Hôm nay,  

Edmonton Mùa Tuyết Tan

3/4/202221:12:00(View: 2760)

Tùy bút:

snowcountry



Dù gần cuối tháng Ba mới chính thức bước vào Spring, nhưng đối với tôi, khi hết tháng Hai cũng là hết mùa đông giá lạnh. Nhiều người nói Canada mùa đông dài sáu tháng là... nói thách quá, thực ra chỉ là bốn tháng, từ tháng Mười Một đến tháng Hai mà thôi. Dẫu rằng qua tháng Ba hay tháng Tư, trời buồn trời vẫn đổ cơn… tuyết, nhưng nhiệt độ đã ấm, tuyết sẽ mau tan, kể cả những đám tuyết "lì lợm" từ mùa đông còn nằm trên vỉa hè cũng bắt đầu tan chảy, và tôi gọi tháng Ba là Mùa Tuyết Tan.

 

Mấy đứa bạn của tôi bảo, nghe có vẻ lãng mạn thơ mộng lắm, nhưng thực tế thì hỡi ôi, tuyết tan thành từng vũng nước, rồi hòa với bụi bặm đường phố, tạo thành những vũng sình, chạy xe trên đường dễ bị văng tung tóe, phải mang xe đi rửa chớ đẹp đẽ gì cái Mùa Tuyết Tan!

 

Thây kệ, tôi vẫn thấy Mùa Tuyết Tan đáng yêu. Buổi sáng thức dậy mở cửa, hít thở không khí trong veo của nắng rực vàng, gió lay nhẹ những cành cây khô đang bắt đầu chớm nụ, tuyết tan chảy thành dòng nước trôi xuống ống thoát nước bên hông nhà nghe như âm thanh của suối róc rách, rộn ràng vui tai.

 

Dù sao, những người chê bai mùa tuyết tan là mùa sình lầy cũng phải công nhận đó là mùa vui, vì sau mấy tháng đông dài lạnh lẽo, lại được tung tăng ra ngoài. Nhưng mùa tuyết tan năm nay còn đặc biệt hơn, vui hơn vạn lần, vì hai năm qua bị chôn chân trong nhà do Covid, nay lại có thêm tin vui nới lỏng giãn cách khắp nơi, cuộc sống đang hồi sinh, hỏi sao không hoan hỉ?

 

Nên tôi cũng hào hứng trổ tài bếp núc, nấu nồi bánh canh. Nhà có sẵn giò heo, xương heo, củ cải cà rốt, chỉ còn thiếu broccoli cho đủ ba màu. Trước khi đi lễ nhà thờ, tôi nhắn chồng đang vẫn còn ở chỗ làm:

 

– Chút anh về nhà chớ ăn bánh canh liền nhe, chờ em mang broccoli về cho đầy đủ.

 

Tôi chạy xe trên đường khô ráo, ở các con đường nhỏ thì còn chút sình lầy ẩm ướt, chớ các con đường lớn đã sạch trơn. Tự dưng tôi muốn cám ơn mùa đông, vì nhờ nó mà chúng ta mới thấy các mùa khác tuyệt vời, giống như Vũ nhạc sĩ có ghi: “Có dầm dề mưa tuyết, mới vui ngày nắng về, có một đời khóc than, mới hiểu đời đá vàng”, và mới đây trong trận tuyết lịch sử của Texas cũng đã có nhiều người thề hứa từ nay sẽ không bao giờ than vãn cái nóng chảy mỡ của Texas nữa đó sao!

 

Vào nhà thờ, mùa này dù không còn giới hạn số người tham dự, nhưng thành phố vẫn yêu cầu đeo khẩu trang và lễ cũng nhanh gọn. Đang là Mùa Chay chuẩn bị đón Lễ Phục Sinh, bài Thánh Vịnh kể lại câu chuyện Cựu Ước, khi dân Do Thái bị Thiên Chúa trừng phạt, phải lưu đày qua Babylon, và họ đã thức tỉnh, khóc than nhớ thương quê nhà Sion: “Trên bờ sông Babylon/ Tôi ngồi khóc nức nở/ Bên nhành cây dương liễu/ Tôi tạm gác cây đàn”.

 

Câu Thánh Vịnh này Mùa Chay nào tôi chẳng nghe, mà sao lần này lòng tôi thổn thức lạ kỳ. Chẳng lẽ mùa dịch u ám đã làm trái tim tôi nhạy cảm hơn, tâm hồn tôi “mong manh dễ vỡ” hơn? Mà cũng có thể Mùa Tuyết Tan khiến tôi cởi mở cõi lòng “dễ khóc dễ tin theo” như thời ấu thơ? Tôi nôn nao, mong giờ lễ qua mau, sẽ chạy đi mua broccoli để còn về nhà viết vài vần thơ về “Babylon River” khi cảm xúc còn ngập tràn.

 

Lễ xong, tôi bước nhanh ra cửa nhà thờ thì gặp anh ca trưởng của ca đoàn. Lâu quá không nói chuyện vì lâu nay đi lễ phải đeo khẩu trang, ngồi cách xa nhau, chẳng ai nhìn ai rồi tan hàng thiệt lẹ, nên hôm nay trời tuyết tan nắng đẹp, ai cũng hớn hở tươi cười, hai anh em dừng lại tán dóc chuyện linh tinh, hẹn nhóm đánh golf sớm tụ tập ra sân (anh ấy và Cha xứ là bạn chơi golf của chồng tôi). Xong tôi lên xe chạy ra chợ, định tiến thẳng vào khu rau quả thì ngay cửa ra vào là quầy mít trái, có hai chị quen trong nhà thờ đang đứng đó, thấy tôi họ vẫy rối rít:

 

– Loan ơi, mít hôm nay on sale, $1.28 môt pound.

 

– Dạ thôi chị! Nhà em chỉ có em và thằng con trai ăn mít, còn ông xã và con gái em ăn vào là bị ngứa cổ họng.

 

– Thì mua về gỡ múi ra để trong tủ lạnh ăn dần, mấy trái này thơm ngon, lâu lâu mới sale đó cưng!

 

Chị kia cũng phụ hoạ theo:

 

– Bữa nay trời đẹp mà về sớm làm gì, ở nhà cả hai năm nay chưa ngán sao!

 

Làm sao tôi nỡ từ chối lời mời ngọt ngào như… mít của các chị, hơn nữa, hồi tôi còn làm trong ban Đặc San Giáng Sinh của giáo xứ, hai chị này đã nhiều lần “cứu bồ”, giúp tôi tìm bài vở cũng như là mạnh thường quân ủng hộ tài chánh, cho nên đây là dịp để tôi đền ơn họ:

 

– Vậy mấy chị lựa giùm em một trái nhỏ thôi nghen.

 

Hai chị nhanh nhẩu vừa lựa vừa giảng giải cho tôi biết loại nào ngon, vừa luôn tay nắn bóp hết trái này đến trái khác, thế là ba chị em bàn chuyện “mít” cho đến khi mỗi người có một trái trên xe đẩy. Tôi tính bước đi thì hai chị chuyển qua đề tài... sầu riêng, một chị bảo ăn mít nhiều cỡ nào cũng thoải mái, mà ăn sầu riêng thì không quen vì cái mùi khó chịu, chị kia liền quảng cáo chợ bên kia đường có sầu riêng đông lạnh ngon thần sầu, ăn thử đi mới thấy mùi sầu riêng thơm hơn mùi mít. Tôi không dám hé môi góp một lời nào, sợ các chị lại chuyển qua đề tài măng cụt, mãng cầu, chôm chôm, v.v… thì chắc đến khuya tôi mới ra khỏi chợ. May quá, xong chuyện sầu riêng, hai chị vui vẻ chia tay mỗi người một ngả trong chợ. Tôi chạy bay qua vơ vội broccoli rồi vội vã ra quầy tính tiền, hy vọng về kịp làm bữa bánh canh cho cả nhà. Đang đứng xếp hàng thì nghe tiếng phía sau quầy nước tương:

 

– Chào cô Loan!

 

Đó là anh bạn ngày xưa dạy Việt ngữ chung tại Hội Người Việt. Tôi quay qua mỉm cười, anh ấy tiếp:

 

– Tôi đang cần mua nước tương, cô xài loại nào ngon, giúp tôi với!

 

– Lộn người rồi anh ơi, em chẳng hề biết gì về nước tương hay xì dầu. Ngay cả thịt thà cá mắm, em cần thì cứ vào mua, chớ hỏi em loại nào on sale, giá cả ra sao, em biết chết liền, vì chợ búa cơm nước không phải là... sở trường của em.

 

Thấy anh ấy hơi buồn và “cô đơn” (anh mới góa vợ vài năm nay) tội quá, tôi bước tới, hai anh em lại bàn chuyện... nước tương. Anh ấy săm soi từng chai, nếu Made in China hoặc Made in VietNam thì khỏi mua, rồi xem thành phần của từng loại nước tương khác của Philippines, Taiwan, Pháp, Thuỵ Sĩ. Tôi đề nghị anh mua một chai mà tôi hay xài, và tôi cũng mua một chai để làm tin dù ở nhà vẫn còn nước tương.

 

Cuối cùng, tôi cũng được bước ra khỏi chợ, lái xe về nhà. Lúc lên xe mới chợt nhớ có đặt mua bánh ú của một chị trong ca đoàn làm, hẹn nhau tan lễ lấy bánh ngoài bãi đậu xe nhà thờ mà nãy giờ mải lo với những “bận rộn” bất ngờ nên quên mất. Lục giỏ tìm cái phone mới thấy cả chục cuộc “missed calls”, vì tôi tắt điện thoại trong giờ lễ mà quên chưa mở lại. Tôi liền gọi xin lỗi chị ấy, chị bảo đã về nhà, nhưng trời đẹp quá nên hai vợ chồng chị đi dạo ngoài hồ nước gần nhà, chị kêu tôi chạy ra cây xăng gần đó ngồi đợi chồng chị mang bánh ra giao. Thôi thì đành phải chuộc lỗi, đã ủng hộ mua bánh thì phải ủng hộ cho trót, đâu thể ủng hộ nửa vời, ráng chạy thêm một vòng xe để lấy mớ bánh ú.

 

Về đến nhà, trời sập tối, chồng con tôi đang ăn trái cây tráng miệng trên lầu và xem tivi. Cũng may, chồng tôi thuộc loại dễ chịu trong chuyện ăn uống, còn hai đứa nhỏ sanh trưởng bên đây nên chúng ăn các món Việt kiểu nào cũng được, chúng không “ke”. Tôi mệt nhoài, khiêng trái mít vào góc bếp, bóc cái bánh ú ăn cho lẹ làng.

 

Vậy là chẳng có tô bánh canh giò heo rau củ ba màu, và cảm hứng cho bài thơ “Babylon” cũng tan biến.

 

Chỉ vì… Edmonton Mùa Tuyết Tan!

 

Kim Loan

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.