Hôm nay,  

Đức Mẹ Mễ Du

28/06/200400:00:00(Xem: 9515)
Nhật báo Việt Báo, xuất bản tại quận Orange (Cam), miền nam California, số phát hành thứ Bảy ngày 26-6-2004, đã đăng tấm hình chụp và chú thích “HÀNH HƯƠNG TƯỢNG ĐỨC MẸ”.
Thật ra, không phải “các tín đồ Thiên Chúa quỳ lạy trước tượng Đức Mẹ ở Medjugorje, Bosnia và Herzegovina” như bản tin của nhà báo đã viết, mà đúng ra: Các tín hữu hành hương đang sốt sắng lần chuỗi hạt Mân Côi (the Rosary) để tôn kính Mẹ Maria – Thân Mẫu Chúa Giêsu và Thân Mẫu loài người –, và để tỏ lòng tha thiết sám hối tội lỗi của riêng mình cũng như của đồng loại, họ đã quỳ gối “lết đi” chung quanh Thánh Tượng tuyệt đẹp “Nữ Vương Hòa Bình” (“Our Lady of Peace”), được long trọng đặt ở phía trước Nhà thờ Tông đồ Giacôbê, ngôi Thánh đường chính của linh địa Đức Mẹ Mễ Du [danh gọi này được các tín hữu Việt Nam trong nước dịch từ “Medjugorje” cho dễ nhớ!]
Tấm hình hi hữu tôi nhìn thấy hôm nay đã gây ấn tượng sâu đậm trong trái tim mình, khi nó nhắc tôi nhớ lại cách sống động:
Vào gần nửa đêm thứ Bảy ngày 29-9-2001 (đã tròn 3 năm 3 tháng), tôi và phái đoàn hành hương với mục đích “kính viếng Đức Mẹ Medjugorje”, đã đặt chân tới ngôi làng bé nhỏ, nghèo khó, ẩn khuất ở trong sâu những dẫy núi trùng điệp, hùng vĩ, nhưng tràn đầy ân phúc này [bởi được Mẹ Thiên Chúa xuống viếng thăm từ ngày thứ nhất 24-6-1981, Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tiền Hô], và chiếc “bus” khổng lồ chở chúng tôi tới thẳng trước Nhà thờ Thánh Giacôbê, hầu cho chúng tôi được nhìn Thánh Tượng “Nữ Vương Hòa Bình”, kính chào Đức Mẹ, trước khi “đổ” chúng tôi xuống nhà trọ ở gần bên, để chúng tôi nghỉ ngơi qua đêm đầu tiên, sau cuộc hành trình rất dài, từ phi trường “Los Angeles” (“Các Thiên Thần”) tới sân bay “Split” của quốc gia tân lập Bosnia [thuộc nước cộng sản Nam Tư cũ nổi tiếng khắc nghiệt dưới thời cai trị của cố Tổng thống Titô]
HÀNH HƯƠNG MEDJUGORJE
Cuộc khủng bố dã man tấn công Nước Mỹ ngày 11 tháng 9, 2001, đã giết chết trên 3.000 đồng loại, thuộc nhiều quốc tịch trong đó có Việt Nam chúng ta, và gây ra biết bao nhiêu khổ đau, nước mắt, cho các bạn hữu, thân nhân của những người đã phải tất tưởi hy sinh.
Chỉ vào mấy ngày sau thảm kịch, chiến tranh đã ló rạng, vì Hoa Kỳ quyết tâm tiêu diệt các kẻ khủng bố ở tận sào huyệt của họ. Vào lúc ấy, trong lòng chúng tôi thổn thức những ý hướng cầu nguyện cho hòa bình thế giới.

Rồi, như một phép lạ, vào phút chót, chúng tôi được chính Đức Mẹ gọi đi hành hương Medjugorje, nơi Người đã hiện ra với các cô bé Vicka, Mirjana, Marija, Ivanka, cùng hai cậu Ivan và Jacob, từ ngày 24 tháng 6, 1981, và nay Người còn đang hiển linh cho các thụ khải mỗi ngày.
• “Dặm đường sơn khê”
Đoàn hành hương 45 người, gồm 42 tín hữu Công giáo, một cụ bà Phật giáo 93 tuổi, và hai linh mục, đã lên đường sáng thứ Sáu, 28 tháng 9, 2001, từ phi trường quốc tế Los Angeles, rất hoang vắng vì hậu quả ngày kinh hoàng ấy.
Đại bàng “Continental” đưa chúng tôi sang phi trường Newark, tiểu bang New Jersey (6 giờ bay), rồi vượt Đại Tây Dương, đáp xuống Hà Lan (8 giờ bay). Từ đây, chim sắt “Croatia” đem chúng tôi vào đất nước của họ ở phi trường Zagreb (3 giờ 30 phút bay), và cất cánh chuyến thứ tư xuống miền Nam, đáp tại Split (1 giờ bay). Chúng tôi đặt chân xuống sân bay cuối cùng này vào lúc 7:15 đêm thứ Bảy, 29-9.
Sau hơn 18 giờ thăm thẳm trên không trung, cộng với 4 lần đổi phi cơ, với thủ tục lấy vé lên tầu, qua các trạm xét hỏi giấy tờ quốc tịch, trong thời buổi an ninh phi trường chặt chẽ, gay gắt, kỹ lưỡng hơn bao giờ hết, ai nấy đều mệt nhoài. Nhưng, chúng tôi còn phải hành trình trên xe buýt 4 giờ nữa, qua đường lộ nhỏ hẹp, uốn khúc theo sườn đồi, ngoằn ngoèo hiểm trở, dưới ánh trăng thơ mộng!
Gần nửa đêm chúng tôi tới làng Medjugorje. Vào nhà trọ, cha-con dâng lễ nửa đêm, rồi đi ngủ, say sưa với đầy mộng đẹp, hữu tình…
• Linh Địa Medjugorje
Ngày hành hương đầu tiên của chúng tôi bắt đầu sáng Chúa nhật, 30-9. Chúng tôi hoan hỉ tiến về Nhà thờ Thánh Giacôbê, với hai tháp nhọn, cao mà chúng tôi đã quen thuộc qua các hình ảnh đăng trên báo chí trong hơn hai thập niên qua. Trong công viên Nhà thờ, gần cổng vào, phía tay phải, tượng Đức Mẹ, danh hiệu “Nữ Vương Hòa Bình”, được cung kính dựng lên giữa một vườn hoa nhỏ, đóa hồng, cúc vàng.
Các con cái của Mẹ đến từ năm châu bốn bể đứng, hoặc quì, sốt nóng lần chuỗi Mân Côi.
Ước lượng có khoảng 5.000 người hành hương hiện diện ở Đất Mẹ mỗi ngày, và trung bình hàng năm có 3 triệu người kính viếng nơi linh thiêng này.
Nay, Medjugorje là trung tâm cầu nguyện và hòa giải lớn nhất thế giới, hơn cả Lộ Đức [Lourdes, miền nam Pháp quốc], và Fatima, Bồ Đào Nha.
Đức Mẹ đã hiện ra ở nhiều nơi trên địa cầu, cả ở La Vang, tỉnh Quảng Trị chúng ta, nhưng Người đã chấm dứt những cuộc hiện tỏ, chỉ trừ ở Medjugorje.
23 năm trước, Medjugorje là làng quê khiêm tốn, mất hút giữa các núi đồi, chẳng ai biết tới, nhưng nay Medjugorje đã ở trong trái tim của hàng triệu triệu người.
12 giờ trưa, chúng tôi tham dự Thánh Lễ Chúa nhật hôm nay, được cử hành bằng Anh ngữ do một Giám mục người Phi Châu. Ngài đã mời gọi các Kitô hữu cầu nguyện cho hòa bình thế giới, trước viễn ảnh chiến tranh sắp xảy ra.

5:00 chiều, tiếng chuông Nhà thờ đổ, anh chị em hành hương lại tuôn về nơi thờ phượng. Một linh mục dòng Phanxicô hướng dẫn các tín hữu lần hai chuỗi năm sự Vui và năm sự Thương, để kính Đức Mẹ và dọn tâm hồn trước khi tham dự Thánh Lễ.
5:45 PM, linh mục chủ sự mời tất cả mọi người thinh lặng trong giây lát để tôn kính Mẹ Maria đang “hiển linh” cho các thụ khải, mỗi chiều vào khoảng giờ này.
6:00 PM, Thánh Lễ được cử hành bằng tiếng địa phương Croatia, với khoảng 70 linh mục hành hương đồng tế, và 2 ngàn bổn đạo ngồi, đứng, quì, chật ních lòng Nhà thờ, thêm mấy ngàn người phải ở bên ngoài.
7:30 PM, Thánh Lễ kết thúc. Tiếp liền sau đó là các nghi thức làm phép ảnh tượng, cầu nguyện chữa lành bệnh tật, và chuỗi Mân Côi năm sự Mừng, để cám ơn Chúa đã ban tiệc Thánh Thể, nuôi dưỡng xác hồn các con cái Ngài.


Điểm nổi bật thấy rõ, đó là mọi người đều vô cùng nhiệt sốt, thiết tha, đối với Đức Mẹ. Có thể nói, ai cũng rất đạo hạnh ở nơi này, khi được sống dưới tình thương Hiền Mẫu Maria Trinh Nữ Vương.
9:00 PM, đêm đầu tiên, đoàn hành hương chúng tôi đã ngồi vòng tròn với nhau, trong phòng khách nhà trọ, để giới thiệu tên tuổi mình, vì nhiều người trong chúng tôi chưa quen biết, thân thiết nhau.
Chuyến hành hương này là cuộc gặp gỡ duyên tình, là mối huynh đệ, tỷ muội. Khi chia sẻ hoàn cảnh gia đình mình, một chị trong đoàn đã khóc nức nở, vì có người con trai sa vòng xì ke, bạch phiến, và các người con khác sống xa Chúa. Cả đoàn chúng tôi ngậm ngùi, và thầm lặng cầu xin cho gia đình anh chị được Đức Mẹ đặc biệt chữa lành, nhân chuyến hành hương kính viếng Người.
• Lên Núi Thánh Giá
Trưa hôm sau, ngày 1-10, anh chị em chúng tôi lên núi Thánh Giá (Núi Krizevac) cao 500 mét. Đây là con đường Thương khó (via dolorosa), ngoằn ngoèo với đá cục lởm chởm, được đặt 14 chặng đàng Thập Tự. Nơi mỗi chặng, chúng tôi dừng chân để suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu; rồi trong lúc di chuyển đến chặng kế tiếp, chúng tôi lần hạt Mân Côi riêng, để kính tôn Mẹ đang có mặt với Con yêu dấu, trọn vẹn trong những giờ phút cuối đời của Ngài ở thế trần.
Khi lên tới đỉnh núi, nơi dựng cây Thánh Giá khổng lồ, do bổn đạo làng Medjugorje thực hiện từ năm 1934, để kỷ niệm sinh nhật thứ 1950 năm Chúa Giêsu chết trên Thập Tự, đoàn hành hương đã đứng thành vòng tròn, nối vòng tay thân ái, để cầu nguyện tự phát, tự trái tim mình.
Một chị đã dâng lời xin Thiên Chúa và Đức Mẹ thương yêu và cứu vớt các con cái mình khỏi tai họa, trong nước mắt đầm đìa, do tình mẫu tử đậm đà, do lòng mẹ bao la như khung trời bát ngát linh thiêng này. Hợp ý với bà mẹ trẻ tuổi sầu bi, chúng tôi xin Đức Mẹ chúc lành cho tất cả những người con khó dậy, bướng bỉnh, bụi đời, đi hoang, và xin Người đưa các em trở về với tình thương gia đình.
*
Đêm về, sau buổi họp mặt chung, chúng tôi một mình ra khuôn viên Nhà thờ Thánh Giacôbê, Bổn Mạng các người hành hương, và quỳ xuống lần chuỗi trước Thánh Tượng “Nữ Vương Hòa Bình”. Có một số tín hữu cũng đang lần chuỗi và thầm thĩ khấn xin với Người.
Kinh nguyện xong, lúc ấy khoảng 11 giờ 30 PM, trăng sáng tỏ, tuyệt đẹp, trên bầu trời bao la, cao xa, thăm thẳm, chúng tôi đứng chiêm ngắm cảnh vật yên tĩnh và huyền nhiệm. Đột ngột một bà lạ đến nói bằng Anh ngữ với tôi:
“Tôi có bản Kinh Nguyện này cho anh!”
Bà liền trao cho tôi mảnh giấy nhỏ in các hàng chữ nguyên văn dưới đây, rồi “biến đi” rất nhanh:
A PARENT’S PRAYER TO THE BLESSED TRINITY:
O Heavenly Father, I offer my children to You. Be their God and Father both for now and for eternity… In Your great mercy make up for whatever through weakness or neglect … is missing in me… Keep them loyal to Your Son Jesus Christ… As he overcame the world and conquered sin… grant that they may resist all temptations and grow daily in the grace of Jesus, and in that knowledge which surpasses all understanding…Pour Your love into their heart… increase in them the gifts of Your Holy Spirit… O Blessed Trinity … You made them in Your own image … preserve and strengthen that likeness in them each day. Amen.
KINH CHA MẸ CẦU XIN
THIÊN CHÚA BA NGÔI RẤT THÁNH:
Ôi lạy Cha thiên quốc, con dâng các con của con cho Cha. Xin Cha hãy là Thiên Chúa và là Cha của các con con, cả bây giờ lẫn đời đời… Trong lòng xót thương lớn lao hải hà của Cha, xin Cha bù đắp những gì còn thiếu xót nơi con, qua sự yếu đuối hay sao lãng… Xin Cha gìn giữ chúng trung thành với Chúa Giêsu Kitô, Con Cha… Như Ngài đã toàn thắng thế gian và chinh phục tội lỗi… xin Cha ban ơn ngõ hầu chúng chống trả lại mọi cám dỗ và lớn lên hằng ngày trong ân sủng Chúa Giêsu, và trong sự nhận biết điều ấy vượt quá mọi trí tri… Xin Cha đổ tình thương của Cha vào lòng chúng … xin Cha gia tăng trong tâm hồn chúng các tặng phẩm của Thần Khí Cha… Ôi lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh … Người đã sinh dựng nên chúng theo hình ảnh của chính Người … xin Người bảo tồn và làm mạnh mẽ sự họa ảnh ấy nơi chúng mỗi ngày. Amen.
Chúng tôi thật bồi hồi khi chuyện này xảy ra. Chúng tôi tin chính Đức Mẹ đã nhậm lời các bà mẹ “sầu lụy” kia, vì con cái hư hỏng của mình, và đưa cho tôi thông điệp của Người, để tôi trao lại các bà.
Hỡi các bà mẹ đang đau khổ vì con cái mình, các bà, các chị, hãy lau nước mắt, và nguyện cầu!
• Tông Đồ Đức Mẹ
Chúng tôi được hạnh phúc sống 8 ngày ở tại nơi huyền linh Medjugorje, với những buổi leo lên “Đồi Hiện Ra”, gọi là “Podbrdo”, để lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ, cầu nguyện, và suy niệm trước Cây Thánh Giá Xanh (Blue Cross), hay lên đỉnh đồi qua mười chục Mân Côi năm sự Vui và năm sự Thương.
Bình minh thứ Ba, ngày 2-10, nắng lên chói chang, bầu trời xanh lơ, trong sáng, chúng tôi đã được tham dự buổi lần chuỗi và chứng kiến cuộc hiện ra thật lạ lùng của Đức Mẹ với cô Mirjana, 36 tuổi, lúc 10 giờ.
Quì cách chỗ cô thụ khải quì đọc kinh một mét, nên chúng tôi thấy rõ dáng điệu xuất thần, ngây ngất, nét mặt rực rỡ, ánh mắt đăm đăm, miệng mấp máy, mỉm cười của cô, khi Đức Mẹ hiển linh nói với cô và cô thưa chuyện với Người.
Sau khoảng 10 phút, Đức Mẹ biến đi, Mirjana ngồi xuống và hai hàng “châu lụy” lăn trên gò má, như thể cô nhớ Mẹ dấu yêu…
Sáng thứ Tư, ngày 3-10, chúng tôi đã đến nghe cô Vicka, 37 tuổi, trình bày thông điệp Đức Mẹ kêu gọi cầu nguyện, sám hối, trở lại với Chúa, và ăn chay, hãm mình.
Ngày hôm sau, chúng tôi tham dự một cuộc phỏng vấn riêng với cô. Thụ khải Vicka luôn luôn vui vẻ, huyên thuyên nói cười với đông đảo lữ khách hành hương đến gặp cô.
Đoàn hành hương chúng tôi đã lãnh nhận rất nhiều hồng ân Thiên Chúa và Đức Mẹ ban. Riêng chúng tôi được Đức Mẹ thương chọn làm “tông đồ nhỏ” của Người, trong sứ mệnh truyền bá các thông điệp Người đã và đang gửi cho nhân loại tội lỗi, sa đọa chúng ta.
Thật ra, mọi tín hữu, hay không phải tín hữu, đến cầu nguyện tại Medjugorje “đều được Đức Mẹ đổi mới tâm hồn, trí óc, và đều trở nên những tông đồ của Người”.
Tạ ơn Mẹ Maria muôn vàn đời con!
* LM. Joseph Nguyễn Thanh Sơn, DccT
(June 28, 2004)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.