Hôm nay,  

Trương Chi, đâu bóng thuyền Văn Cao?

10/10/202500:00:00(Xem: 1523)

Văn Cao Trương Chi là người hát hay hoặc thổi sáo hay?
 
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm?

Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?

Kịch tính trong ca khúc.

Nhạc sĩ sử dụng “kịch tính” vào ca khúc với mục đích khơi dậy những cảm xúc mạnh mẽ, căng thẳng, gây chú ý và thay đổi được khí hậu êm ả du dương, hoặc ngược lại. Thể loại này được nhạc sĩ Richard Warner phát triển rất thành công trong tác phẩm Quiet Heart and Spirit Wind. Mang kịch tính vào âm nhạc là gia tăng và điều hành cườntg độ, nhịp độ, giai điệu để thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, với sự thay đổi đột ngột.

Chúng ta sẽ thấy bằng đôi tai, Văn Cao dẫn hành nhạc từ đầu, “Một chiều xưa trăng nước chưa thảnh thơi…”, cho đến “Bao tiếng ca ru mùa thu, bằng giai điệu êm ả khóa Re thứ (tông nhạc). Rồi đột ngột ông chuyển sang khóa Sol trưởng với tiết tấu dồn dập. Đến câu “Đò ơi, đêm nay…” ông chuyển về lại D thứ, hành nhạc phù hợp với lời tâm sự, rồi bất ngờ ông cho vào những nốt F thăng và B bình, hóa D thứ thành ra D trưởng, để bắt vào G trưởng: “Ngồi đây, ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…” Chỉ một câu G trưởng để vạch ra tâm sự riêng một góc mình. Liền sau đó ông trở về với khóa D thứ để kết thúc, với một chút than trách rồi tự hỏi, bóng thuyền Trương Chi ở đâu.

Ngoại trừ, những thay đổi với mục đích truyền đạt kịch tính, trong phần đầu tuy dài nhưng ông thay đổi tiết tấu của câu nhạc khiến cho tai nghe du dương mà không nhàm chán. Văn Cao chứng tỏ khả năng thâm hiểu nhạc lý và thuần thục cách sử dụng để tạo cảm giác và cảm xúc. Nghệ thuật của nhạc trong ca khúc là giai điệu. Đó là một đoàn tàu chợ chạy chậm rãi hoặc một chuyến tàu tốc hành, chở những toa hàng chữ nghĩa chứa cảm xúc ghé đến sân ga những tâm hồn thưởng ngoạn. Mỗi nhạc sĩ thành danh đều có phong cách sáng tác giai điệu riêng, mà người nghe khó lầm lẫn. Nếu không có giọng nói riêng đó, người làm nhạc vô tình mượn câu này của Trịnh Công Sơn, câu kia của Anh Bằng, câu nọ của Phạm Duy, kết hợp với nhau thành một ca khúc mang chất lượng thập cẩm. Ví dụ như nghe nhạc Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An… Không cần biết trước tên tác giả, cũng có thể nhận ra.

Tận cùng của sáng tác nhạc là sáng tác giọng nói riêng của mình. Giống như lấy vợ hay lấy chồng, phải tìm ra của riêng, không thể dùng của chung.

Trong bài viết giới thiệu tập nhạc “Tình khúc mùa hè” của Thế Hùng, Văn Cao viết: “… tìm cái đẹp. Không phải dễ dàng thấy được mình. Muốn phá vỡ được quả trứng anh đã phải lao động nhiều khám phá nhiều trong thơ, nhạc, họa. Nhưng cái thìa tìm ra để làm vỡ quả trứng không phải dễ.”
Cấu trúc của Trương Chi.

Chúng ta lướt qua phần nhạc để vào phần chính là ca từ. Ca từ của Trương Chi chia làm bốn đoạn. Nội dung của ca từ khá dễ hiểu qua phân tích văn học, nhất là khi hầu hết người đọc đều biết diễn tiến của câu truyện cổ tích. Từ góc nhìn của chủ nghĩa Max và xã hội học, nội dung của ca từ lại có ngụ ý khác. 

Có hai Văn Cao qua ca khúc Trương chi.

Văn cao sáng tác ca khúc này từ năm 1940 nhưng không vừa ý với ca từ và giai điệu. Mãi đến năm 1942, ông mới hoàn tất bản nhạc sau khi trải qua cảnh nghèo đói, thất nghiệp và cha của ông qua đời. Năm đó, Văn Cao vừa 19 tuổi.

Qua cảnh ngộ và tâm tình Trương Chi, Văn Cao một là ai? Và văn Cao hai muốn nói điều gì?

Văn Cao và Trương Chi qua văn Học.


truong chi
Đoạn 1.

Tác giả khởi đầu bằng mô tả bối  cảnh truyện Trương Chi và Mỵ Nương. Ca từ mượt mà, trang trọng, đẹp và lãng mạn.

“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ / Trầm trầm không gian mới rung thành tơ / Vương vất heo may hoa yến mong chờ / Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Rồi ông dẫn vào tâm sự của mình. Có phải Trương Chi là Văn cao? Đúng như vậy, năm 1994 khi ca sĩ Ánh Tuyết trò chuyện với nhạc sĩ, đã hỏi ông về nhân vật Trương Chi. Ông đã tiết lộ: “Trương Chi là tôi đấy.”

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang, / Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan / Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng / Đây đó từng song the hé đợi đàn.”

Câu “Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng” ám chỉ con chim gãy cánh chính là ông, rơi vào khúc nhạc vàng là ca khúc Trương Chi.

Đoạn 2.

Tác giả tiếp tục mở ra câu truyện nhưng khéo léo xen lẫn nhữnh hình ảnh và ý tưởng hiện tại, tâm tình của ông vào cảnh truyện và diễn tiến trong cổ tích.

“Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân / hò khoan mơ bóng con đò trôi / giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời
Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung, / Anh thương nhớ, / Oán trách cuộc từ ly não nùng.
Đò trăng cắm giữa sông vắng / Gió đưa câu ca về đâu? / Nhìn xuống đáy nước sông sâu / Thuyền anh đã chìm đâu!
Thương khúc nhạc xa vời / Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi. / Sương thu vừa buông xuống / Bóng cây ven bờ xa mờ xóa giòng sông.
Ai qua bến giang đầu tha thiết, / Nghe sông than mối tình Trương Chi / Dâng úa trăng khi về khuya, / Bao tiếng ca ru mùa thu.” 

Chất thơ thể hiện mạnh mẽ, sáng đẹp qua ca từ diễn đạt. Ông giới thiệu Mỵ Nương rồi đến Trương chi. Tiếp tục với câu chuyện buồn thương. Trương Chi đã chết “Thuyền anh đã chìm sâu.” Một không khí u buồn, man mác, tiếng tơ rơi, dâng úa trăng, mờ xóa giòng sông… và mang theo nỗi niềm.

Nỗi niềm?

Đúng, bất kỳ là sáng tác thơ, nhạc hay văn, đều phái sinh từ một nỗi niềm nào đó. Những sáng tác thiếu gốc này, thường bịa chuyện hay hư cấu phất phơ, lăn lóc theo chiều gió như ngọn cỏ bồng, vào trăm đường thất lạc.

Rời khỏi câu truyện, “Ai qua bến giang đầu,” nghe nhắc lại chuyện tình cổ lụy. Văn Cao không kể chuyện trái tim Trương Chi trở thành chén trà để vỡ tan vì giọt nước mắt của Mỵ Nương. Ông ngừng ở đó, không có kết cuộc, dĩ nhiên là có ngụ ý.

Tất cả những ngụ ý, cảm xúc của tác giả thể hiện trong đoạn 3 và đoạn 4.

3.
“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn / Còn nghe như ai nức nở và than, / Trầm vút tiếng gió mưa / Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn / Về phương xa ai nức nở và than, / Cùng với tiếng gió vương, / Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.”
Cảm xúc buồn bã, thất lạc, mất mát, băn khoăn, có thể cảm nhận rất dễ dàng qua những câu hát. Câu hỏi: “ai có buồn chăng?” là hỏi ai? Người nghe? Không phải. Ông tự hỏi ông có buồn không trong một cảnh ngộ như vậy. Nhưng câu hỏi này không phải là câu vấn mà là câu đáp.
Ngụ ý cũng có thể nắm bắt, đây là tâm sự của Văn Cao trong giai đoạn đó.

4.
Đoạn này, tâm sự của ông càng rõ ý. Ngồi gõ ván thuyền, dưới trăng đánh nhịp để ca, trái đất là của riêng mình. Tỏ lộ hào khí của một người thất thời thất chí. Hình ảnh của Lý Bạch, của những tài năng bị thất sủng, cùng túng với tấm lòng ‘nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ. (Hồ Trường)

“Đò ơi! đêm nay dòng sông Thương dâng cao / Mà ai hát dưới trăng ngà / Ngồi đây ta gõ ván thuyền, / Ta ca trái đất còn riêng ta.
Đàn đêm thâu / Trách ai khinh nghèo quên nhau, / Đôi lứa bên giang đầu. / Người ra đi với cuộc phân ly, / Đâu bóng thuyền Trương Chi?”

Vào lúc kết, ông chấm dứt bằng tứ văn: Cùng một giang đầu, sao lại khinh nghèo mà quên nhau. Ai vậy? Có phải ám chỉ một người tình xưa nào không?
Có người nói rằng không. Văn Cao không có nhiều thất tình và được tình như bạn của ông, Phạm Duy. Năm 1993. Khi được nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã hỏi về cuộc đời tình ái, ông nói; Tôi không được như anh Phạm Duy, anh ấy có nhiều quá, mà tôi chỉ có một. Có lần có người hỏi tôi về những mối tình, tôi mới nói là tôi làm gì có mấy cái tình, mà nếu có thì cũng toàn là tình mộng mơ cả chứ không thành người tình.”

Có người nói có. Họ cho rằng, trước đó, Văn Cao đã có mối tình với cô Hoàng Oanh, sau là vợ của nhạc sĩ Hoàng Quí. Nhưng không thành và ông đã viết ca khúc “Bến Xuân” năm 1942 như một lưu tích. Phạm Duy tham dự vào việc viết ca từ với Văn Cao. Tác giả cũng hoàn tất “Trương Chi” trong năm 1942. Hoàng Oanh là tiểu thư con nhà giàu. Ca sĩ Kim Tiêu đã từng mang lễ vật đến hỏi cưới Hoàng Oanh nhưng thất bại vì gia đình nhà gái thách cưới quá cao. Văn Cao còn nghèo hơn cả Kim Tiêu. Có lẽ. “trách ai khinh nghèo quên nhau” cũng là tâm sự của Văn Cao.

Có người khác lý luận, không phải vậy. Văn Cao và Hoàng Oanh không chính thức là tình nhân dù “tình trong như đã, mặt ngoài còn e.” Và lý do, Văn Cao không tiến đến vì “… mối tình của Văn Cao và Hoàng Oanh không thành cũng một phần bởi Văn Cao – vốn là một con người cao thượng, luôn nghĩ đến hai người bạn thân của mình, ông không muốn làm “kẻ ngáng đường” (Phạm Vũ kể, Giai thoại về mối tình cao thượng, dang dở.) Kim Tiêu và Hoàng Quí, hai người bạn này đều say mê Hoàng Oanh.

Không lý nào một người cao thượng như vậy lại oán trách người tình? Vả lại, Văn Cao chưa chính thức tỏ tình thì lào sao biết bị từ chối?

Từ những giải mã không minh bạch này, chúng ta có thể giải mã Trương Chi qua một khía cạnh khác.

Văn Cao và Trương Chi trong thời cuộc.

Theo góc nhìn của chủ nghĩa phê bình Max và chủ nghĩa xã hội. Đoạn 1 và 2 liên quan nhiều đến cổ tích dù truyện cổ tích là một ẩn dụ văn chương. Đoạn 3 và 4 mới là tâm tình của Văn Cao.

Văn Cao lớn lên trong thời loạn, gia nhập vào phong trào kháng chiến chống Pháp. Tuổi 19 là tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết và hào dũng, vì sao Trương Chi, hình ảnh Văn Cao, thai nghén trong chiều dài hai năm mới ra đời?

Chúng ta thấy được sự đứt đoạn giữa hai đoạn 1, 2 và hai đoạn 3 và 4, chẳng những qua ý tứ của ca từ mà còn cách biệt bởi cách hành nhạc. Qua sự khác biệt này, tác giả muốn ám chỉ một tâm sự khác. Đoạn 3 và 4 là một ẩn dụ thứ hai ngụ ý về một gia đoạn sống.

Ca từ trong đạn 3 mở ra một bối cảnh thời thế: Trong khi gió mưa đang lạnh ướt nghệ thuật (cung đàn), nghe ra tiếng than thở, tiếng khóc của những người đang hứng chịu bão mưa, có lẽ thất vọng nhất là những tâm hồn nghệ sĩ giữa cơn giông tố. Ông mô tả qua những biểu tượng về thời cuộc trong màu sắc thê lương, hỗn loạn mà người dân phải gánh chịu. Rồi, ai có buồn khi nghe tiếng nước “róc rách”?

Giữa cơn mưa gió lớn mà nghe róc rách? Trong ầm ĩ của đất trời náo động, người có tâm sự ấy lắng nghe một dòng nước nhỏ, ngụ ý, nghe được một thứ gì đó nhỏ nhoi mà riêng tư. Thứ đó róc rách khiến lòng bâng khuâng suốt đêm, rồi thứ đó lấp lánh thành một ẩn dụ: bóng đò xưa.

Đoạn 4 mở ra với những lời lời bày tỏ nội tâm và chí khí của kẻ làm trai trong thời chiến, của một tài năng không được trọng dụng, của một xã hội bão tố nhận chìm thân thế con người, của từ lòng thất vọng trồi lên những ước mơ.

“Ngồi đây ta gõ …” Gõ để giữ nhịp nhưng đồng thời gõ để hỏi, gõ để gây chú ý, “ai đang hát dưới trăng ngà”. Ai mà hào khí vùi dập muốn dành lấy cả trái đất để một mình hiu quạnh.

Ai đã cùng nhau lội nước đến đầu sông? Mà vì tiền tài danh vọng đã quên tình bạn cũ? Dường như ông ám chỉ những đồng chí cùng gian khổ chống Pháp rồi khi bước lên những bậc thềm cao đã quên những công lao và những hy sinh của đồng đội.

“Đàn đêm thâu” là nỗi lòng thao thức, “kinh nghèo” là bội bạc, “đôi lứa” tình đồng đội, “phân ly” niềm thất vọng.

Tôi không thích thú lắm với cụm từ “bóng thuyền” trong câu kết, “Đâu bóng thuyền Trương Chi?” Câu hỏi chấm hết đó có vẻ nhẹ nhàng, hờ hững, cam chịu đối với hào khí hát dưới trăng, gõ tiếng động, coi rẻ cõi đời. Hai chữ “bóng thuyền” nhắc lại cổ tích, khơi dậy sự thất bại, thất vọng của Trương Chi, không làm được gì, ngoài khổ đau cho đến chết. Chết rồi còn để trái tim dù là ngọc quí để làm gì? Đó là lý do Văn Cao không mô tả phần cuối của câu chuyện cổ tích mà chuyển qua tâm sự.

Nhưng có lẽ đó là cá tính, ông đã tiên đoán được cuộc sống của ông, cam chịu cho đến ngày cuối đời. Chỉ còn những ca khúc vàng gửi lại cho hậu thế. Ai qua bến giang đầu, nghe tiếng ca tha thiết ru mùa thu. Nhìn xuống đáy sông sâu, thuyền đã chìm sâu, đâu bóng thuyền Trương Chi? Đâu cuộc đời Văn Cao?
 
Ngu Yên
Houston, tháng 9 năm 2025.
 
Ghi:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng ta có hai nhạc sĩ lớn. Mỗi người tài hoa mỗi kiểu. Tuy không chính thức, nhưng chúng ta cũng có thể nhận ra, hai nhạc sĩ này so tài với nhau. Khi Văn Cao viết ca khúc “Thiên Thai”, Phạm Duy viết “Tiếng Sáo Thiên Thai.” Khi Văn Cao viết “Trương Chi,” Phạm Duy viết “Khối Tình Trương Chi.” Cả hai bài của Phạm Duy đều không nghệ thuật bằng hai bài của Văn Cao. Nhưng về sau, với trường ca “Con Đường Cái Quan” và trường ca “Mẹ Việt Nam”, Phạm Duy đã vượt trội hơn trường ca “Sông Lô” của Văn Cao về mặt nghệ thuật sáng tác cùng với quan điểm và thông điệp.
Nhận xét như vậy cũng không được công bằng vì Văn Cao sáng tác “Sông Lô” trong một thời gian ngắn để kịp vinh danh chiến công chiến thắng quân Pháp ở Sông Lô năm 1947. Trong khi, Phạm Duy sáng tác “Com Đường Cái Quan” từ 1954-1960 và “Mẹ Việt Nam” từ 1963-1964. Phạm Duy có lợi thế đã về trong Nam, nhiều tự do sáng tác và bổ sung học thuật. Trường ca “Con Đường Cái Quan” viết theo cấu trúc chiều dài trên con đường từ Bắc vào Nam bao gồm mười chín khúc. Trong khi trường ca “Mẹ Việt Nam” viết theo cấu trúc mảnh rời, tất cả là hai mươi hai ca khúc. Về sau, trong một khí hậu khắc nghiệt, Văn Cao không viết một trường ca nào khác, thành thử chúng ta không có dịp so đo cho đúng đắn.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.