờ ông đâm ra hoang mang. Mình giấu quà cho bà ấy ở đâu. Nhà rộng, ngõ ngách lung tung, biết đâu mà tìm. Nhưng mà có khi nào năm nay chưa mua mà trí nhớ mình lẫn lộn với năm ngoái năm xưa nên cứ nghĩ là đã mua quà cho bà ấy rồi không?

Buổi tối, trước khi đi ngủ, ông đi vào phòng làm việc, miệng lẩm bẩm “mắt kính, mắt kính…” và ông loay hoay tìm mắt kính để vào giường thấy đường mà đọc sách. Không tìm ra chỗ giấu quà chắc ông sẽ chẳng thể nào ngủ được, mà không ngủ được thì đành thức đọc sách dỗ giấc chứ biết làm gì khác hơn được. Nhưng vừa bước qua cửa phòng làm việc ông đã quên bẵng đi mình phải làm gì. Vậy là ông cứ đi tới đi lui, lật cái này, đẩy cái kia để tìm và miệng vẫn lẩm nhẩm. Nhưng đầu óc không nối kết được với những chữ mà cái miệng đang lẩm bẩm. Ông không còn biết mình vào phòng để làm gì nữa.
Cứ thế. Tay lục lọi, miệng lép nhép và thỉnh thoảng ông bật lên một cơn ho và đứng sựng lại ngẩn ngơ như người mất trí.
Chờ lâu không thấy ông vào ngủ, vợ ông đi tìm.

Bà thấy ông đứng ngẩn trong phòng làm việc, miệng lẩm bẩm, mắt ngơ ngác nhìn quanh. Bà nghiêng đầu lắng nghe. Bà tập được tính kiên nhẫn từ mấy mươi năm chung sống. Bà biết ông không còn sáng suốt như thời trai trẻ. Bà đã chuẩn bị cho cái ngày hình ảnh bà nhòe đi trong trí nhớ ông, và ông ngập ngừng nhìn bà, nói với bà bằng cái giọng rụt rè quen thuộc, "Xin lỗi, bà là ai; tôi có quen bà không?"

Bà nhìn ông. Giọng ông khàn khàn. Môi ông mấp máy. Như tín đồ tụng kinh. "Mắt kính. Mắt kính. Mắt kính."

“Ông tìm cái gì thế?” Bà hỏi nhỏ. Bà không muốn ông giật mình.

Ông ngẩn người ra, “Tôi cũng không biết nữa.” Ông nói lí nhí như đứa bé bị bắt quả tang làm điều sai trái. Và miệng ông lại lẩm bẩm, “Mắt kính, mắt kính…”

“Nói chuyện với ai mà cứ lải nhải 'mắt kính, mắt kính' thế?” Bà nói.

Như nghe được câu thần chú, ông tỉnh hẳn, “Đúng rồi, bà nhắc tôi mới nhớ, tôi tìm mắt kính. Không có bà chắc tôi chết quá!”

Ông lê từng bước, tới sát bên, choàng tay lên vai bà. Bà đứng lặng. Ông kéo một cánh tay bà, vắt lên vai ông, để có một vòng ôm như những ngày hai người còn trẻ. Tình còn nở hoa. Quên gì thì quên nhưng ông vẫn nhớ những vòng ôm thời tuổi trẻ của hai người. Những vòng ôm ấm áp. Không có bà chắc tôi chết quá. Câu nói của ông làm bà cảm động. Tự dưng bà muốn khóc. Dạo này bà cũng dễ cảm động. Hơi một chút là rơi nước mắt. Thời trẻ đâu có vậy. Nhưng bà cố nén cơn xúc động.

“Tìm mắt kính làm gì?" Bà hỏi, nhìn sâu vào mắt ông. Qua lớp thủy tinh của cặp kính lão ông đeo trên mặt, đôi mắt ông hiền như mắt vị thiền sư. Bà kéo tay ông, “Vào ngủ thôi. Khuya rồi.”

Ông níu tay bà lại, “Nhưng phải tìm mắt kính, không có mắt kính làm sao đọc sách.”

Ấy là thói quen của ông. Vào giường bao giờ cũng phải đọc vài trang sách rồi mới ngủ. Hôm nay lại thêm nỗi hoang mang - không biết đã giấu quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của vợ ở đâu, hay là chưa mua mà cứ yên trí đã mua rồi. Nỗi hoang mang ấy nhằng nhịt như màng nhện dăng đầy trong óc, ông sẽ chẳng cách nào ngủ được.

“Tôi đánh mất mắt kính rồi!” Giọng ông nghe như tiếng thở dài.

“Để tôi tìm cho,” và bà đưa tay, nhẹ nhàng gỡ cặp kính lão ra khỏi mắt ông. "Đang đeo trên mắt mà còn đi tìm đâu nữa!"

Trên khuôn mặt nhăn nheo của ông nở ra một nụ cười ngây ngô. Nụ cười của đứa bé lên ba, lên bốn. Tuy nhiên nỗi băn khoăn vì những món quà thất lạc cứ xoay vòng trong óc ông như cơn lốc.

Ông đã lẫn thật rồi, bà thầm nghĩ, nhưng vẫn còn may mắn bởi ông vẫn còn nhận ra bà, người vợ của hiện tại và người tình của ba mươi mấy năm xưa. Bà níu lấy tay áo ông như thuở mới quen và nói với ông cái câu bà vẫn nói mỗi tối, “Vào ngủ sớm cho khỏe.”

Ngang qua phòng khách bà dừng lại, nhìn màn hình ti vi một lát, rồi vói tay tắt máy và lẩm bẩm, “Giáng Sinh qua cả tuần rồi mà họ vẫn chơi nhạc Giáng Sinh.”   

Ông giật mình, nghiêng đầu hỏi, “Bà nói gì?”

“Tôi nói Noel qua lâu rồi mà Ti Vi vẫn chơi nhạc Giáng Sinh… À mà cuốn sách với cái khăn quàng cổ ông tặng tôi đắt tiền quá, năm tới gom chung quà sinh nhật với quà Giáng Sinh thành một món thôi cho bớt tốn tiền ông à.”

231215

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mợ nằm im ắng, nét mặt bình thản. Làn da xanh tái và hai má lõm sâu, mợ không còn là mợ của hằng ngày. Mọi người chung quanh đi lại nói năng lao xao một cách nhẹ nhàng, và lũ trẻ trêu chọc nhau cách đó mươi thước cũng không làm dậy lên được khoảng trống âm thầm chung quanh mợ.
Tiếng kẻng ra chơi vừa vang lên, bọn học sinh ùa ra như ong vỡ tổ, chúng chạy nhảy chơi đùa la hét ầm ĩ quanh căn nhà. Bọn thằng Vinh, Trường, Cảnh… nổi tiếng nghịch ngợm như qủy sứ. Còn tụi con Lành, Lệ, Thúy…thì mê chơi banh đũa, ô làng, nhảy dây…Cả đám học sinh mệnh danh “ Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò” nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thằng Tèo.
Anh hớt ha hớt hải bước vội vào văn phòng tôi từ thang máy, vừa hào hển thở, anh vừa nói: - Bác sĩ làm ơn gọi giùm hãng của tôi là tôi cáo bệnh hôm nay. Gọi đi bác sĩ, kẻo trễ mất.
Chúng ta học được điều gì giữa khoảng cách đôi bờ sinh tử này. Vẫn có người đi theo con siêu vi chui vào giữa khoảng cách trống đó để kiếm thêm tiền (phần đông là những kẻ đã có sẵn tiền). Lừa đảo vẫn sẩy ra giữa đôi bờ sinh tử.
Cả tuần ở ẩn, sáng trưa chiều tối, anh và em, hai người không xa lạ 24 giờ trên 24 bốn mắt nhìn nhau quen quen mấy mươi năm nay, bỗng tự giam hãm ta với mình cận kề đến đuối sức. Ngày hai buổi cơm hai đứa coi TV quanh quẩn dịch bệnh Tàu cộng, thế sự đó đây toàn cầu mang màu tử khí từ vi khuẩn cô vy 19, Tàu tuyên bố hết bệnh, thế giới bước vào dịch bệnh dãy dụa tức tưởi.
Có một nhà khoa học từng phát biểu:” Cuộc đời này không có gì chắc chắn và tuyệt đối cả, duy chỉ có câu nói này là chắc chắn tuyệt đối”. Trong đạo các thiền sư cũng thường dạy: ”Thế gian này chẳng có gì chắc chắn cả, duy có cái chết là chắc nhất, thật nhất”.
Suốt thời gian qua, với những biến động đáng sợ trên thế giới về dịch Covid-19 – do người Trung Hoa tạp ăn gây ra – bà Trang cảm thấy uất hận nhà cầm quyền Trung cộng nhiều hơn chứ không thể nương vào lòng nhân đạo để bào chửa hoặc bênh vực cho Trung cộng trong sự kiện này.
Bác sĩ gốc Việt Alyssa Nguyễn Phước làm việc trong Phòng Cấp Cứu – ER (Emergency Response) của một bệnh viện tại New York (bà không muốn nêu tên vì lý do tế nhị). Dưới đây là bài phỏng vấn của phóng viên TuAnh Dam, đăng trên tờ NY City Lens ngày 26/3/2020; ianbui dịch lại từ tiếng Anh. Q: Bác sĩ thấy sự khác biệt nào trong phòng cấp cứu trước và sau khi dịch COVID bùng phát? A: Thông thường người ta vô ER vì bất cứ lý do gì. Dập ngón chân, xét nghiệm mang thai, u đầu cách đây hai tuần nay bỗng thấy chóng mặt… Vô gia cư, tâm thần, những thứ mà trong ER chúng tôi thường gặp – tất cả đều biến mất từ ngày có các ca COVID-19 đầu tiên.
Nhà văn Thảo Trường tên thật là Trần Duy Hinh, sinh năm 1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định, Bắc Việt. Ông di cư vào Nam năm 1954, tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức, rồi mới bắt đầu cuộc đời cầm bút. Thử Lửa là tác phẩm đầu tay của ông được xuất bản năm 1962. Sau đó ông được mọi người biết đến với các tác phẩm khác như Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Cát (1974)…
Cả thế giới đang quay quắt trong mùa cúm Vũ Hán (Wuhan Virus). Tôi thích ông ngoại trưởng Mỹ gọi thẳng tên con cúm một cách rạch ròi, cái tên của thành phố từ một đất nước và con người đã và đang mang đại họa đến cho nhân loại. Không cô Vy cô Viếc gì cả. Cũng không mắc công quảng cáo cho bia Corona của Mễ. Loài người có óc kỳ thị. Cứ tai họa nào của thiên nhiên giáng xuống là gán cho giới phụ nữ trong khi ngày 8 tháng 3 mới cách đó vài ngày. Không ai gọi nó là “thằng cúm” mà gọi nó là “con cúm”. “Con cúm” độc địa đang tung hoành khiến loài người trên trái đất này sống trong tâm trạng đang an bình nay đã thành bất an, đang bình thường nay trở thành lo âu, sợ hãi. Nó càng lây lan thì mọi người càng hoảng loạn.
Ánh nắng ban mai xuyên qua khung cữa sổ lớn lấp loáng lung linh trong căn phòng trắng tinh khôi, cậu chủ vẫn còn vùi mình trong chăn ấm nệm êm. Hôm nay là chủ nhật, không phải đi làm nên ngủ nướng. Jack tự thưởng cho mình một ngày chủ nhật thoải mái nhất mà cậu ta có thể, cứ như những ngày chủ nhật khác. Jack sẽ ngủ đã đời rồi dậy vệ sinh, ngồi tịnh tâm trước tôn tượng bổn sư, ăn sáng và bước ra vườn.
Anh từng ghé lại Cau Lạc Bộ anh nói chuyện với anh em với tất cả hào khí của người lính. Anh khẳng định:”Sống là chiến đấu, là chấp nhận thử thách”. Đôi khi đời không hiểu ta, ta cũng phải ôm nó vào lòng, ôm chặt nó, há miệng cắn vào nó như xích của tank cạp lấy mặt đường, bùn lầy, tiến về phía trước, tiến về mục tiêu đã qui định.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.