Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trong Căn Phòng Rưỡi

02/03/200500:00:00(Xem: 17062)
Gửi L. K.
Joseph Brodsky

41

Một dấu hiệu chỉ ra sự khiếm khuyết của hồi ức, đó là nó nhớ ba chuyện lẩm cẩm. Như số điện thoại đầu tiên, vào lúc đó năm số, ngay sau khi chết tranh vừa chấm dứt. Nó là 265-39, và tôi cho rằng, cho tới giờ này, tôi vẫn không quên, đó là do điện thoại được lắp đặt đúng vào lúc tôi phải thuộc bản cửu chương. Nó đâu còn ích lợi gì cho tôi nữa, vào lúc này: cũng vậy, là số điện thoại sau cùng, trong căn phòng rưỡi của chúng tôi, cũng đâu còn dùng vào việc gì nữa. Tôi không nhớ số điện thoại sau cùng này, mặc dù suốt mười hai năm trời ròng rã, tuần lễ nào tôi cũng gọi. Thư từ thì chịu thua ông nhà nước rồi, thế là đành xoay sở với cái điện thoại. Nghe lén điện thoại thì dễ ợt, so với chuyện mở thư ra kiểm tra, rồi cho đi. Ôi chao, những cú điện thoại hàng tuần đi Liên Xô! Cái hãng điện thoại ITT của Mẽo mới ba trật bốn vuột làm sao!
Trong những lần nói chuyện như thế, đâu có dám nói nhiều, mà toàn là nói vắn tắt, xa xôi, cố tạo rửng rưng, ra điều không quan trọng. Hầu hết, ba chuyện thời tiết, sức khoẻ, không được nhắc đến tên của bất cứ một ai; chủ yếu là căn dặn, ăn uống phải cẩn thận, phải kiêng khem như thế nào. Chủ yếu là nghe giọng của ông cụ, bà cụ, và ngược lại, hình dung ra được, hai cụ đang gật gù, đúng là giọng thằng con trai của chúng mình rồi! Thì cũng y chang cái kiểu loài vật nhận ra nhau, bằng cách hửi hửi, hếch hếch mũi. Đâu có mắc mớ gì đến ngôn ngữ, đến lời ăn tiếng nói. Tôi cũng chẳng còn nhớ, những chi tiết đặc biệt, từ những cuộc trò chuyện như vậy, ngoại trừ một lần, là câu trả lời của Ông Cụ, vào ngày thứ ba mẹ tôi nằm bệnh viện. “Mẹ sao, Bố"” Tôi hỏi. “Ờ, Mẹ không còn nữa, con biết rồi mà”, ông nói. Cái khúc “con biết rồi mà” có đó, là bởi vì, ngay cả trong trường hợp này, ông cụ vẫn cố gắng nói một cách thật là rửng rưng, coi như không phải chuyện quan trọng.
42
Thì vẫn chuyện nhớ lẩm ca lẩm cẩm, là chiếc chìa khoá nổi ngay lên mặt trí tưởng của tôi: một chiếc chìa khoá dài, không vết trầy, bỏ vào túi quần thật khó chịu, nhưng gọn ơi là gọn, ở trong bóp của bà cụ. Nó là chìa khoá mở cái cửa cao, mầu trắng, và tôi không thể hiểu, tại sao giờ này tôi vẫn còn nhớ, trong khi chỗ đó không còn. Tôi ngờ rằng, ở đây có cái gì liên quan tới biểu tượng, và là biểu tượng dục cảm, erotic symbol, bởi vì, giữa ba chúng tôi, có ba ấn bản gập lại, replicated versions. Về vấn để này, tôi không hiểu tại sao mình lại nhớ mấy nếp nhăn trên trán ông cụ, và dưới cằm, hay là má bên trái bà cụ, đỏ, như hơi bị lửa ăn [bà gọi cái đó là do “chứng ăn không ngồi rồi” gây nên], bởi vì những dấu vết đó, và ngay cả những người mang chúng, đều không còn nữa. Chỉ còn, là giọng nói của họ, đâu đó sống sót ở trong tôi: có thể là do ý thức của riêng tôi, nhập vào những giọng nói đó, theo cách mà những dáng vẻ của tôi hoà nhập với những dáng vẻ của họ. Cái còn lại – da thịt của họ, quần áo của họ, cái điện thoại, cái chìa khóa, những sở hữu của chúng tôi, đồ đạc, bàn ghế - tất cả đều mất tiêu, chẳng còn gì nữa, và chẳng thể nào tìm lại được, như thể căn phòng rưỡi của chúng tôi đã ăn một trái bom. Không phải bom hạt nhân, bởi vì bom này ít ra cũng để cho bàn ghế còn nguyên vẹn, nhưng một trái bom thời gian, nó cày nát hồi nhớ của bất cứ một người nào. Cái toà nhà thì vẫn sững đó, nhưng nơi chốn, chỗ ở được dọn dẹp sạch sẽ, và những người ở mới, không, những toán binh sĩ, đã dọn vô ở: đó là tất cả những gì về trái bom thời gian. Bởi là vì, đó là thời chiến.
43
Ông cụ bà cụ thích giọng giọng opera arias, tenors, và những ngôi sao màn bạc hồi trẻ của họ, không để ý gì lắm tới tranh vẽ, có một quan niệm của họ, về nghệ thuật “cổ điển”, thích chơi trò giải mấy ô chữ, và rất ư là hãi hùng, và bực bội, về những theo đuổi văn học của thằng con trai. Họ nghĩ thằng con đi lầm đường, rất ư là lo lắng về cung cách ăn ở chơi bời của tôi, nhưng họ giúp đỡ thằng con, nhiều như là họ có thể, bởi vì tôi là thằng con trai của họ, chứ còn gì nữa! Sau đó, khi thấy thằng con loay hoay, lúc thì in cuốn này, lúc cuốn nọ, hai cụ tỏ ra hài lòng, và có những lúc, tự hào về nó nữa, thế mới sướng chứ! Nhưng tôi biết tỏng tòng tong, là, nếu mà tôi có vấp ngã, có thất bại, có chẳng làm nên vương tướng gì, thì hai cụ vuỡn cứ thương yêu, lo lắng, giúp đỡ thằng con của hai cụ y chang như vậy, thế mới lại càng sướng chứ! Họ yêu tôi còn hơn cả họ yêu họ, và chẳng hề hiểu được cái tình cãm tội lỗi của thằng con, của bất cứ một thằng con nào, đối với bố mẹ. Tất cả những vần đề, là: bánh mì ở trên bàn, quần áo giặt giũ sạch sẽ ở trong tủ, và ăn ở thì làm sao cho vệ sinh, cho mạnh khỏe. Tất cả những thứ đó đồng nghĩa với tình yêu của họ, và tình yêu của họ thì hơn tình yêu của tôi.
Lại nói thời chiến, vào lúc đó, họ chiến đấu thật là dũng cảm. Họ biết rằng, một trái bom sẽ nổ tung, nhưng chẳng bao giờ họ thay đổi phương cách sử sự. Khi nào còn đứng thẳng, là họ đi lại, mua đồ ăn, đồ dùng và chuyển thực phẩm tới những bè bạn phải ở trên giường, những bà con; cho quần áo, tiền bạc dành dụm được, và cho trú ẩn lúc này lúc nọ, những con người lâm đường cùng. Họ luôn luôn sống như vậy, như là bây giờ tôi vẫn còn nhớ về họ, y như vậy; không phải bởi vì họ cho rằng thi ân thì sau này sẽ được lên thiên đường, hay vô nước Chúa. Không, đây là một sự rộng lượng hết sức là tự nhiên, không có tính toán, của những người lo lắng cho môi trường chung quanh, cho những người khác, hơn là cho bản thân. Điều này lại càng hiển hiện hơn thêm lên, một khi mà cái người khác kia, thật thân cận với họ, là tôi, đã đi xa rồi, không còn được ở kế bên hai cụ. Và chính điều này, đối đế mà nói, đã làm cho tôi cảm thấy an lòng, ấy là nói về phẩm chất của cái gọi là hồi nhớ, của tôi.
Rằng, cái chuyện các cụ muốn gặp thằng con một lần cuối trước khi chết, thật sự ra chẳng mắc mớ gì tới ước muốn, hay toan tính của họ, là làm sao cho trái bom tịt ngòi, làm sao ngăn chặn vụ nổ. Họ không hề muốn dời đổi, di chuyển, vượt biên, vượt biển, và sống những ngày cuối cùng của họ ở cái xứ Huê Kỳ. Họ cảm thấy quá già, cho bất kỳ một sự đổi thay, và đúng như thế, Huê Kỳ là cái chỗ mà thằng con của hai cụ đang ở, giá mà tới đó được để mà gặp nó thì thú lắm đấy! Điều này chỉ thực đối với họ, khi xoay quanh cái thực đó, là biết bao hồ nghi, về cái chuyện không biết có khi nào, và tới khi nào, ông nhà nước sẽ cho phép họ đi du lịch để thăm thằng con. Và, những trò mèo chuột gì nhà nước tính chơi, và họ phải chơi với cái đám cặn bã đó, để đổi lấy tờ giấy phép" Bà cụ sẽ phải làm đơn xin đi, một mình cụ thôi, ra ý cụ sẽ chẳng bao giờ dám bỏ chạy đất mẹ Liên Xô vĩ đại, bởi vì chồng của bà đang bị nhà nước bắt giữ, như là con tin, hay là một đảm bảo, khiến cho cụ bắt buộc phải trở về. Rồi thì cả một thời gian, họ chẳng thèm làm đơn làm điếc gì hết, ra ý hai tớ chán quá rồi, đếch thèm xin xỏ gì nữa! Thì cứ coi đây như là một cách hai người già chứng tỏ với nhà nước, rằng, họ hiểu, đất nước còn bao điều khó khăn, còn bao điều khẩn cấp, nào là bọn xấu chuyển lửa, bọn xấu âm mưu diễn tiến hoà bình, nhất là, lúc này, bang giao giữa nhà nước và đế quốc Mẽo đang căng thẳng. Rồi thì họ chỉ xin đi đúng có một tuần lễ, hoặc xin đi Phần lan, hay Ba Lan, chứ không xin đi Mẽo. Rồi thì họ đi tới thủ đô, xin yết kiến vị Chủ Tịch nhà nước, hay gõ cửa đủ mọi ông bộ trưởng, ngoại giao hay nội vụ. Tất cả đều vô ích; hệ thống, từ đầu cho tới đít, và từ đít cho tới đầu, chẳng bao giờ phạm, chỉ một lỗi lầm, dù là nhỏ xíu cỡ nào đi chăng nữa. Như hệ thống nhà nước xã hội của chúng ta, nó có thể tự hào về chính nó, về phương hướng, thành quả. Nhưng, cái gì vô nhân, thì cái đó thật dễ dàng tổ chức thành hệ thống. Về cái việc làm này, Liên xô chẳng cần đồ ngoại nhập. Hơn thế nữa, nếu muốn cho nó ngày một giầu có hơn, thì cứ việc xuất cảng hệ thống phi nhân đó.
Nguyễn Quốc Trụ dịch
tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong khi Oe tạm để văn chương qua một bên, ông tự hứa, sẽ sấn vào đám đông,
Trong khi trên sân khấu chính trị, Mishima nổi bật như là một người theo chủ nghĩa quốc gia hữu phái,
Oe và bà vợ bây giờ có thể nói chuyện với con,
Như bạn biết, ở Hiroshima, nhiều người mắt bị tổn thương, do ánh sáng chói lòa của trái bom nguyên tử
Ngày 1 tháng Mười 1991, Leningrad chính thức trở lại với tên khởi thủy của nó
Bây giờ nói đến số phận của chính "cái gọi là" tiếng mẹ đẻ, khi bị (chuyển) dịch.
Cuốn sách mỏng, bản tiếng Pháp 145 trang; người viết xin được giới thiệu tóm tắt một chương,
Diễn văn Nobel văn chương 2001 (ngày 7 tháng Chạp 2001).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.