Hôm nay,  

Trương Chi, đâu bóng thuyền Văn Cao?

10/10/202500:00:00(Xem: 1519)

Văn Cao Trương Chi là người hát hay hoặc thổi sáo hay?
 
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm?

Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?

Kịch tính trong ca khúc.

Nhạc sĩ sử dụng “kịch tính” vào ca khúc với mục đích khơi dậy những cảm xúc mạnh mẽ, căng thẳng, gây chú ý và thay đổi được khí hậu êm ả du dương, hoặc ngược lại. Thể loại này được nhạc sĩ Richard Warner phát triển rất thành công trong tác phẩm Quiet Heart and Spirit Wind. Mang kịch tính vào âm nhạc là gia tăng và điều hành cườntg độ, nhịp độ, giai điệu để thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, với sự thay đổi đột ngột.

Chúng ta sẽ thấy bằng đôi tai, Văn Cao dẫn hành nhạc từ đầu, “Một chiều xưa trăng nước chưa thảnh thơi…”, cho đến “Bao tiếng ca ru mùa thu, bằng giai điệu êm ả khóa Re thứ (tông nhạc). Rồi đột ngột ông chuyển sang khóa Sol trưởng với tiết tấu dồn dập. Đến câu “Đò ơi, đêm nay…” ông chuyển về lại D thứ, hành nhạc phù hợp với lời tâm sự, rồi bất ngờ ông cho vào những nốt F thăng và B bình, hóa D thứ thành ra D trưởng, để bắt vào G trưởng: “Ngồi đây, ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…” Chỉ một câu G trưởng để vạch ra tâm sự riêng một góc mình. Liền sau đó ông trở về với khóa D thứ để kết thúc, với một chút than trách rồi tự hỏi, bóng thuyền Trương Chi ở đâu.

Ngoại trừ, những thay đổi với mục đích truyền đạt kịch tính, trong phần đầu tuy dài nhưng ông thay đổi tiết tấu của câu nhạc khiến cho tai nghe du dương mà không nhàm chán. Văn Cao chứng tỏ khả năng thâm hiểu nhạc lý và thuần thục cách sử dụng để tạo cảm giác và cảm xúc. Nghệ thuật của nhạc trong ca khúc là giai điệu. Đó là một đoàn tàu chợ chạy chậm rãi hoặc một chuyến tàu tốc hành, chở những toa hàng chữ nghĩa chứa cảm xúc ghé đến sân ga những tâm hồn thưởng ngoạn. Mỗi nhạc sĩ thành danh đều có phong cách sáng tác giai điệu riêng, mà người nghe khó lầm lẫn. Nếu không có giọng nói riêng đó, người làm nhạc vô tình mượn câu này của Trịnh Công Sơn, câu kia của Anh Bằng, câu nọ của Phạm Duy, kết hợp với nhau thành một ca khúc mang chất lượng thập cẩm. Ví dụ như nghe nhạc Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An… Không cần biết trước tên tác giả, cũng có thể nhận ra.

Tận cùng của sáng tác nhạc là sáng tác giọng nói riêng của mình. Giống như lấy vợ hay lấy chồng, phải tìm ra của riêng, không thể dùng của chung.

Trong bài viết giới thiệu tập nhạc “Tình khúc mùa hè” của Thế Hùng, Văn Cao viết: “… tìm cái đẹp. Không phải dễ dàng thấy được mình. Muốn phá vỡ được quả trứng anh đã phải lao động nhiều khám phá nhiều trong thơ, nhạc, họa. Nhưng cái thìa tìm ra để làm vỡ quả trứng không phải dễ.”
Cấu trúc của Trương Chi.

Chúng ta lướt qua phần nhạc để vào phần chính là ca từ. Ca từ của Trương Chi chia làm bốn đoạn. Nội dung của ca từ khá dễ hiểu qua phân tích văn học, nhất là khi hầu hết người đọc đều biết diễn tiến của câu truyện cổ tích. Từ góc nhìn của chủ nghĩa Max và xã hội học, nội dung của ca từ lại có ngụ ý khác. 

Có hai Văn Cao qua ca khúc Trương chi.

Văn cao sáng tác ca khúc này từ năm 1940 nhưng không vừa ý với ca từ và giai điệu. Mãi đến năm 1942, ông mới hoàn tất bản nhạc sau khi trải qua cảnh nghèo đói, thất nghiệp và cha của ông qua đời. Năm đó, Văn Cao vừa 19 tuổi.

Qua cảnh ngộ và tâm tình Trương Chi, Văn Cao một là ai? Và văn Cao hai muốn nói điều gì?

Văn Cao và Trương Chi qua văn Học.


truong chi
Đoạn 1.

Tác giả khởi đầu bằng mô tả bối  cảnh truyện Trương Chi và Mỵ Nương. Ca từ mượt mà, trang trọng, đẹp và lãng mạn.

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ / Trầm trầm không gian mới rung thành tơ / Vương vất heo may hoa yến mong chờ / Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Rồi ông dẫn vào tâm sự của mình. Có phải Trương Chi là Văn cao? Đúng như vậy, năm 1994 khi ca sĩ Ánh Tuyết trò chuyện với nhạc sĩ, đã hỏi ông về nhân vật Trương Chi. Ông đã tiết lộ: “Trương Chi là tôi đấy.”

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang, / Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan / Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng / Đây đó từng song the hé đợi đàn.”

Câu “Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng” ám chỉ con chim gãy cánh chính là ông, rơi vào khúc nhạc vàng là ca khúc Trương Chi.

Đoạn 2.

Tác giả tiếp tục mở ra câu truyện nhưng khéo léo xen lẫn nhữnh hình ảnh và ý tưởng hiện tại, tâm tình của ông vào cảnh truyện và diễn tiến trong cổ tích.

“Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân / hò khoan mơ bóng con đò trôi / giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời
Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung, / Anh thương nhớ, / Oán trách cuộc từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng / Gió đưa câu ca về đâu? / Nhìn xuống đáy nước sông sâu / Thuyền anh đã chìm đâu!
Thương khúc nhạc xa vời / Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi. / Sương thu vừa buông xuống / Bóng cây ven bờ xa mờ xóa giòng sông.
Ai qua bến giang đầu tha thiết, / Nghe sông than mối tình Trương Chi / Dâng úa trăng khi về khuya, / Bao tiếng ca ru mùa thu.” 

Chất thơ thể hiện mạnh mẽ, sáng đẹp qua ca từ diễn đạt. Ông giới thiệu Mỵ Nương rồi đến Trương chi. Tiếp tục với câu chuyện buồn thương. Trương Chi đã chết “Thuyền anh đã chìm sâu.” Một không khí u buồn, man mác, tiếng tơ rơi, dâng úa trăng, mờ xóa giòng sông… và mang theo nỗi niềm.

Nỗi niềm?

Đúng, bất kỳ là sáng tác thơ, nhạc hay văn, đều phái sinh từ một nỗi niềm nào đó. Những sáng tác thiếu gốc này, thường bịa chuyện hay hư cấu phất phơ, lăn lóc theo chiều gió như ngọn cỏ bồng, vào trăm đường thất lạc.

Rời khỏi câu truyện, “Ai qua bến giang đầu,” nghe nhắc lại chuyện tình cổ lụy. Văn Cao không kể chuyện trái tim Trương Chi trở thành chén trà để vỡ tan vì giọt nước mắt của Mỵ Nương. Ông ngừng ở đó, không có kết cuộc, dĩ nhiên là có ngụ ý.

Tất cả những ngụ ý, cảm xúc của tác giả thể hiện trong đoạn 3 và đoạn 4.

3.
“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn / Còn nghe như ai nức nở và than, / Trầm vút tiếng gió mưa / Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn / Về phương xa ai nức nở và than, / Cùng với tiếng gió vương, / Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.”
Cảm xúc buồn bã, thất lạc, mất mát, băn khoăn, có thể cảm nhận rất dễ dàng qua những câu hát. Câu hỏi: “ai có buồn chăng?” là hỏi ai? Người nghe? Không phải. Ông tự hỏi ông có buồn không trong một cảnh ngộ như vậy. Nhưng câu hỏi này không phải là câu vấn mà là câu đáp.
Ngụ ý cũng có thể nắm bắt, đây là tâm sự của Văn Cao trong giai đoạn đó.

4.
Đoạn này, tâm sự của ông càng rõ ý. Ngồi gõ ván thuyền, dưới trăng đánh nhịp để ca, trái đất là của riêng mình. Tỏ lộ hào khí của một người thất thời thất chí. Hình ảnh của Lý Bạch, của những tài năng bị thất sủng, cùng túng với tấm lòng ‘nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ. (Hồ Trường)

“Đò ơi! đêm nay dòng sông Thương dâng cao / Mà ai hát dưới trăng ngà / Ngồi đây ta gõ ván thuyền, / Ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu / Trách ai khinh nghèo quên nhau, / Đôi lứa bên giang đầu. / Người ra đi với cuộc phân ly, / Đâu bóng thuyền Trương Chi?”

Vào lúc kết, ông chấm dứt bằng tứ văn: Cùng một giang đầu, sao lại khinh nghèo mà quên nhau. Ai vậy? Có phải ám chỉ một người tình xưa nào không?
Có người nói rằng không. Văn Cao không có nhiều thất tình và được tình như bạn của ông, Phạm Duy. Năm 1993. Khi được nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã hỏi về cuộc đời tình ái, ông nói; Tôi không được như anh Phạm Duy, anh ấy có nhiều quá, mà tôi chỉ có một. Có lần có người hỏi tôi về những mối tình, tôi mới nói là tôi làm gì có mấy cái tình, mà nếu có thì cũng toàn là tình mộng mơ cả chứ không thành người tình.”

Có người nói có. Họ cho rằng, trước đó, Văn Cao đã có mối tình với cô Hoàng Oanh, sau là vợ của nhạc sĩ Hoàng Quí. Nhưng không thành và ông đã viết ca khúc “Bến Xuân” năm 1942 như một lưu tích. Phạm Duy tham dự vào việc viết ca từ với Văn Cao. Tác giả cũng hoàn tất “Trương Chi” trong năm 1942. Hoàng Oanh là tiểu thư con nhà giàu. Ca sĩ Kim Tiêu đã từng mang lễ vật đến hỏi cưới Hoàng Oanh nhưng thất bại vì gia đình nhà gái thách cưới quá cao. Văn Cao còn nghèo hơn cả Kim Tiêu. Có lẽ. “trách ai khinh nghèo quên nhau” cũng là tâm sự của Văn Cao.

Có người khác lý luận, không phải vậy. Văn Cao và Hoàng Oanh không chính thức là tình nhân dù “tình trong như đã, mặt ngoài còn e.” Và lý do, Văn Cao không tiến đến vì “… mối tình của Văn Cao và Hoàng Oanh không thành cũng một phần bởi Văn Cao – vốn là một con người cao thượng, luôn nghĩ đến hai người bạn thân của mình, ông không muốn làm “kẻ ngáng đường” (Phạm Vũ kể, Giai thoại về mối tình cao thượng, dang dở.) Kim Tiêu và Hoàng Quí, hai người bạn này đều say mê Hoàng Oanh.

Không lý nào một người cao thượng như vậy lại oán trách người tình? Vả lại, Văn Cao chưa chính thức tỏ tình thì lào sao biết bị từ chối?

Từ những giải mã không minh bạch này, chúng ta có thể giải mã Trương Chi qua một khía cạnh khác.

Văn Cao và Trương Chi trong thời cuộc.

Theo góc nhìn của chủ nghĩa phê bình Max và chủ nghĩa xã hội. Đoạn 1 và 2 liên quan nhiều đến cổ tích dù truyện cổ tích là một ẩn dụ văn chương. Đoạn 3 và 4 mới là tâm tình của Văn Cao.

Văn Cao lớn lên trong thời loạn, gia nhập vào phong trào kháng chiến chống Pháp. Tuổi 19 là tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết và hào dũng, vì sao Trương Chi, hình ảnh Văn Cao, thai nghén trong chiều dài hai năm mới ra đời?

Chúng ta thấy được sự đứt đoạn giữa hai đoạn 1, 2 và hai đoạn 3 và 4, chẳng những qua ý tứ của ca từ mà còn cách biệt bởi cách hành nhạc. Qua sự khác biệt này, tác giả muốn ám chỉ một tâm sự khác. Đoạn 3 và 4 là một ẩn dụ thứ hai ngụ ý về một gia đoạn sống.

Ca từ trong đạn 3 mở ra một bối cảnh thời thế: Trong khi gió mưa đang lạnh ướt nghệ thuật (cung đàn), nghe ra tiếng than thở, tiếng khóc của những người đang hứng chịu bão mưa, có lẽ thất vọng nhất là những tâm hồn nghệ sĩ giữa cơn giông tố. Ông mô tả qua những biểu tượng về thời cuộc trong màu sắc thê lương, hỗn loạn mà người dân phải gánh chịu. Rồi, ai có buồn khi nghe tiếng nước “róc rách”?

Giữa cơn mưa gió lớn mà nghe róc rách? Trong ầm ĩ của đất trời náo động, người có tâm sự ấy lắng nghe một dòng nước nhỏ, ngụ ý, nghe được một thứ gì đó nhỏ nhoi mà riêng tư. Thứ đó róc rách khiến lòng bâng khuâng suốt đêm, rồi thứ đó lấp lánh thành một ẩn dụ: bóng đò xưa.

Đoạn 4 mở ra với những lời lời bày tỏ nội tâm và chí khí của kẻ làm trai trong thời chiến, của một tài năng không được trọng dụng, của một xã hội bão tố nhận chìm thân thế con người, của từ lòng thất vọng trồi lên những ước mơ.

“Ngồi đây ta gõ …” Gõ để giữ nhịp nhưng đồng thời gõ để hỏi, gõ để gây chú ý, “ai đang hát dưới trăng ngà”. Ai mà hào khí vùi dập muốn dành lấy cả trái đất để một mình hiu quạnh.

Ai đã cùng nhau lội nước đến đầu sông? Mà vì tiền tài danh vọng đã quên tình bạn cũ? Dường như ông ám chỉ những đồng chí cùng gian khổ chống Pháp rồi khi bước lên những bậc thềm cao đã quên những công lao và những hy sinh của đồng đội.

“Đàn đêm thâu” là nỗi lòng thao thức, “kinh nghèo” là bội bạc, “đôi lứa” tình đồng đội, “phân ly” niềm thất vọng.

Tôi không thích thú lắm với cụm từ “bóng thuyền” trong câu kết, “Đâu bóng thuyền Trương Chi?” Câu hỏi chấm hết đó có vẻ nhẹ nhàng, hờ hững, cam chịu đối với hào khí hát dưới trăng, gõ tiếng động, coi rẻ cõi đời. Hai chữ “bóng thuyền” nhắc lại cổ tích, khơi dậy sự thất bại, thất vọng của Trương Chi, không làm được gì, ngoài khổ đau cho đến chết. Chết rồi còn để trái tim dù là ngọc quí để làm gì? Đó là lý do Văn Cao không mô tả phần cuối của câu chuyện cổ tích mà chuyển qua tâm sự.

Nhưng có lẽ đó là cá tính, ông đã tiên đoán được cuộc sống của ông, cam chịu cho đến ngày cuối đời. Chỉ còn những ca khúc vàng gửi lại cho hậu thế. Ai qua bến giang đầu, nghe tiếng ca tha thiết ru mùa thu. Nhìn xuống đáy sông sâu, thuyền đã chìm sâu, đâu bóng thuyền Trương Chi? Đâu cuộc đời Văn Cao?
 
Ngu Yên
Houston, tháng 9 năm 2025.
 
Ghi:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng ta có hai nhạc sĩ lớn. Mỗi người tài hoa mỗi kiểu. Tuy không chính thức, nhưng chúng ta cũng có thể nhận ra, hai nhạc sĩ này so tài với nhau. Khi Văn Cao viết ca khúc “Thiên Thai”, Phạm Duy viết “Tiếng Sáo Thiên Thai.” Khi Văn Cao viết “Trương Chi,” Phạm Duy viết “Khối Tình Trương Chi.” Cả hai bài của Phạm Duy đều không nghệ thuật bằng hai bài của Văn Cao. Nhưng về sau, với trường ca “Con Đường Cái Quan” và trường ca “Mẹ Việt Nam”, Phạm Duy đã vượt trội hơn trường ca “Sông Lô” của Văn Cao về mặt nghệ thuật sáng tác cùng với quan điểm và thông điệp.
Nhận xét như vậy cũng không được công bằng vì Văn Cao sáng tác “Sông Lô” trong một thời gian ngắn để kịp vinh danh chiến công chiến thắng quân Pháp ở Sông Lô năm 1947. Trong khi, Phạm Duy sáng tác “Com Đường Cái Quan” từ 1954-1960 và “Mẹ Việt Nam” từ 1963-1964. Phạm Duy có lợi thế đã về trong Nam, nhiều tự do sáng tác và bổ sung học thuật. Trường ca “Con Đường Cái Quan” viết theo cấu trúc chiều dài trên con đường từ Bắc vào Nam bao gồm mười chín khúc. Trong khi trường ca “Mẹ Việt Nam” viết theo cấu trúc mảnh rời, tất cả là hai mươi hai ca khúc. Về sau, trong một khí hậu khắc nghiệt, Văn Cao không viết một trường ca nào khác, thành thử chúng ta không có dịp so đo cho đúng đắn.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
Nhận được tin buồn nhà thơ Phan Xuân Sinh sau một cơn bạo bệnh, nhập viện vì bệnh tim mạch, hôn mê sau 10 ngày vô phương cứu chữa đã qua đời tại Texas ngày 28/2/2024. Thọ 76 tuổi...
Từ hồi trẻ, tôi đã có thói quen là những ngày giáp Tết thì bắt đầu chọn một vài bài nhạc xuân để nghe; và trong những ngày đầu năm thì sẽ đọc một cuốn sách. Thói quen “khai sách đầu xuân” có thêm một chi tiết khi tuổi quá độ “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”: đọc một cuốn sách có chủ đề về Phật Giáo. Trong năm Giáp Thìn này, tôi chọn cuốn “Từ Mặc Chiếu Đến Như Huyễn” của một tác giả cũng tuổi con rồng: cư sĩ Nguyên Giác, cũng là nhà báo Phan Tấn Hải. Giới thiệu “tác giả, tác phẩm” dài dòng như vậy, nhưng đối với tôi, người viết đơn giản chỉ là anh Hải, một người anh thân thiết, đã từng có một thời ngồi gõ bàn phím chung trong tòa soạn Việt Báo ở phố Moran. Đọc sách của anh Hải, tôi cũng không dám “điểm sách” hay “phê bình sách”, vì có thể sẽ bị anh phán rằng “… viết như cậu thì chỉ… làm phí cây rừng thôi!” Bài viết này chỉ ghi lại một vài niềm hứng khởi khi được tặng sách, khi đọc qua cuốn sách mà cái tựa cũng đã chạm sâu thẳm vào những điều bản thân đang chiêm nghiệm.
Chúng ta thường được nghe nói, rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Tuy nhiên, Thượng đế thì không ai thấy, nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn nhân vật cổ sử đó (nếu thật sự là có Thượng Đế): đó là những trận mưa bom. Người dân Ukraine và Palestine ý thức rất rõ, vì đó là chuyện hằng ngày của họ: mọi người đều bình đẳng khi đứng dưới mưa bom. Già, trẻ, nam, nữ, trí thức, nông dân, nhà thơ, họa sĩ… đều bình đẳng: khi bom rơi trúng là chết. Cuộc chiến giữa người Palestine muốn giữ đất và người Israel từ nơi xa tới nhận phần đất mới do quốc tế trao tặng từ đất Palestine đã kéo dài nhiều thập niên. Bây giờ căng thẳng mới nhất là ở Gaza, cuộc chiến đang tiếp diễn giữa nhóm Hamas, thành phần chủ trương bạo lực của dân Palestine, và quân Israel. Trong những người chết vì bom Israel, có những người hiền lành nhất, đó là trẻ em và phụ nữ.
Thông thường khi nghe hai chữ “cô đơn” chúng ta liên tưởng đến trạng thái tinh thần yếm thế, tâm tư buồn bã, ngày tháng chán chường, thậm chí, cuộc đời trống rỗng. Có lẽ, vì ý nghĩa từ điển của từ vựng này; có lẽ, vì ảnh hưởng văn chương nghệ thuật; có lẽ vì chúng ta đã từ lâu tin như thế, mà không bao giờ đặt một nghi vấn nào. Đây là định nghĩa của “cô đơn” qua Bách thư toàn khoa Wikipedia: “Cô đơn là một trạng thái cảm xúc phức tạp và thường gây khó chịu, đáp ứng lại với sự cách ly xã hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo lắng về sự thiếu kết hợp hay thiếu giao tiếp với những cá nhân khác, cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Như vậy, người ta có thể cảm thấy cô đơn ngay cả khi xung quanh có nhiều người. Nguyên nhân của sự cô đơn rất đa dạng, bao gồm các vấn đề về xã hội, tâm thần, tình cảm và các yếu tố thể chất.
Vào những ngày cuối năm 2023, khi mà người Mỹ bắt đầu chuẩn bị cho những bữa tiệc Giáng Sinh, năm mới, bàn tán chuyện mua sắm, thì chiến sự giữa Isarel và Hamas chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Trên vùng đất thánh của cả ba tôn giáo lớn, những kiếp người lầm than chỉ mong có một ngày hòa bình, một ngày không bom đạn. Cũng vào những ngày cuối năm 2023, người Mỹ bắt đầu nhìn thấy một viễn cảnh Ukraine bị bỏ rơi, phải chấp nhận đổi đất lấy hòa bình. Nhiều người Việt cho rằng Ukraine sắp là một Việt Nam Cộng Hòa khác, một đồng minh bị Mỹ bỏ rơi, nhưng sau một thời gian có thể nhanh hơn nhiều.
Vào ngày 6 Tháng 12, giới truyền thông Mỹ đồng loạt đưa tin Taylor Swift, nữ ca nhạc sĩ đầy tài năng, được tạp chí Time vinh danh là “Nhân Vật Của Năm 2023” (Person of The Year). Đây là lần đầu tiên một ca nhạc sĩ được bình chọn danh hiệu giá trị này, càng nhấn mạnh thêm sự thành công và sức ảnh hưởng của cô gái hát nhạc pop-đồng quê. Trước đây, nhiều nhân vật được Time chọn từ năm 1927 là các tổng thống Hoa Kỳ, những nhà hoạt động chính trị lỗi lạc.
Bốn câu thơ này được bố tôi (nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ghi lại như một giai thoại văn học, làm lời tựa cho tác phẩm Mình Lại Soi Mình. Bố tôi kể rằng khoảng năm 1984, phong trào vượt biên đang rầm rộ. Một người bạn mới gặp đó, mà hôm sau đã vượt biên rồi! Vào một ngày đẹp trời, bố tôi đạp xe từ Sài Gòn qua Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ để thăm chú Nguyễn Đình Toàn. Đến giữa cầu thì thấy chú đang đạp xe theo chiều ngược lại, cũng định đến thăm mình ở căn nhà hẻm Thành Thái. Hai người bạn gặp nhau giữa cầu. Có lẽ chú Toàn đã nhìn những cánh đồng lúa bên Thủ Thiêm, tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng làm ra bốn câu thơ này.
Hôm đó, một chàng đương từ Sài Gòn đạp xe tới thăm bạn ở Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ. Chàng vừa đạp xe tới cầu thì gặp bạn cũng đương từ bên kia cầu phóng sang dự định về Sài Gòn thăm mình...
Có một người sống trong thành phố, bận rộn, tranh đấu, xông pha, lăn lộn giữa sự phức tạp như một sinh trùng bị mắc lưới nhện vẫn phải vùng vẫy để sống, để chờ ngày bị ăn thịt. Một hôm, ông ta đi du lịch, thấy một phong cảnh đẹp đến mức lặng người, cảm thấy siêu thoát, nhận ra đạo lý của mục tiêu tại sao con người tồn tại. Nhưng vẫn phải trở về phố cũ, y như Lưu Nguyễn phải trở về làng cũ vì những lý do chính xác, vì lẽ phải của những bổn phận làm người. Ông vẽ lại phong cảnh đó trên một vách tường lớn. Mỗi khi đời giông bão, mỗi khi hồn âm u, mỗi khi trí khổ não, ông đến trước bức tranh, nhìn ngắm, ngẫm nghĩ để tìm thấy sự thanh thản, sở hữu cảm giác bình an. Ông nghe được tiếng hát “chiều nay vang lừng trên sóng.” Ông thấy được “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.” Hồn ông “lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.” Những giờ phút tĩnh lặng đó, tâm trí ông “Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quên … là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi…”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.