Hôm nay,  

Đôi điều về Di chúc của Hồ Chí Minh nhân dịp 'Quốc Khánh' 2/9

02/09/202511:18:00(Xem: 1525)

 

BuiVanPhu_2025_0831_VaiSuyNghiVeQuocKhanh_H01_LangHCM_BaDinh
Lăng Hồ Chí Minh ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
(Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Ngày 2 tháng Chín 1945 là ngày Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

 

Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.

 

Trong sách tiếng Anh mang tên: “President Ho Chi Minh’s Testament - Appeal and Last Tribute of the Central Committee of the Vietnam Workers’ Party” do Foreign Languages Publishing House xuất bản năm 1969 đã có bản dịch tiếng Anh của văn bản được Bộ Chính trị cho phổ biến trong ngày 3/9/1969 về sự ra đi của ông Hồ, có đoạn mở đầu (tạm dịch ra tiếng Việt):

 

“Uỷ ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vô cùng đau buồn báo tin cùng các đồng chí, chiến sĩ, đồng bào toàn quốc và Việt kiều hải ngoại:

 

Đồng chí Hồ Chí Minh

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương

Đảng Lao động Việt Nam

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

 

sau một thời gian ốm bệnh và qua một cơn đau tim nghiêm trọng đã từ trần lúc 9 giờ 47 phút sáng ngày 3/9/1969 tại Hà Nội.”

 

Cũng trong sách này, lãnh đạo Hà Nội chỉ cho in một trang viết tay bản di chúc, được chính ông Hồ chỉnh sửa lần cuối vào ngày 10/5/1969. Còn lại nội dung toàn bản viết tay di chúc không được phổ biến khi đó.

 

Sáu năm sau ngày Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn, người kế vị, đã hoàn thành di nguyện của ông: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nh/zân ta zù fải kinh qua zan khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn,” khi Hoa Kỳ rút lui khỏi Việt Nam và chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30/4/1975.

 

Một năm sau, hai miền Nam Bắc được thống nhất dưới quốc hiệu Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

 

Tuy nhiên, một đất nước thống nhất dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản đã khiến hàng triệu người phải bỏ quê hương ra đi, điều chưa bao giờ có trong lịch sử, và họ là người từ cả ba miền Nam, Trung, Bắc.

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn, người kế vị Hồ Chí Minh, qua đời ngày 10/7/1986. Đại hội 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam cuối năm 1986 đưa Nguyễn Văn Linh lên thay. Sau 10 năm kiệt quệ vì thất bại của các kế hoạch năm năm theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa và bị cô lập sau cuộc tấn công vào Campuchia, Hà Nội chủ trương “đổi mới” từ năm 1987 và đã phát động cải cách kinh tế, cho phép kinh tế nhiều thành phần, mở cửa giao thương với phương Tây, cởi trói văn nghệ.

BuiVanPhu_2025_0831_VaiSuyNghiVeQuocKhanh_H02_SachVeDiChuc
Các sách về di chúc của Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1969, bên trái, 1989 và 2009 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 Năm 1989, Hà Nội quyết định công bố toàn văn di chúc ông Hồ để lại, được viết từ năm 1965 và được chính ông Hồ chỉnh sửa nhiều lần, theo những tài liệu của Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chí Minh, đưa ra. Cùng lúc ngày mất của ông Hồ cũng được chính thức sửa lại là 2/9/1969.

 

Bài viết “Vì sao sau 20 năm, bản Di chúc của Bác Hồ mới được xuất bản?” của Văn Hồng đăng trên trang mạng VOV của Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 21/5/2019 ghi lại phát biểu của Tiến sĩ Lưu Trần Luân, người trực tiếp tham gia công tác in ấn toàn bộ di chúc:

 

“Di chúc của Bác đã được công bố một phần ngay sau khi Bác mất, đến giữa năm 1989, đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác chuẩn bị trong nhiều năm thì quyết định gửi bản thảo Bác Hồ viết Di chúc, kể lại quá trình Bác viết Di chúc từ năm 1965 cho đến năm 1969 gửi đến Nhà xuất bản Sự thật lúc đó. Tác phẩm này có rất nhiều điểm mới, kể lại quá trình Bác Hồ viết Di chúc từ bao giờ, đến khi công bố cuốn sách. Như vậy, người ta hiểu Di chúc của Bác không chỉ có đoạn công bố như năm 1969. Vì vậy, trong không khí đổi mới, Bộ chính trị quyết định công bố toàn văn Di chúc và ra một Chỉ thị để học tập và làm theo Di chúc của Bác”.

 

Cũng theo Tiến sĩ Luân, nhà xuất bản Sự Thật và nhà máy in Tiến Bộ được giao công tác in ấn và đã cho phát hành tập sách “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” vào tháng 8/1989 với số in 100.000 bản.

 

Sau khi toàn bộ bản di chúc được công bố, có hai điều mà trước đó người dân chưa được biết, đó là việc ông Hồ muốn miễn thuế một năm cho nông dân và thi hài được thiêu và tro đem chôn trên ba miền đất nước.

 

1/ Về việc miễn thuế cho nông dân, ngày 28/12/1989 Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 6, đã thông qua một nghị quyết làm theo di chúc, nội dung: “Miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và các hộ nông dân, thực hiện trong hai năm 1990 và 1991, mỗi năm miễn 50% số thuế ghi thu.”

 

2/ Việc đem thiêu thi hài, di chúc để lại ghi: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là ‘hoả táng’… Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào ba cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó…”. Cho đến nay Bộ Chính trị chưa làm.

 

Trong những năm qua đã có một số ý kiến yêu cầu lãnh đạo thực hiện điểm thứ 2, điển hình là của ông Nguyễn Đình Bin, cựu thứ trưởng ngoại giao.

 

Năm 2019, dịp Quốc khánh lần 74 và Huý nhật thứ 50 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Bin đã gửi tâm thư yêu cầu Bộ Chính trị thực hiện ý nguyện đem thi hài đi thiêu và đề nghị làm một hình sáp ông Hồ thay vào để trong lăng. Trong một tâm thư phổ biến năm nay ông Nguyễn Đình Bin cũng nhắc lại yêu cầu thi hành di chúc của ông Hồ.

 

Năm 2000 tôi đã vào thăm lăng. Hai lần về Hà Nội trong những năm trước đó đã không vào vì những lý do chủ quan cũng như khách quan.

 

Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử của Việt Nam thì tôi muốn vào thăm di tích này cũng là chuyện bình thường, như tôi đã thăm đài tưởng niệm của lãnh đạo nhiều nước trên thế giới như Abraham Lincoln, Thomas Jefferson ở Mỹ, Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan hay Kwame Nkrumah ở Ghana.

                                                                              

Lần đầu tiên, khi ngồi trong công viên cạnh Chùa Một Cột nghe mấy em sinh viên vừa thi vào đại học nói chuyện với nhau, một em nói đến đây thì vào lăng xin cho thi đỗ, trong khi một em khác đáp lại là vào chùa xin chứ vào lăng thì “đen lắm”. Nhà tôi nghe chuyện, không muốn thăm lăng nữa.

 

Lần khác đến Hà Nội trong thời gian ban quản lí đang có công tác bảo trì thi hài thường niên nên lăng đóng cửa.

 

Năm 2000 vợ chồng tôi cùng hai con theo đoàn du khách vào thăm. Ra khỏi lăng, nhà tôi hỏi xác ông Hồ nằm đó là thật hay giả. Tôi không không có câu trả lời. Tôi đã viết về chuyện này trong bài “Một lần vào thăm” đăng trên talawas.org 2/9/2005.

 

Từ ngày công bố toàn bộ các văn bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhiều lần các cơ quan nhà nước tổ chức hội thảo, học tập về nội dung cũng như tinh thần được thể hiện trong di chúc, từ đạo đức cách mạng; sự đoàn kết, xây dựng chỉnh đốn trong Đảng; giáo dục thanh thiếu niên, hỗ trợ nông dân, bảo vệ phụ nữ, trẻ em; sức mạnh dân tộc cho đến giá trị nhân văn, quan hệ quốc tế, phát triển khoa học kỹ thuật và cho rằng đó là những tư tưởng của một “thiên tài”.

 

Năm 2009, Học viện Chính trị của Bộ Quốc Phòng đã tổ chức hội thảo khoa học chủ đề “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị lịch sử và hiện thực” với sự tham gia của rất nhiều cán bộ, giảng viên, nhà khoa học trong và ngoài học viện. Sau hội thảo, 58 bài tham luận, nghiên cứu đã được chọn đưa vào tập sách mang cùng tên chủ đề hội thảo và được nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành.

 

Bài viết của Đại tá, ThS Nguyễn Đình Huệ, có tựa “Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đăng trong tập sách ghi trên có những đoạn:

 

“Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ…”

 

“Đảng còn có những yếu kém chưa được khắc phục: một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí có chiều hướng gia tăng, làm giảm sút lòng tin, tổn thương mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng”

 

Đại tá Nguyễn Đình Huệ là chính trị viên Hệ Quốc tế của Học viện Chính trị và đó là những gì ông viết năm 2009 (tr.372)

 

Mười lăm năm sau, tình hình tham nhũng hối lộ của cán bộ, đảng viên ngày càng lan tràn trong các cơ quan nhà nước. Chiến dịch “đốt lò” nhằm diệt tham nhũng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong một thập niên qua đã cách chức nhiều uỷ viên trong Bộ Chính trị, nhiều bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư tỉnh uỷ bị kỷ luật và kết án tù, qua những vụ việc nghiêm trọng như trong những vụ tham nhũng, hối lộ liên quan đến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, kit test Covid, chuyến bay giải cứu, hay các dự án qui hoạch phát triển, các giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, dược phẩm ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới đời sống và sinh mạng của dân.

 

Hồ Chí Minh là người yêu nước, thương dân, đứng lên đấu tranh cho dân Việt thoát ách nô lệ thực dân, gông cùm đế quốc, hay ông là người đã đem chủ thuyết Mác-Lê áp đặt lên dân tộc?

 

BuiVanPhu_2025_0831_VaiSuyNghiVeQuocKhanh_H03_DiChuc_Page1
Trang di chúc được Hà Nội phổ biến sau khi Hồ Chí Minh qua đời, in trong sách “President Ho Chi Minh’s Testament” xuất bản năm 1969
(Ảnh: Bùi Văn Phú)



Trong di chúc được ông sửa lần chót ngày 10/5/1969, hơn ba tháng trước khi chết, ông không nhắc gì đến vua, anh hùng hay danh tướng trong sử Việt mà chỉ có tên ba nhân vật nước ngoài:

 

“Ông Đỗ Fủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng ‘nhân sinh thất thập cổ lai hy’ ngĩa là ‘người thọ 70, xưa nay hiếm’…”

 

“Nhưng ai mà đoán biết tôi còn fục vụ C.M., fục vụ Tổ quốc, fục vụ nh/zân được bao lâu nữa?”

 

“Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, fòng khi tôi sẽ đi gặp các cụ Cac-Mac, cụ Lênin và các vị C.M. khác, thì đồng bào cả nước, đ.chí trong đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.”

 

Trích dẫn trên ghi lại đúng như cách viết tay chữ Việt với “f”, “z” trong di chúc ông Hồ để lại.

 

Như thế có thể nhận định rằng cho đến cuối đời Hồ Chí Minh vẫn trung thành với chủ thuyết Mác-Lê, đã là ánh sáng soi đường cho ông từ khi còn trẻ, bôn ba nước ngoài và tin rằng đó là con đường sẽ giúp giải phóng đất nước thoát ách đô hộ của thực dân Pháp và sau đó đánh đuổi đế quốc Mỹ.

 

Nhưng hệ quả là sự cai trị của cộng sản, theo xã hội chủ nghĩa Mác-Lê, nên Việt Nam trong nửa thế kỷ qua vẫn thụt lùi so với nhiều quốc gia trong khu vực trên nhiều mặt, trong khi đất nước phong phú nguồn lực thiên nhiên và không thiếu nhân tài, vì đối với đoàn viên và thanh niên, theo di chúc thì “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa ‘hồng’ vừa ‘chuyên’…” (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương - Đảng Cộng sản Việt Nam, 1989, tr.36)

BuiVanPhu_2025_0831_VaiSuyNghiVeQuocKhanh_H04_DiChuc_DoPhu_CacMac_Lenin
H04: Hồ Chí Minh nhắc đến Đỗ Phủ, Các-Mác và Lênin trong di chúc (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã hoàn tất sứ mạng lịch sử khi thống nhất đất nước. Di chúc ông để lại đến nay có nhiều bất cập với thời đại.

 

Cũng như cụm từ: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” chính thức ra đời từ ngày 2/9/1945 hay câu nói của Hồ Chí Minh: “Không có gì quí hơn Độc lập, Tự do” thì đến nay vẫn chỉ là khẩu hiệu để treo trong cơ quan, trên đường phố, in trong sách, trên các văn bản, vì Việt Nam nay còn lệ thuộc vào Trung Quốc, từ sau hội nghị Thành Đô 1990 tại Tứ Xuyên, liên kết hai nước vào con đường xã hội chủ nghĩa, và dân Việt vẫn chưa thực sự được tự do.

 

Sau gần bốn thập kỷ đổi mới kinh tế, trao đổi thương mại với thế giới, Việt Nam đã có những thành tựu phát triển nhất định: hạ tầng cơ sở được nâng cấp, nhiều khu đô thị được thành hình, mức sống của dân được nâng cao, du lịch phát triển thu hút hàng triệu du khách quốc tế. Nhiều người Việt đã có cơ hội du lịch nước ngoài. Hàng vạn sinh viên Việt du học tại các nước tiến bộ ở châu Âu, Mỹ, Úc.

 

GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 1990 là 100 USD, năm 2024 là 4.700 USD, theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới.

 

Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam sắp diễn ra. Có nên hy vọng vào Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ mở ra “kỷ nguyên mới” với những cải cách chính trị đưa đất nước vào lộ trình dân chủ hoá? Để cho người Việt, trí thức cũng như nông dân, không còn tìm cách ra đi, nhà nước không còn phải xuất khẩu lao động mà có công việc cho dân trong các hãng xưởng của người Việt trên quê hương mình.

 

Và hai mươi năm sau, kỷ niệm 100 năm Quốc Khánh (2/9/1945-2045), thế giới sẽ không chỉ biết đến Việt Nam qua “phở”, “bánh mì”, “áo dài”, “Hạ Long Bay” hay “Huế”, “Hội An” mà người Việt khắp năm châu có thể hãnh diện với bạn bè khắp nơi qua những sản phẩm công nghệ cao “Made in Vietnam” cùng nhiều nét văn hoá nghệ thuật đậm đà bản sắc, để Việt Nam vươn mình thành rồng châu Á, sánh vai cùng Nhật Bản, Hàn Quốc.

 

Bùi Văn Phú


Tác giả dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.
Trong hơn hai thế kỷ qua, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã “trưởng thành” cùng đất nước thông qua các tu chính án. Những sửa đổi mang tính lịch sử như Tu Chính Án 13 (xóa bỏ chế độ nô lệ) hay Tu Chính Án 19 (mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ) là minh chứng rõ ràng cho tinh thần ấy: Hiến Pháp không phải là những điều bất biến, mà là một công trình luôn phát triển cùng thời đại.
Năm 1978, Hồng y Karol Józef Wojtyla, Tổng Giám mục Kraków của Ba Lan, được bầu làm giáo hoàng (John Paul II, Gioan Phaolô II). Năm 1980, thi sĩ Czesław Miłosz, giáo sư gốc Ba Lan tại Đại học Berkeley, được trao giải Nobel Văn chương, là người đầu tiên của trường nhận giải Nobel không phải trong lãnh vực khoa học và ông có những quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó tôi chú ý đến đất nước Ba Lan nhiều hơn, nhất là chuyến trở về quê hương lần đầu tiên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, vợ chồng sắp bay sang Ý dự đám cưới con gái vào ngày 12. Sáng ấy, ông vẫn dậy 4 giờ rưỡi, tắm, hát điệu music-hall, mặc bộ pin-stripe xanh đậm – ông bắt nhân viên an ninh mang áo cà vạt mỗi ngày; nhiều người khó, ông tự móc tiền mua cho. 8 giờ 15 như lệ, gọi cho Susan. Nửa giờ sau, Susan đang nói chuyện với con thì đầu dây khác reo: “Mở tivi lên!” Tháp phía bắc bốc khói. Bà gọi văn phòng chồng; đồng nghiệp bảo: “Rick đang ngoài hành lang, cầm loa, đưa mọi người ra.” Ở Florida, Dan Hill xem tivi thì điện thoại reo: Rick gọi từ di động. “Tôi đang sơ tán.” Hill nghe ông dùng loa, giọng bình tĩnh, rồi bật hát bài “Men of Harlech”: “Đứng vững, người Cornwall ơi… đừng bao giờ chịu khuất.” Rick nói thêm: Ban quản trị toà nhà bảo ở yên. “Tôi bảo hắn cút đi,” Rick nói. “Những tầng trên điểm trúng sẽ sập, kéo cả nhà xuống. Tôi đưa người của tôi ra.” Vài phút sau, máy bay thứ hai ngoặt trái lao vào tháp nam. Susan bấm gọi; không ai bắt máy...
Về mặt pháp lý và hình sự ở châu Âu, hiện nay không có một Tòa án Hình sự duy nhất nào có thẩm quyền chung cho toàn châu Âu như kiểu “Tòa án Tối cao Hình sự châu Âu”. Tuy nhiên, có một số cơ quan và tòa án có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định có liên quan đến hình sự chung cho châu Âu. European Union Agency for Criminal Justice Cooperation, EUROJUST không phải là tòa án mà là cơ quan hợp tác tư pháp hình sự của Liên minh châu Âu, có chức năng hỗ trợ và điều phối hợp tác điều tra và truy tố hình sự xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên. Các tội phạm xuyên quốc gia là khủng bố, buôn ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng... Cơ quan này có trụ sở đặt tại The Hague, Hà Lan.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.
Trong thời gian qua, dư luận chú ý nhiều đến cuộc đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và các đại học danh tiếng như Columbia hay Harvard. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp này đã vô tình che lấp vấn đề sâu rộng và nghiêm trọng hơn: chính quyền Trump cùng nhiều tiểu bang đang tiến hành một chiến dịch nhắm vào hệ thống giáo dục công lập K-12
Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.