Hôm nay,  

Suối Phi Khanh

07/09/200500:00:00(Xem: 7888)

Từ thời Trung học, khi học Việt sử, chúng ta đều biết giai thoại Phi Khanh-Nguyễn Trãi. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1407, Trương Phụ sai Liễu Thăng bắt một số quan quân tướng sỹ của Việt Nam, giai về Tầu. Trong số những người bị bắt có Nguyễn Phi Khanh.
Theo sử liệu ghi chép thì Nguyễn Phi Khanh là một sỹ phu uyên bác, lầu thông kinh sử nên được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán mời về làm ông giáo kèm dạy các cậu ấm cô chiêu trong gia tộc. Trong số học trò có cô Trần Thị Thái ngưỡng mộ thầy tới mức vượt qua tình thầy trò. Kề cận giai nhân, lại được tỏ lộ tình yêu đằm thắm làm sao Nguyễn Phi Khanh có thể cưỡng được định mệnh!; nên khi tiểu thư Trần Thị Thái có thai thì hai người sợ hãi bỏ trốn. Quan Tư Đồ cho người tìm về rồi chính thức gả con gái cho. Nguyễn Trãi là kết quả của đôi trai tài gái sắc đó.
Nguyễn Trãi lẽo đẽo theo cha trên đường Nguyễn Phi Khanh bị dẫn giải về Kim Lăng dù Nguyễn Phi Khanh nhiều lần khuyên con hãy quay về Nam tìm đường phục hận hơn là rỏ nước mắt nam nhi ủy mỵ trên đoạn đường thống hận hờn oan.
Khi đến Ải Nam Quan, bọn nhà Minh quyết liệt đuổi những người đưa tiễn thân nhân lùi về ranh giới. Nguyễn Trãi muốn dâng cha một bình nước cuối trước khi chia biệt nhưng hỡi ơi, bình nước mang theo đã cạn!!! Nguyễn Trãi ngửa mặt nhìn trời, khóc rống lên ba tiếng bi thương, lòng thành khẩn khấn nguyện: "Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương nếu nước Việt Nam còn cơ hội phục hồi tự chủ, xin ban cho con bầu nước cuối từ đất Việt thân yêu để thay nước mắt tiễn biệt cha già".
Khấn nguyện xong, quá bi phẫn, Nguyễn Trãi dậm mạnh chân xuống đất. Mầu nhiệm thay, tù nền đất khô cứng phun lên nguồn nước mát ngọt trong. Nguyễn Trãi quỳ xụp xuống cảm tạ Chư Phật rồi hứng nước thiêng đó mà dâng cha.
Giòng suối thiêng liêng từ đấy được dân địa phương gọi là Suối Phi Khanh.
Từ khi giòng suối mẹ phun nước nuôi con, mẹ Việt Nam vẫn trôi nổi cùng con dân nước Việt. Mẹ Việt Nam xả thân cùng các con bám chặt lấy đất, sống chết với ruộng vườn thôn xóm. Trải qua bao lần tranh chấp biên giới, các vị vua nước Nam quyết một mất một còn giữ từng tất đất quê mẹ; đặc biệt, hơn 18 lần dưới triều Lý, vua nước Nam đã can trường phá Tống bình Chiêm, không để một tấc đất phương Nam lọt vào tay phương Bắc.
Hỡi ơi! giữa năm 2001, đảng Cộng Sản Việt Nam đã hèn nhát, lén lút dâng đất cho quan thầy của chúng là Trung Cộng! Hèn nhát vì Cộng Sản Việt Nam đã tuân hành lời đòi hỏi vô điều kiện. Lén lút vì chỉ khi ranh giới Ải Nam Quan bị dời sâu vào nội địa Việt Nam với tên mới là "Cây số Zéro", dân chúng mới biết!.

Cây số Zéro, cái tên vô hồn, lạnh lẽo ấy nằm giữa Ải Nam Quan cũ và Cửa Hữu Nghị mới bây giờ. Cây số Zéro ấy đã cắt đôi thác Bản Giốc thuộc tỉnh Cao Bằng từng là thắng cảnh miền Bắc Việt Nam, nay, một nửa đã thuộc về Trung Quốc!!!
Cây số Zéro ấy đã cắt hang Pakbo, nơi Cộng Sản Việt Nam coi là linh địa; nay, ¾ hang Pakbo đã thuộc về Trung Quốc!!!
Cây số Zéro cũng đã phá vỡ lời mẹ ru con ngọt ngào qua hàng nhiều thế kỷ:
"Đồng đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...."
Chùa Tam Thanh không còn nữa vì Hồng-quân đã san bằng tỉnh Lạng Sơn năm 1979 khì cần dạy đàn em CSVN một "bài học". Nàng Tô Thị có tìm về chùa ru con thì chùa đã nơi đâu"; thổn thức trong mờ ảo khói sương chỉ còn động đá đã bị đẩy lùi, thật sâu, trong lặng câm phẫn uất!
Đất đã thế, biển thì sao"
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gửi thư chấp nhận bản tuyên bố trong đó họ đồng ý nhường cho Trung Quốc toàn bộ:
- Các hải đảo của Việt Nam trên biển Nam Hải
- Toàn bộ các đảo cách đó 12 hải lý.
Đó có phải là lý do mà gần đây nhà cầm quyền Trung Cộng đã dùng chủ quyền để công khai bắn giết các ngư phủ Việt Nam, bất chấp dư luận quốc tế hay không"
"Thiên hạ mang mang, ai người tri kỷ "" (+)
Tinh thần Nguyễn Trãi ngày nay tiễn cha bằng nước mắt chính mình vì suối thiêng đã cạn, hồn nước đã xa:
"Cơn giông tới, trời cuồng vật vã
Tin cha già gục ngã chốn rừng sâu
Lặn lội ngày đêm, mẹ tìm mộ chí
Nắm cỏ bên đường ai lấp vội cho nhau!
Bỗng hân hoan,
Hỡi trời!
Như mừng rỡ!
Cha thoát rồi, năm tháng chịu xiềng gông
Báng súng, khảo tra,
Thôi dập bầm xương thịt,
Đói lạnh rã rời,
Thôi hành hạ thân đơn.
Đàn chó dại hẳn phải tru từng hồi tức giận,
Vì nanh dài, vuốt nhọn, nọc cuồng điên,
Chúng bủa vây cắn xé ngày đêm,
Vẫn không thể khiến con người khiếp sợ.
Bản cáo trạng,
Tội danh loài man rợ,
Sử ngàn trang hằn ứa máu tươi hồng
Vận nước bao đời trôi nổi hưng vong,
Giòng sinh mệnh vẫn xuôi về nguồn cội.
Cha biết thế, hẳn yên lòng phút cuối
Chút hơi tàn gom nốt hiến Quê Hương
Trọn lời nguyền vì Tổ Quốc Giang Sơn
Lòng Đất Mẹ ấp ôm thân rã mục!
Di chúc cho con:
"Trả hờn, rửa nhục,
Với quân thù, ta có một đường thôi
Là quyết dấn thân dành lại mặt trời
Hay cam chịu đời đời tăm tối !"
Ôi trang sử xưa,
Lời nghiêm huấn Phi Khanh gương còn sáng chói
Đem thù nhà mà trả nợ non sông
Biên ải bùi ngùi phụ tử tình thâm
Lòng Nguyễn Trãi tả tơi hồn-cung-kiếm
*
Pho Kinh mở, khói nhang tụng niệm
Lệ đầm tuôn nhòa nhạt bóng Di Đà
Nợ sinh thành: nghĩa mẹ ơn cha
Nợ Tổ Quốc: mầu da tiếng nói....
Nắng xứ người mà lòng con bão nổi
Quyện trầm hương linh hiển bóng cha già
Xin run rủi cơ may cho con trẻ
Được đem thân còn lại,
Hiến san hà." (*)

Nguyễn Bỉ Ngạn
(+) ThơNguyễn Bá Trạc
(* Thơ Diệu Trân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
Lời người dịch: Một trong những câu hỏi mình luôn gặp phải là mọi người đều muốn "hiểu" một tác phẩm, một bản nhạc cổ điển, một tác phẩm điêu khắc, một bức tranh trừu tượng,... Và dù có giải thích rằng chúng ta không cần hiểu thì mọi người vẫn luôn băn khoăn. Một tác phẩm nghệ thuật thường vốn không mang nhiều nội dung ngoài vẻ đẹp của nó, trong âm nhạc là giai điệu (lời hát chỉ là một phần rất phụ), trong tạo hình thì là đường nét và bố cục. Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật bằng cái nguyên sơ của một đứa trẻ. Thật trớ trêu khi càng có nhiều tri thức, chúng ta lại càng khó tiếp thu nghệ thuật vì suy nghĩ quá nhiều. Tác phẩm của Susan Sontag đã được dịch ra tiếng Việt thì có "Bàn về nhiếp ảnh" do Trịnh Lữ dịch. Một quyển sách mà mọi người yêu nhiếp ảnh hay chỉ thích xem ảnh cũng nên đọc. Và bài tiểu luận "Chống diễn giải" này mình cho rằng với những người nào muốn thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, hay luôn trăn trở về việc để "hiểu" nghệ thuật thì cũng nên đọc. Vừa để c
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.