Hôm nay,  

Thủ Mơn Condi Rice

09/04/200400:00:00(Xem: 5305)
Truyền thông Mỹ theo dõi vụ điều trần của Condoleezza Rice ngày hơm qua để xem Condi Rice và Dick Clarke, ai thắng ai bại. Sự thật cĩ khi lại phức tạp và nghiêm trọng hơn vậy.
Ngay giữa chiến tranh và trong mùa tranh cử, Hoa Kỳ lại mở cuộc điều tra về nguyên do và hồn cảnh dẫn đến vụ khủng bố 9-11 để từ đĩ tìm phương thức đối phĩ. Cuộc điều tra lại bị ơ nhiễm vì mục tiêu chính trị bầu cử với cuốn sách và chiến dịch tố giác chính quyền Bush do Richard Clarke tiến hành, với sự tường thuật quá chu đáo và ồn ào của truyền thơng. Kết cuộc thì vì nhu cầu tìm hiểu đúng sai, thượng cấp cũ của ơng Clarke là Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Bush là Condoleezza Rice phải ra điều trần, hữu thệ và cơng khai, trước ủy ban điều tra, gọi tắt là “Ủy ban 9-11”.
Với thĩi quen cố hữu, truyền thơng Mỹ coi đây là màn song đấu gián tiếp giữa Rice và Clarke, pha thư hùng phụ trội và miễn phí bên lề cuộc tranh cử. Nhưng, những điều mà vị cố vấn thân tín của ơng Bush trình bày trong gần ba tiếng điều trần hơm qua Thứ Năm phải làm ta nhìn xa hơn vậy, vào cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ đang tiến hành. Nếu cĩ cần một kết luận thì Hoa Kỳ khơng được chuẩn bị để đối phĩ với vụ khủng bố 9-11 và ngày nay cũng vẫn chưa được chuẩn bị để chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố.
Trước hết, qua lời Condi Rice, từ cả chục năm trước vụ 9-11, Mỹ đã cĩ nhiều tín hiệu về mục đích của al-Qaeda và trùm khủng bố Osama bin Laden, mục đích đĩ là gây chiến và gieo tai họa ngay trong lãnh thổ Mỹ. Nhưng, những tín hiệu này khơng đủ chính xác để Mỹ ngăn ngừa vụ 9-11, và tâm lý ứng chiến cũng khơng cĩ, trước sau chỉ là những nỗ lực phịng thủ thụ động, hợp pháp. Cụ thể là tìm cách bắt giữ bin Laden để xin dẫn độ về Mỹ để bị truy tố trước tịa án. Đĩ là đặc tính của đối sách thời Bill Clinton. Khủng bố đã khai chiến với Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ lại khơng khai chiến với khủng bố. Chúng ta thiếu tâm lý chiến tranh.
Khi George W. Bush nhậm chức, ơng cĩ một khảo hướng khác, cĩ tính chất chủ động hơn vì coi đây là một cuộc chiến sinh tử. Nhưng, chính quyền ơng gặp khá nhiều trở ngại và chậm trễ để trù hoạch ra một đối sách quyết liệt hơn. Những trở ngại đĩ là thiếu phương tiện nhân sự, là cách xử lý đầy tính chất thư lại trong bộ máy an ninh và tình báo, là thủ tục chính trị của đảng Dân chủ đối lập để phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm của Hành pháp mới. Quan trọng nhất trong những trở ngại này là một loại vấn đề thuộc về cơ cấu, sự cạnh tranh và thiếu hợp tác giữa hai bộ phận then chốt là tình báo CIA và an ninh FBI. Nĩi cách khác Hoa Kỳ khơng cĩ tai mắt đủ tinh vi để đối phĩ với lọai đe dọa mới.
Theo lời Condi Rice, những trở ngại này giờ đây vẫn chưa hết và điều đĩ cĩ thể bị đối phương khai thác để cơng kích khả năng của một Cố vấn An ninh, là người cĩ nhiệm vụ phối hợp hoạt động của các bộ phận về an ninh và tình báo.
Một cách gián tiếp, Condi Rice cũng cho biết là trong suốt giai đoạn “tiền 9-11”, chính quyền Bush vẫn phải lưu dung thành phần nhân sự cao cấp do chính quyền Clinton để lại. Điều đĩ cĩ thể giải thích vì sao việc trù hoạch chính sách thường bị tiết lộ, thậm chí phá hoại, vì mục tiêu chính trị nội bộ. Sự kiện này cĩ thể sẽ được cánh hữu hay các xu hướng thân Bush khai thác để cơng kích phe Dân chủ và hĩa giải địn phá hoại của Dick Clarke.
Nhưng, bao trùm lên những tranh chấp nhất thời về lẽ đúng sai hay thắng bại giữa hai đảng và hai người, dư luận cịn thấy cái lẽ thắng bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố.
Sau khi bị tấn cơng nặng nề, Hoa Kỳ đã thành cơng trong việc phịng thủ là bảo vệ an ninh lãnh thổ, nhưng chưa thành cơng trong việc diệt trừ khủng bố cho tuyệt căn. Những nguyên nhân khiến Mỹ thất bại trong việc ngăn ngừa vụ 9-11 cĩ thể cũng và vẫn là những nguyên nhân khiến Mỹ sẽ khơng thành cơng trong trận chiến diệt khủng bố.
Một thí dụ cụ thể được Cố vấn Rice nêu ra là đối sách của Mỹ với al-Qaeda đã khơng cĩ kết quả vì đối sách của Mỹ với A Phú Hãn khơng thành cơng, mà đối sách với A Phú Hãn khơng thành cơng cũng vì chánh sách của Mỹ với Pakistan khơng thành cơng. Chúng ta cứ đi theo xốy chơn ốc đĩ vào những hành lang bí hiểm của tiến trình quyết định để thấy ra là nước Mỹ rất trọng nguyên tắc dân chủ và chế độ pháp trị, nhưng vì vậy mất nhiều thời giờ cơng sức đối phĩ với nhau thay vì với quân khủng bố.

Một thí dụ khác cũng cần được nhắc lại ở đây là nguyên tắc “tiên hạ thủ”, tấn cơng trước để diệt hậu họa. Sau vụ 9-11, người Mỹ cĩ thể đồng ý với nguyên tắc này, và cịn cĩ vẻ ân hận là khơng nghĩ ra từ trước, nếu khơng, cĩ khi đã khỏi bị tổn thất 9-11. Nhưng, ngay sau đĩ, dư luận lại mất sự thống nhất ý chí, khi nhiều người đả kích đạo luật Ái quốc (Patriot Act) nhằm tăng cường kiểm sốt để trị an là đạo luật vi phạm quyền tự do của cơng dân. Như đứa trẻ bước vào hàng quà, cái gì cũng muốn cĩ, người Mỹ muốn nhiều thứ một lúc và các chính khách lại khéo khai thác tâm lý đĩ để tìm thành quả nhất thời trong khi quay lưng lại cuộc chiến. Và khi gặp khĩ khăn trở ngại thì xoay ra đổ lỗi cho nhau.
Kết luận chung của người quan sát tồn bộ vụ điều trần và đọc lại tồn bộ bản văn của cuộc điều trần là Ủy ban 9-11 sẽ cĩ trách nhiệm rất nặng để xác định lại ưu tiên xử lý của mọi thành phần hữu trách, từ chính quyền, các bộ phận về an ninh, tình báo, quân sự hay tư pháp, cho đến giới dân cử. Người viết khơng tin rằng Ủy ban này sẽ hồn thành được trách nhiệm, căn cứ trên việc họ đã khơng tránh nổi làn giĩ hơi hám của chính trị gây nhiễu xạ và che mờ khả năng ứng phĩ của quốc gia. Đây là một kết luận khá bi quan.
Ngồi nội dung sâu xa của cuộc điều trần, hãy nĩi về hình thức.
Condi Rice là người lịch sự nhưng quyết liệt và lạnh lùng phản bác từng địn tấn cơng của các ủy viên nêu câu hỏi với dụng ý hay ác ý. Sơi nổi nhất là khi (cựu) Nghị sĩ Bob Kerrey dồn dập tra hỏi và phải lãnh những câu trả lời mạch lạc mà dồn dập khơng kém, khiến ơng mất bình tĩnh. Là người dày dặn kinh nghiệm tranh luận nghị trường, ơng gặp một cao thủ già địn và coi như bị thất thế.
Một điều nữa ở bên lề sẽ làm truyền thơng Mỹ tìm ra đồ chơi mới là Tờ trình Tổng thống về An ninh Tình báo ngày 6 tháng Tám năm 2001 (một tháng trước vụ 9-11). Báo chí sẽ địi giải mật tài liệu này sau khi nội dung bị chính các Ủy viên đọc ra. Tiêu đề của tài liệu là “Osama bin Laden nhất định tấn cơng vào trong nước Mỹ”, nhưng lại khơng đủ chính xác để cĩ thể kết luận là bin Laden cĩ kế hoạch tấn cơng nước Mỹ. Sự khác biệt tưởng như lý thuyết này thực ra là vấn đề lớn. Chủ nghĩa cộng sản cũng từng địi chơn sống chủ nghĩa tư bản, nhưng quyết tâm đĩ chưa đủ chính xác bằng một loại thơng tin khác: “một nước cộng sản sẽ tấn cơng, bằng cách gì, ở đâu, vào lúc nào.” Condi Rice cho biết là nội dung đĩ dựa vào những phân tách đã cũ và khơng đề ra được giải pháp đối phĩ thích đáng.
Cũng liên hệ đến vấn đề trên là câu hỏi về các giải pháp đối phĩ do Richard Clarke đề nghị. Theo lời bà, những giải pháp đĩ khơng hữu hiệu và cịn khiến nước Mỹ đi lệch huớng (wrong direction). Khơng thể nào cĩ lời phản bác rõ ràng hơn về khả năng chuyên mơn của ơng Clarke, và chi tiết đĩ cĩ thể giải thích vì sao ơng ta đảo ngược lập trường xoay ra tấn cơng chính quyền đã lưu dụng ơng sau tám năm phục vụ chính quyền Clinton trong bộ phận chống khủng bố, mà chống khơng xong.
Dick Clarke cĩ nhắc đến một tài liệu báo động đệ trình Condi Rice bảy ngày trước vụ 9-11 mà khơng được cứu xét. Được Ủy viên Roemer hỏi về tài liệu này, Condi cho biết đĩ khơng là một tài liệu cảnh báo về nguy cơ khủng bố mà chỉ là những than phiền đầy xúc động (emotional) về trở ngại hành chánh và thư lại của bộ Quốc phịng hay CIA để thượng cấp Condi Rice tự chuẩn bị khi tham dự buổi họp với các giới chức cao cấp về an ninh. Vả lại, trước đĩ, chính Dick Clarke cũng cơng nhận với Ủy ban 9-11 là nếu chính quyền Bush cĩ thi hành tất cả những biện pháp phịng ngự do ơng đề nghị thì Hoa Kỳ cũng khơng tránh khỏi một vụ 9-11! Thế mà cũng vẫn phân trần cãi cọ!
Lời cuối ở đây là truyền thơng Mỹ chờ đợi tài bắt banh của thủ mơn Condi Rice nhưng ít ai ngờ là nhân vật này chẳng những bắt dính mà cịn đá lại cho rách lưới những ai quan tâm đến chính trị hơn là an ninh. Bậc nữ lưu này quả là đáng sợ cho những ai khơng thích chính quyền Bush. Theo dõi cuộc giao đấu giữa Condi với các Ủy viên Ben-Venister hay Kerrey là điều lý thú, nếu như al-Qaeda và khủng bố khơng cịn đĩ...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.