Hôm nay,  

Bước Chân Cùng Tử

24/08/202014:26:00(Xem: 4571)

                                                                    

                                                                        

                      

 

          Nắng đã lên cao khi gã tới ven sông. Dọc theo con nước, hàng phượng tím rủ bóng êm đềm, thả rơi trong gió những cánh hoa tím nhạt, điểm lấm tấm trên viền cỏ xanh. Trời trong vắt, chan hòa nắng vàng và lãng đãng mây xanh.

          Gã nhìn quanh, tìm bóng con đò. Nhưng giòng sông vắng lặng. Gã đã thấy những bậc đá dẫn xuống bến. Đã có bến, thế nào cũng có đò. Gã suy luận như vậy, và an tâm tháo túi vải trên vai, tìm một chỗ bằng phẳng dưới gốc phượng, ngả lưng, lim dim mắt chờ đò.

 

          Trong ngầy ngật nửa mơ nửa tỉnh, gã như nghe thấy tiếng sáo diều vi vút thả gió trên bờ đê xưa. Chẳng phải chỉ diều bay mà gió cũng bay. Gió thả diều hay diều thả gió? Không có gió, diều chẳng thể bay, nhưng không có diều, ai thấy được mênh mang gió nổi?

          Ừ, không có diều, ai thấy được mênh mang gió nổi? Không khát cháy, sao cảm nhận được tột cùng ngọt mát của suối reo? Không khổ đau, liệu có biết thế nào là hạnh phúc?

          À, điều này thì có vẻ ngược lại với vị Thái Tử con vua Tịnh Phạn của giòng họ Thích Ca. Hơn hai ngàn sáu trăm năm trước, Thái Tử sống trong cung vàng điện ngọc, tràn đầy hạnh phúc trong sự bảo vệ, yêu thương của hoàng gia mà lại nhìn thấy khổ đau của muôn loài. Nhìn thấy rồi, Thái Tử buông bỏ hết hạnh phúc đang có, quyết đi tìm ra nguyên nhân sự khổ đau mà cứu khổ.

          Quả là bậc xuất thần!

          Từ thuở đó đến nay, ánh sáng Đạo Giác Ngộ không ngừng tìm bóng tối để soi tỏ đường đi. “Khắp đại địa mười phương ba cõi, cắm một cây kim nào xuống cũng chạm tới xương thịt Như-Lai”.

          Mỗi lần nhớ tới lời xác quyết đại từ đại bi này, từng nét chữ thầm lặng như đều chậm rãi chuyển thành âm thanh, lan tỏa nhẹ nhàng vào không gian bao la như tiếng ngân rất mực kỳ diệu của đại hồng chung trên lầu Tàng-kinh-các.

          Gã đã từng nương âm thanh này mà đi.   

          Gã lần mò, đi như người mù, mà cây gậy dẫn đường là bất cứ cuốn Kinh, Luật, Luận nào vớ được! Gã đọc say mê, suy luận bằng sự vô minh của phàm phu và tệ hại, là thực hành theo những suy luận đó!

          Gã biết làm sao hơn khi từng lê gót hết nơi này đến nơi kia mà chẳng thấy bản tâm? Lời nói của Vị Lạt Ma tối cao thường an ủi gã “Trên đường tầm sư học đạo, có khi phải từ mười đến mười lăm năm trò mới thấy vị thầy mình đang theo học có là minh-sư hay không!”

          Trời hỡi! làm sao trò giữ vững ý chí qua thời gian đằng đẵng đó nếu chẳng may thất vọng?

          Trong bóng tối vô minh, gã đã từng tìm đến ngôi chùa bỏ hoang trên núi, điên rồ thách thức sự u tịch hoang vu. Trong nhiều đêm, gã đã từng đổ mồ hôi hột khi dồn toàn lực, toàn trí, bám chặt vào công án “KHÔNG.” Ôi, cái chữ “Không” này chẳng không chút nào. Nó là cửa ải thập phần gian nan của giáo lý tối thượng mà lại luôn mang vẻ lửng lơ, bỡn cợt! Chẳng thế mà một thiền-sư đã ví công án KHÔNG như hòn sắt nóng, đỏ rực ngang cuống họng thiền-sinh. Phải dũng mãnh vận dụng đủ 360 cái xương và 84,000 lỗ chân lông trong thân thể mà chiến đấu với nó để, hoặc nuốt được nó, thoát qua cửa ải, hoặc bị nó đốt cháy!

          Trong nhiều đêm, gã đã bị đốt cháy!

 

          Một đêm, với thương tích tả tơi, gã chợt nhớ lời dạy của Đức Thế Tôn với tỳ-kheo Thera. Trong tăng đoàn, thầy Thera thường né tránh đám đông và chỉ thích vào rừng sâu tu tập một mình. Khi biết thế, Đức Thế Tôn đã dạy:

          “ Này các vị khất sỹ, này thầy Thera, người biết sống một mình không phải là người xa lánh đám đông mà là người giữ được chánh niệm, biết sống với giây phút hiện tại giữa đám đông, nhận biết mọi sự vật xung quanh một cách rõ ràng, sâu sắc mà không bị những sự vật đó chi phối. Người biết sống một mình là người biết an trú trong từng hơi thở hiện tại, không quay tìm quá khứ, không đuổi bắt tương lai. Người như thế, dù sống giữa đám đông vẫn là người sống một mình với bản tâm thinh lặng.”

          Gã đã mang lời dạy này, đeo túi vải lên vai, rời núi đồi mà xuống đồng bằng.

          Nơi đây, gã lại tuân lời Đức Thế Tôn đã dạy La Hầu La:

          “Con hãy học hạnh của đất. Dù người ta có dẫm đạp, đổ vãi lên đất những thứ bẩn nhơ hôi hám hay trải hương hoa thơm tho tinh sạch, đất cũng an nhiên không giận, chẳng mừng. Học được như thế, con sẽ không còn bị mọi cảm thọ bám vào. Biết nhìn cảm thọ như đối tượng bị nhìn, để thanh thản an nhiên trước mọi sự, thay vì đồng hóa mình với cảm thọ, rồi bị cảm thọ dẫn dắt đi”

Dù cố gắng thế nào, gã vẫn mơ hồ thấy nỗi khổ đau như những con vi trùng cực độc, cực nhỏ, âm thầm rút rỉa từng tế bào!

          Nếu cứ thế này, không bao lâu, gã sẽ chết như sâu mọt! Gã khóc cho sự bất hạnh của kẻ cùng tử trong Kinh Pháp Hoa, có gia tài trước mắt mà không nhận được Cha mình!

 

          Giòng sông lênh láng nắng vàng vừa soi bóng con đò.

          Lạ thay, cùng với tiếng mái chèo khua nước mỗi lúc mỗi gần, gã chợt nghe thấy tiếng chuông ngân. Gã nhìn quanh. Thành phố Biển Dài im trong trưa hè. Tiếng chuông từ đâu vậy?

          Con đò khẽ khàng cặp bến.

          Tiếng chuông tha thiết hơn.

          Gã đứng bật dậy.

          Một vài người đang xuống đò.

          Tiếng chuông ngân dài lời ru của mẹ.

          Gã nhìn ông lão lái đò. Rồi không chần chừ, gã quay vào thành phố, cứ nương theo tiếng chuông mà đi …. Đi mãi …. Tiếng chuông mỗi lúc mỗi rõ …..

          Hue Tran 01
Đây rồi.

          Một vị sư trẻ đang điểm từng tiếng chuông sau mỗi lần trang nghiêm xướng một hồng danh Chư Phật. Và đoàn Phật-tử áo lam khoan thai, kính cẩn đồng quỳ xuống, lạy một lạy. Sau tiếng khánh, tất cả thầy trò lại thong thả đứng lên. Thầy lại xướng một hồng danh, đánh một tiếng chuông, Phật-tử cùng trang nghiêm xưng tụng hồng danh và lại cùng quỳ xuống, lạy một lạy. Đạo tràng cực kỳ linh động trong động tác và âm thanh thập phần tôn kính.

          Gã đứng như tượng đá trước cửa chánh điện.

          Hue Tran 02
Gã không ý thức đã đứng như thế bao lâu, đã cởi giầy, bò vào đạo tràng lúc nào. Gã cũng không biết ai đã mang cho gã một cuốn “Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp LƯƠNG HOÀNG SÁM”, đặt trên kệ gỗ nhỏ ngay ngắn trước mặt gã, sau khi đã thân ái mở trang đang tụng lạy.

          Và gã nghe rõ tiếng mình tụng, hòa với đại chúng:

          “Tất cả chúng sanh từ vô thủy trở lại cho đến ngày nay, mê muội mãi mãi, vô minh che lấp, nước ái nhận chìm, nên khởi ra ba độc-căn, khởi ra bốn điên đảo. Từ ba độc-căn ấy sanh ra mười phiền não. Y nơi thân-kiến khởi ra ngũ-kiến. Y nơi ngũ-kiến khởi ra sáu mươi hai kiến. Y nơi thân, khẩu, ý khởi ra mười hạnh ác. Lại y nơi sáu căn tham đắm sáu trần, hơn nữa là mở rộng cửa ác cho tám vạn bốn ngàn trần lao xâm nhập. Trong khoảng một niệm, mở cửa cho tám vạn bốn ngàn trần lao, huống nữa là trong khoảng một ngày, một tháng, một năm, chung thân lịch kiếp thì đã khởi ra biết bao tội ác, vô lượng vô biên oán thù theo nhau không bao giờ cùng tận.

          Nguyện xin Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, rủ lòng từ-bi thâu nhiếp chúng con, đem sức đại trí huệ, sức hàng phục tứ ma, sức diệt trừ phiền não, sức giải oan kết độ thoát chúng sanh, sức giải thoát địa ngục, tế độ ngã quỷ, cứu vớt súc sanh, sức nhiếp hóa a-tu-la, sức nhiếp thọ nhơn đạo cùng sức vô lượng vô biên công đức, vô lượng vô tận trí huệ, nhờ những sức lực ấy khiến các chúng sanh có oán thù trong bốn loài, sáu đường, đồng đến đạo tràng, thọ lãnh sự sám hối của chúng con hôm nay …”(*)

          Toàn thân gã rung động khi tụng những câu này. Trời ơi! Đây có phải là “sự cảm thông không thể nghĩ bàn” của “Mười phương Phật-Bảo hào quang sáng ngời”?

Trời ơi! Có phải những khổ đau cùng cực trong lòng gã, ở phút giây chí thành đã bắt được tần số với đạo tràng đang tụng lạy bộ sám pháp Lương Hoàng Sám hôm nay? Gã tin rằng, chính bao tấm lòng trong đạo tràng này đã gọi gã qua âm thanh mơ hồ của tiếng chuông mà gã nghe được khi chờ đò sang sông.

          Muôn tỷ người trong thiên hạ, sao có những người vừa nhìn thấy nhau là thấy ngay duyên nợ? Thế nhân thường gọi đây là tiếng sét. Tiếng sét với duyên nợ thế nhân hay tiếng chuông với duyên lành đạo pháp có khác nhau không?

          Có lẽ khác. Và khác nhiều.

          Duyên nợ để tiếp tục vay, trả, lăn trôi trong luân hồi.

          Duyên lành để sám hối, diệt trừ nghiệp chướng, đem tâm thanh tịnh cúng dường Tam Bảo, đoạn dứt luân hồi.

          Cảm nhận như thế, gã bỗng thấy tay chân, mình mẩy nhẹ như tơ, khi cùng đại chúng, theo sự hướng dẫn của vị sư trẻ mà cung kính lễ lạy từng hồng danh:

          “Đại chúng cùng nhau chí tâm đảnh lễ quy-y đấng Đại Từ Bi Phụ của cả thế gian:

          Nam Mô Di-Lặc Phật

          Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật

          Nam Mô Nguyệt Diện Phật

          Nam Mô Bảo Đăng Phật

          …………………………..

          Nam Mô Vô Biên Thân Bồ Tát

          Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”(*)

          Đại chúng trong đạo tràng có đủ nam phụ lão ấu, đều nhất loạt tụng, lạy an nhiên tự tại như không hề biết mệt.

Cuốn sám pháp Lương Hoàng Sám dày gần 700 trăm trang, tràn ngập lời tụng chí thành thiết tha, không chỉ sám hối cho bản thân mình, quyến thuộc mình mà sám hối cho muôn người, muôn loài, tỷ mỷ phân minh từng ba đường, sáu cõi. Sau mỗi đoạn thỉnh cầu, phát nguyện, lại lễ lạy xin Chư Phật, Chư Bồ Tát chứng minh. Trọn cuốn, hơn 1,600 hồng danh mà đại chúng tuần tự sụp lạy không sót một vị.

          Giờ nghỉ trưa thọ trai, gã được lão ông ngồi gần cho biết, hôm nay là ngày cuối trong sáu ngày tụng lạy liên tục đủ ba bộ. Gã nhẩm tính, rồi sửng sốt:

          -Ba bộ? Nghĩa là sáu ngày liên tiếp đã tụng hơn 2000 trang và lạy gần 5000 lạy?

          Lão ông cười hiền hòa, như điều gã sửng sốt chẳng có gì đáng sửng sốt:

          -Thưa vâng. Đại chúng được tụng Lương Hoàng Sám lần này là do duyên lành bất ngờ. Số là, có một nữ Phật tử, từng thưa với Chư Tôn Đức, khi nào có cơ hội, xin mở giới đàn đại-sám-hối để đại chúng được gieo duyên với sự mầu nhiệm đã xảy ra thời vua Lương Võ Đế bên Tầu.

Tương truyền rằng, hoàng-hậu Hy-Thị được nhà vua yêu quý nhất lại không phải là người hiền đức nên sau khi thác, phải đọa vào kiếp rắn mãng-xà. Bà hiện về than khóc, xin Vua cứu giúp. Nhà vua đã cung thỉnh vị đạo cao đức trọng thời đó là Hòa Thượng Chí Công, triệu tập các danh tăng, cùng soạn ra sám-pháp này. Mỗi lời, mỗi giòng đều như xuất phát tự đáy lòng thành tâm sám hối nên khi nhà vua và quần thần, quyến thuộc tụng lạy mới đến nửa cuốn đã ngửi mùi hương lạ. Và rồi, phảng phất trên hư không là bóng hình diễm lệ của hoàng-hậu Hy-Thị đến tạ ơn Vua và Chư Tôn Đức, vì nhờ những lời sám hối khẩn thiết mà bà đã được giải thoát, sanh lên cung trời Đao-Lợi.

 

          Lời thỉnh cầu của người nữ Phật-tử trong chùa, tưởng còn phải chờ lâu lắm. Nào ngờ, sau những ngày An Cư Kiết Hạ, Chư Tôn Đức lên đường hành hương thì Tỳ-kheo Thích Thường Tịnh nhớ tới lời thỉnh cầu, đã tình nguyện ở lại “giữ chùa”, nhưng chính là để biến ước mơ của đại chúng thành sự thật.

          Tụng lạy trọn cuốn phải hai ngày liền, mỗi ngày tám tiếng mới hoàn tất. Thế nhưng, “hữu xạ tự nhiên hương”, ngày nào cũng có người tất tả chạy đến than thở:

          -Trời ơi, chúng con không biết kịp, lỡ mất nửa cuốn rồi!

          Thầy đã từ bi an ủi rằng: 

          -Chưa mất đâu. Chúng ta sẽ tụng lại từ đầu.

          Đó chính là cơ duyên mà đại chúng được tụng lạy sám pháp Lương Hoàng Sám liên tiếp tới ba lần!

          Buổi chiều kết thúc sáu ngày tụng lạy, gã được Thầy tặng một bộ Lương Hoàng Sám. Gã cúi rạp đầu, kính cẩn nhận, rồi bái biệt ra đi.

          Đi đâu?

          Gã chợt nhớ là gã đang ở bên sông, chờ đò.

          Theo hương gió, gã đi lần về bờ sông.

          Người và cảnh khác lạ, không như khi gã nương tiếng chuông, về chùa. Rồi gã lại nhận ra, không phải người và cảnh khác lạ mà hình như chính gã đang khác lạ. Gã vừa thấy được sự vô minh, ngạo mạn của tự thân, đã làm uổng phí bao tháng ngày lang thang.

          Gã là gì mà mơ tưởng “Trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật” khi tọa thiền, tham công án?

          Gã là gì mà dám tự nhủ “Kiếp này, chỉ kiếp này nữa thôi phải dứt  sanh tử luân hồi” khi tụng kinh niệm Phật?

          Gã là gì mà sau mỗi thời kinh, quỳ đọc dăm câu sám hối: “Đệ tử lâu đời lâu kiếp, tham giận si mê, kiêu căng lầm lạc, nay nhờ ơn Phật, biết sự lỗi lầm …” đã tưởng là dọn tâm thanh tịnh?

          Hơn bao giờ hết, gã hiểu rõ hơn hai chữ “Tàm và Quý” trong môn Duy Thức Học. Đó là lòng biết hổ thẹn với mình và với người. Tội lỗi thế gian tinh vi chằng chịt, cố tình lẫn vô tình, sám hối cả đời chưa hết. Chưa sám hối hết, đừng mong chỉ còn đời này sẽ dứt luân hồi, mà phải nguyện xin đới-nghiệp-vãng-sanh.

            “Con thành tâm phát nguyện xin được về cõi Phật. Nếu còn bao nhiêu nghiệp, xin cho con được trả dứt kiếp này, dù phải trả bằng thân mạng. Con thường nhớ giây phút cuối đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên. Ngài là Đệ Nhất Thần Thông – một, trong mười Đại Đệ Tử của Đức Thế Tôn – mà tới ngày đó, giờ đó, sát na đó, Ngài đã không dùng thần thông, lại đứng yên để bọn ngoại đạo đánh đập bầm dập đến chết! Phải chăng Ngài biết rõ, đó là giây phút được trả dứt nợ tiền kiếp từng bất hiếu với mẹ cha … Nợ phải dứt, mới không còn sinh tử luân hồi.

Ngưỡng xin Chư Phật, Chư Bồ Tát chứng minh và gia hộ cho con.”

          Bên bờ sông cũ, gã lầm thầm tự phát nguyện như thế.

 

          Nắng đã nhạt. Con đò lại hiện ra trên giòng sông êm mát.

          Gã bật cười, liên tưởng đến nhân vật Tất Đạt trong tác phẩm nổi tiếng “Câu chuyện giòng sông” của văn hào Hermann Hesse. Đó là câu chuyện về chàng thanh niên tên Tất Đạt. Gần hết cuộc đời thanh xuân, Tất Đạt đã lang thang đi tìm chính mình, đến khi nếm đủ phong sương mới gặp được Vệ Sử, ông lão lái đò tự tiền kiếp, khai ngộ cho.

          Giờ phút này, bên bờ sông vắng, bất giác, gã buột miệng gọi to:

          -Vệ Sử!

          Ông lái vừa buộc giây neo, vừa ngơ ngác nhìn gã. Tất nhiên, tên ông không phải là Vệ Sử!

          Mặc! Gã lại hỏi:

          -Không qua sông ư?

          Tiếng đáp cộc lốc:

          -Không! Mai!

          Cột xong con đò, ông lão lên bờ, lững thững đi vào thành phố.

          Gã cũng lững thững đi vào thành phố, nhưng khác hướng.

 

Vừa đi, gã vừa nghĩ “Mai? Sao lại mai? Hôm trước đã qua, ngày mai chưa tới. Phải hôm nay! Phải hôm nay và ngay bây giờ chứ!”

          Hơi thở.

          Hôm nay.

          Bây giờ.

          Hơi thở.

          Hôm nay.

          Bây giờ.

 

          Gã thở đều, bước đều trong chánh niệm như thế, lòng thư thái, an nhiên.

           Không định hướng mà khi dừng bước thì đã thấy mái cong của ngôi chùa.

          Đó chính là đạo tràng gã vừa được khai tâm sám hối.

 

          Không xuống đò mà gã ngỡ như đã qua sông.

 

Huệ Trân

(Như-Thị-Am, mùa sen trắng)

18/08/2007 – 18/08/2020

                              

    (*)Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp LƯƠNG HOÀNG SÁM

          Dịch giả: Tỳ Kheo Thích Viên Giác

                    

                    

 

                 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.