Hôm nay,  

Nguyễn Công Trứ Sinh Năm Mậu Tuất, Thi Sĩ Kinh Bang Tế Thế Kỳ Tài Mà Ngang Ngược

10/03/201800:00:00(Xem: 6485)
nct_color
Sinh năm Mậu Tuất 1778, mất năm Mậu Ngọ 1858, Nguyễn Công Trư là bậc hiền tài, dân ba tỉnh tự lập đền thờ ghi ơn ngay khi ông còn sống.


Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi


Ngẫm cho kỹ đến bất nhân là tạo vật
Đã sinh người lại hạn lấy năm
Kể chi thằng lên bẩy, đứa lên năm
Dẫu ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc?
Lại mang lấy lợi danh, vinh nhục
Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan
E đến khi hoa rữa trăng tàn
Xuân một khắc, dễ nghìn vàng đổi chác?
Tế suy vật lý tu hành lạc
An dụng phù danh hạn thử thân*
Song bất nhân mà lại chí nhân
Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy
Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù?
Nghề chơi cũng lắm công phu!


***

Gánh Gạo Đưa Chồng

Mưỡu: Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Hát nói:
Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất*
Thương cái cò lặn lội bờ sông
Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng
Ngoài nghìn dặm một trời một nước
Trông bóng nhạn bâng khuâng từng bước
Nghe tiếng quyên khắc khoải năm canh
Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt tình
Ơn thuỷ thổ phải đền cho vẹn sóng
Trường tên đạn, xin chàng bảo trọng
Thiếp lui về nuôi cái cùng con
Cao Bằng cách trở nước non
Mình trong trắng có quỉ thần a hộ
Sức bay nhảy một phen năng nổ
Đá Yên Nhiên còn đó chẳng mòn
Đồng hưu** rạng chép thẻ son
Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung
Yêu nhau khăng khít dải đồng

****


Chữ Tình

Chữ tình là chữ chi chi,
Dẩu chi chi cũng chi chi với tình.
Sầu ai lấp cả vòm trời,
Biết chăng chăng biết hỡi người
tình chung?

Nói: Đa tình là dở,
Đã mắc vào đố gỡ cho ra !
Khéo quấy người một cái tinh ma,
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy !
Đã gọi người nằm thiên cổ dậy,
Lại đưa hồn lúc ngũ canh đi.
Nực cười thay lúc phân kỳ,
Trông chẳng nói, xiết bao nhiêu biệt lệ.
Tình huống ấy dẩu bút thần khôn vẽ,
Càng tài tình càng ngốc, càng si.
Cái tình là cái chi chi?


***

Ngất Ngưởng

Vũ trụ nội mạc phi phận sự (1)
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lòng,
Khi Thủ khoa, khi Tham tán,
khi Tổng đốc Đông, (2)
Gồm thao lược (3) đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc Bình tây cầm cờ đại tướng (4)
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên (5)
Đạc (6) ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi,
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. (7)
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Hàn, Nhạc, cũng phường Mai Phúc (8)
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Đời ai ngất ngưởng như ông.

***

Ghi chú

Mỗi bài ca trù thường có một đôi chữ Hán Nho.

Bài Chơi Xuân

* suy cho kỹ, cái lý của vạn vật là nên vui chơi, sao nỡ để hư danh bó thân mình”. Câu sau lấy từ thơ Đỗ Phủ
(Trích Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sung,Hà Nội, 1953.

Bài Gánh Gạo Đưa Chồng

* Cò, loài lông vũ, là vật có tình.
** Cùng nghỉ ngơi.
Cùng xuất xứ: Sách Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, như bài Chơi Xuân.

Bài Ngất Ngưởng

* Trong vũ trụ đâu chẳng là phận sự.
** Đông: tức tỉnh Hải Dương.
*** Lã Thái Công đời nhà Chu làm ra sách Lục Thao dạy điều binh khiển tướng. Khi đem quân đánh thành Trấn Tây ở Cao Miên, ông được vua phong làm Bình Tây Đại tướng quân.
(4) Năm ở kinh đô cởi dây thao đeo ấn từ quan.
(5) Đạc: cái mõ thường treo vào cổ trâu bò để dễ tìm khi chúng đi lạc.
(6) Khi hưu trí, lúc đi chùa, có khi ông đem theo các bà các.
(7) Hàn, Nhạc: Hàn Kỳ và Nhạc Phi, hai danh tướng đời Tống.
Mai Phúc: danh nho đời Hán.



Ca Trù (1)
Hình trình diễn hát nói còn gọi là ca trù, hát ả đào.



Hàn Nho Phong Vị Phú: Chua Chua Chát Chát

Chém cha cái khó! Chém cha cái khó!
Khôn khéo mấy ai? Xấu xa một nó!


Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai,
Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có.

Kìa ai:
Bốn vách tường mo, Ba gian nhà cỏ.
Đầu kèo mọt đục vẽ sao,
Trước cửa nhện giăng màn gió. Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.
Đầu giường tre, mối dũi quanh co,
Góc tường đất, giun đùn lố nhố.
Bóng nắng dọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô,
Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó.
Trong cũi, lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu,
Đầu giàn, chuột cậy khua niêu, buồn thôi lại bỏ.
Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no,
Đêm năm canh, an giấc ngáy khò khò, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
Ấm trà góp lá bàng lá vối, pha mùi chát chát chua chua,
Miếng trầu têm vỏ mận vỏ dà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ.
Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối,
bốn mùa thay đổi bấy nhiêu,
Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần,
một bộ ăn chơi quá thú.
Đỡ mồ hôi, võng lác, quạt mo, Chống hơi đất, dép da, guốc gỗ.
Miếng ăn sẵn cà non mướp luộc, ngon khéo là ngon,
Đồ chơi nhiều quạt sậy điếu tre, của đâu những của.
Đồ chuyên trà, ấm đất sứt vòi, Cuộc uống rượu, be sành chắp cổ.
Đồ cổ khí bức tranh treo trên vách,
khói bay lem luốc, mầu thuỷ mạc lờ mờ,
Của tiểu đồng pho sách gác đầu giàn,
gián nhấm lăm nhăm, dấu thổ châu đo đỏ.
Cỗ bài lá, ba đời cửa tướng, hàng văn sách mập mờ,
Bàn cờ săng, bảy kiếp nhà ma, chữ nhật chữ điền xiêu xó.
Lộc nhĩ điền lúa chất đầy rương, Phương tịch cốc khoai vừa một rỏ.
Tiêu dụng lấy chi mà phao phóng, thường giữ ba cọc ba đồng,
Mùa màng dành để có bao nhiêu, chừng độ một chiêng một bó,
Mỏng lưng xem cũng không giầu, Nhiều miệng lấy chi cho đủ.
Đến bữa chưa sẵn bữa, con trẻ khóc dường ong,
Qúa kỳ lại hẹn kỳ, nhà nợ kêu như ó.

Thuốc men rắp bòn chài gỡ bữa,
song nghĩ câu ý dã, thế nào cho đáng giá lương y,
Thầy bà mong dối trá kiếm ăn, lại nghĩ chữ dũng như,
phép chi được nổi danh pháp chủ.
Quẻ dã hạc toan nhờ lộc thánh, trút muối đổ biển, ta chẳng bõ bèn,
Huyệt chân long toan bán đất trời,
ngôi mả táng cha, tìm còn chửa chỗ.
Buôn bán rắp theo nghề đỏ, song lạ mặt,
chúng hòng rước gánh, mập mờ nên hàng chẳng có lời,
Bạc cờ toan gỡ con đen, chưa sẵn lưng,
làng lại dành nơi, hỏi gạn mãi giạm không ra thổ.
Gập khúc lươn, nên ít kẻ yêu vì,
Gương mắt ếch, biết vào đâu mượn mõ.
Đến lúc niên chung nguyệt quý, lấy chi tiêu đồng nợ đồng công?
Gặp khi đường xẩy chân cùng, nên phải tới cửa này cửa nọ.
Thân thỉ to to nhỏ nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi trì,
Dần dà nọ nọ kia kia, nó những vuốt râu làm bộ.
Thầy tớ sợ men tìm đến cửa, ngảnh mặt cúi đầu,
Chị em e vất lấm vào lưng, chìa môi nhọn mỏ.
Láng giềng ít kẻ tới nhà, Thân thích chẳng ai nhìn họ.
Mất việc toan dở nghề cơ tắc, tủi con nhà mà hổ mặt anh em,
Túng đường mong quyết chí cùng tư, e phép nước chưa nên gan sừng sỏ.
Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ,
dường ngâm câu lạc đạo vong bần,
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ vi nhân bất phú.
Tất do thiên, âu phận ấy là thường, Hữu kỳ đức, ắt trời kia chẳng phụ.
Tiếc tài cả phải phạn ngưu bản trúc, dấu xưa ông Phó ông Hề,
Cần nghiệp kho khi tạc bích tụ huỳnh,
thuở trước chàng Khuông chàng Vũ.
Nơi thành hạ đeo cần câu cá, kìa kìa người quốc sĩ Hoài âm,
Chốn lý trung xách thớt chia phần, nọ nọ đấng mưu thần Dương võ.
Khó ai bằng Mãi Thần Mông Chính, cũng có khi ngựa cưỡi dù che,
Giàu ai bằng Vương Khải Thạch Sùng,
cũng có hội tường xiêu ngói đổ.

Mới biết:
Khó bởi tại trời, Giàu là cái số.
Dầu ai ruộng sâu trâu nái, đụn lúa kho tiền,
Cũng bất quá thủ tài chi lỗ.

Trích "Văn đàn bảo giám", Trần Trung Viên sưu tập 1926, Hư Chu hiệu chính 1968, nhà sách Xuân Thu tái bản tại California.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
tôi cười, nói đùa, nhíu mày làm trò nghịch nhưng chợt vấp khi nhìn thấy biên giới
tuổi già ghiền nhạc bô-lê-rô đèn khuya hiu hắt ngấn lệ khô
Ta về một cõi tâm không Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
Tối ngày 18 tháng 9, tại vùng Duarte ở miền Nam California, Thư em tôi cho hay mấy ngôi nhà bên kia đường đang cháy.
Trong nền thi ca của thế kỷ 20, Alejandra Pizarnik là một huyền thoại, không phải vì nàng là nhà thơ nữ vắn số tự kết liễu đời mình khi mới 36 tuổi – nhưng vì sức mạnh của ngôn ngữ nàng, tiếng nói của những “người đàn bà cô đơn, trống trải” đi ngược dòng thời đại.
Năm nay Cali trở chứng mưa nhiều hơn mọi năm. Mưa xối xả, mưa như trút nước từ trên trời ào ào đổ xuống. Nắng hạn hay mưa nhiều đều được gán vì lý do khí hậu toàn cầu thay đổi thất thường.
Ông Hai Thìn tập kết ra Bắc năm 1954. Sau 30-4-1975, Hai Thìn trở lại miền Nam, không biết làm nghề gì nhưng lương ba đồng ba cọc, sống ở thành phố không nỗi, phải về quê làm ruộng.
Những cánh chim vẫn mỏi cánh bay... những cơn gió lốc vẫn lùa những cơn sóng lớn trên biển khơi. Con thuyền ấy đã trôi vào một vùng giông bão. Không biết đã đi về đâu.
Hãy là ánh mặt trời Đừng làm những áng mây
Điều quan trọng cần nói ngay ở đây là tài liệu CIA cho thấy rằng Hà Nội đã đánh giá và lượng định sai lầm về mục tiêu và thành quả chiến lược của cuộc tấn công Tết Mậu Thân của họ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.