Hôm nay,  

Lê Đình Y Sa và VAALA – Hai Năm Thoáng Chốc Hai Lần Mười Năm

5/30/202500:00:00(View: 1512)
Loạt bài vinh danh Tháng Năm – Tháng Người Mỹ Gốc Á Thái Bình Dương.

Hình-chính-trang-nhất-VFF-Day1-Awards-LN-56
Lê Đình Y Sa cùng với các thiện nguyện viên của VAALA tại Lễ trao giải Viet Film Fest 2024 ở Bowers Museum, Santa Ana. Ảnh: VAALA.
 
 
Đêm 7/3/2025, trong khán phòng của Bowers Museum, một tiếng nói đậm chất “đài phát thanh” vang lên, dẫn dắt hàng trăm khán giả bên dưới bước vào đêm nhạc Mừng Sinh Nhật Khánh Ly 80 Tuổi. Một tháng sau, cũng tại Bowers Musem, người MC này bước lên sân khấu dẫn dắt những buổi hội luận về báo chí, văn học tại Hội Chợ Sách “Viet Book Fest” lần thứ 3 do Hội Văn Học và Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức. Cô cũng là Giám Đốc Điều Hành, người lèo lái con tàu VAALA 34 năm nay.

Đó là Lê Đình Y Sa, con gái của Y Dịch Lê Đình Điểu – người mà thưở sinh thời, nhà thơ Du Tử Lê viết về ông: “Từ một Lê Đình Điểu, nhà thơ, với bút hiệu Y Dịch, thuở học trò, qua tới một Lê Đình Điểu, nhà giáo, công chức, nhà báo, dịch giả, nhà hoạt động văn hóa, xã hội, chuyên viên tổ chức, phát thanh... Danh xưng nào, cũng đúng, và đồng thời, cũng không đầy đủ với Lê Đình Điểu.”

Nghệ thuật là hương hoa

VAALA-02
Lê Đình Y Sa trong một hoạt động của VAALA (Ảnh: VAALA)
 
Năm 1994, cô sinh viên Lê Đình Y Sa ra trường University of Southern California, trở thành một Dược sĩ. Đây là môn học “tự chọn” như cô nói: “Dược là môn mà mình lựa chọn, chứ không phải cha mẹ mong muốn. Ban đầu thì mẹ tôi muốn tôi học ngân hàng vì nghĩ là giờ giấc sẽ nhẹ nhàng hơn ngành nghề thuộc y khoa. Mẹ tôi là y tá nên bà muốn giờ làm việc của tôi ổn định hơn bà, không phải trực đêm, tăng ca.”

Tuy nhiên, cái giờ giấc “nhẹ nhàng” mong muốn ấy lại bị những hoạt động văn hóa, nghệ thuật ở vùng Little Saigon “đánh cắp.” Nói một cách dễ hiểu, dòng máu văn thơ, nghệ thuật của Y Dịch Lê Đình Điểu đã tưới tẩm tâm hồn con gái của ông tự khi nào. Từ nhỏ, ông đã đặt vào tay Y Sa cây đàn tranh truyền thống.

Khi còn ở Việt Nam, ông chở con gái đến học đàn với nhạc sĩ Thúy Hoan. “Nhờ bố đưa tôi đến cái duyên với đàn tranh. Nhà cô xa lắm nhưng ông vẫn chở tôi đi. Rồi sau đó ông mời cô Ngọc Châu, vợ của thầy Nguyễn Văn Đời, đến nhà dạy cho tôi cho đến khi cả nhà đi Pháp. Sang Pháp, ông lại dàn xếp cho tôi tiếp tục học đàn tranh với cô Đỗ Phương Oanh. Sang Mỹ thì tiếp tục với thầy Nguyễn Châu,” cô nói.

Có thể nói, tiếng đàn tranh réo rắc, mượt mà của dân tộc Việt chảy suốt tâm hồn của Lê Đình Y Sa từ khi còn bé đến khi trưởng thành, từ Việt Nam đến Pháp, lan tỏa đến Mỹ. Năm 1988, Y Sa là một trong những thành viên đầu tiên của Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng.

Đó là âm nhạc. Nói về văn chương, thi ca, thì cô con gái của Y Dịch Lê Đình Điểu đã được kề cận với những giới tinh hoa của văn học miền Nam cũng từ thưở nhỏ. Trước khi chính thức tham gia vào Hội Văn Học và Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) do bố của cô khởi xướng, cô đã tổ chức thư viện Lê Quí Đôn, sắp xếp những buổi nói chuyện của những nhà văn như Nguyễn Mộng Giác, Trần Xuân Hoàng, Đỗ Khiêm, Hoàng Khởi Phong... “Mỗi tối cuối tuần, có dịp thì mời các nhà văn đến đọc sách, rồi trò chuyện, trong khuôn khổ của nhóm bạn chứ không phổ biến ra cộng đồng,” cô nói.

Thế nhưng, tất cả những “di sản” về văn học nghệ thuật và cả các mối tương giao với những người muôn năm cũ mà cô thừa kế từ người bố, Lê Đình Y Sa vẫn hiểu rõ, “đó là những ‘hobbies'”.

“Để trở thành một nhạc sĩ hay một nhà văn phải có niềm đam mê mãnh liệt. Tôi không có được điều đó. Tôi thích như thích hương hoa của bộ môn đó, không nghĩ là mình đeo đuổi cả đời được. Tôi thích vì khi mình nghe một bài cổ nhạc hay một bài quan họ, hò Huế chẳng hạn, thì tôi ngưỡng mộ vì cảm nhận được cái hay của nó, vì được học âm nhạc dân tộc từ nhỏ. Nó khác với cái đam mê mà mình theo đuổi. Và còn phải có tài năng, khả năng nữa. Do đó, thôi tôi thấy mình nên dừng lại và thưởng thức hương hoa thôi,” cô nói và bật cười sau “bản tuyên bố” của chính mình.

Người ta hay nói, “Hoa sẽ tàn, nhưng hương sẽ còn lại mãi.” Cũng như theo Y Sa, chính vì mình làm những việc theo thói quen, sở thích nên nó sẽ đi theo mình suốt.
 
Một ngày không còn như mọi ngày
 
Các hoạt động của VAALA đã bị gián đoạn khoảng hai năm, khi Y Dịch Lê Đình Điểu ngã bệnh rồi qua đời năm 1999. Từ năm 2001 đến nay, thời khóa biểu của Dược sĩ Lê Đình Y Sa cũng theo đó mà thay đổi, cô nói:

“Một ngày, tôi đi làm công việc một dược sĩ vào lúc 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Sau khi làm cơm, ăn cơm xong thì tôi bắt đầu ngồi vào bàn làm việc để làm việc của VAALA. Khoảng 10 năm trở lại đây tôi làm việc 4 ngày/1 tuần, và dành trọn vẹn ngày thứ Hai cho những công việc liên quan đến VAALA, và tennis. Đó là cách tôi giữ sức khỏe cho mình.”

Dân gian xưa nay truyền miệng câu nói: “Có duyên có nợ.” Theo cách nói của Phật giáo, thì duyên lành làm cho con người gặp nhau, giữa biển người mênh mông như sao trên trời. Và chính cái nợ sẽ giữ người ta ở lại bên nhau. Nhưng đối với Lê Đình Y Sa và VAALA, tất cả dường như ngược lại. Cô giải thích:

“Ngược lại. Cái nợ thì mình nghĩ là bố mất năm 1999 vì ung thư, thì tôi nói với mẹ để tôi làm thiện nguyện cho VAALA trong hai năm. Đó là cái nợ. Mình muốn tri ân ông, vinh danh công việc của ông. Tôi nhớ buổi họp đầu tiên khi VAALA trở lại hoạt động, bác Vũ Duy Tự, một thành viên của VAALA nói rằng đừng để hội trôi vào quên lãng. Khi đó Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ, bác Tự, cô Phan Mỹ Sương quyết định kêu gọi các thành viên trở lại. Ngay trong buổi họp đầu tiên, tôi nói với mẹ, “con sẽ làm việc cho VAALA trong hai năm.”

Thế rồi, cái nợ hai năm ấy, bỗng chốc hóa thành hai lần của mười năm.

“Nhưng cái duyên đến không ngờ là mình cảm thấy rất thích thú với những công việc của VAALA, được tìm hiểu thêm các họa sĩ, nhà văn, nhà làm phim. Tôi thấy đời sống của mình càng ngày càng trở nên giàu có, phong phú hơn qua cái duyên mà mình tìm được qua những người bạn.

Do đó, đối với tôi nếu nói về duyên nợ thì cái nợ nó lại đến trước, sau đó là cái duyên và mình luôn cảm ơn người cha của mình. Không biết là ông đã hướng dẫn tôi như thế nào, nhưng thật sự là có sự đưa đẩy để mình đến với VAALA trước khi ông mất.”

VAALA-04
Một buổi triển lãm nghệ thuật của VAALA khi Y Dịch Lê Đình Điểu chưa rời cõi tạm (Ảnh: VAALA)
 
Với Y Sa, cô luôn tin rằng duyên sẽ đưa đẩy mình đi, nhưng nhất định chúng ta phải làm một cái gì đó.

“Tôi không tin sẽ có cái gì đó từ trên trời rơi xuống mà mình phải ra ngoài, phải làm, tạo những mối liên kết tạo ra những cái duyên, và cả nghiệp. Tôi tin vào duyên nghiệp. Tôi nghĩ những gì mình làm sẽ tạo ra những con đường mà mình có thể mang đến những lợi ích cho bản thân và những người chung quanh.”

Đúng thật sự thì cộng đồng Việt, đặc biệt ở miền Nam California biết đến Lê Đình Y Sa từ những sinh hoạt của VAALA. “Qua VAALA tôi được tìm hiểu thêm về cộng đồng của mình, cũng như tìm hiểu thêm về chương trình hoạt động của các nghệ sĩ mà mình được cùng làm việc, những thiện nguyện viên rất có tâm cùng với tôi trong suốt nhiều năm, như chị Ann Phong, Thúy Võ Đặng, Lan Dương, Tú Uyên Nguyễn…”
 
Kết nối cộng đồng và sứ mệnh bảo tồn

Nghĩ về VAALA là nghĩ về nghệ thuật. Năm 1991, Y Dịch Lê Đình Điểu kêu gọi một nhóm các nhà báo, nghệ sĩ và bằng hữu người Mỹ gốc Việt khởi xướng VAALA để lấp đầy khoảng trống trong cộng đồng và cung cấp một sân chơi cho các văn nghệ sĩ nhập cư. VAALA được thành lập trên tinh thần và lý tưởng của Lê Đình Điểu, tinh thần tự nguyện, tinh tưởng vào khả năng tự rèn luyện, tự phát triển của giới trẻ khi được sống trong bầu không khí tự do. Tinh thần và sứ mệnh ấy, cho đến nay, chưa bao giờ thay đổi trong hơn 20 năm nay, theo lời Y Sa nói.

“Tiêu chí đó chưa bao giờ thay đổi. Dùng nghệ thuật để yểm trợ cho những người nghệ sĩ. Dùng nghệ thuật để diễn tả, kể lại những gì mình muốn trình bày.”

Theo tâm lý chung, đặc biệt là người gốc Á, nghệ thuật đòi hỏi sự hy sinh vô cùng lớn, và rất khó để theo đuổi nếu muốn mưu cầu vinh quang hay tiền bạc. Nhưng với VAALA, tất cả là sứ mệnh và niềm đam mê của kết nối cộng đồng. 

“Nghệ thuật gắn liền với tài năng, niềm đam mê và sự kiên trì. Đó là ba thứ mà tôi thấy rất cần thiết để theo đuổi một bộ môn nghệ thuật nào đó. Với VAALA, tôi rất mừng vì bạn nhìn nhận ‘nói đến VAALA là nói đến nghệ thuật’ vì điều đó đúng với tiêu chí của VAALA là dùng nghệ thuật để nối kết cộng đồng, đặc biệt là nghệ thuật Việt Nam, bất cứ điều gì về con người, cuộc sống Việt Nam.”

Với Y Sa, khi nhìn thấy một nghệ sĩ có cơ hội trình bày một tác phẩm nghệ thuật, nói lên tiếng nói, kể lên một câu chuyện không phải của riêng họ mà của chính mình, và được người thưởng lãm hưởng ứng, “đó là một hạnh phúc.”

“Khi thấy mọi người đến xem một bức tranh, đọc một cuốn sách, cùng chia sẻ những cảm nghĩ cùng với tác giả đó thì đó là hạnh phúc của mình,” Y Sa nói.

Một phần quan trọng trong sứ mệnh bảo tồn văn hóa nghệ thuật của VAALA là kết nối với cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh đa thế hệ và đa dạng kinh nghiệm, cảm xúc, chưa kể những phát triển quá nhanh của khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến tư duy và ý thức hệ. Những năm gần đây, VAALA có rất nhiều những hoạt động vinh danh, bảo tồn và đặc biệt là khuyến khích các bạn trẻ mạnh dạn tham gia vào các hoạt động đa dạng của nghệ thuật, từ phim ảnh đến hội họa hay văn học. Trong đó có cả những bạn trẻ trong nước hoặc vừa định cư ở Mỹ. Để cân bằng giữa bảo tồn nghệ thuật và văn hóa truyền thống Việt Nam, đồng thời phản ánh những bản sắc và trải nghiệm đang thay đổi của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay, là cả một chiến lược của lòng tự hào. Y Sa nói:

“Sau này dùng phần nhiều là tiếng Anh, thay vì tiếng Việt, ví dụ như ra mắt những cuốn sách, những triển lãm của người Mỹ gốc Việt. Tiêu chí cốt lõi của VAALA vẫn giữ nguyên, dùng nghệ thuật để chuyển tải tư tưởng của mình đến công chúng.”

Còn rất nhiều điều mà Y Sa và các thành viên VAALA muốn thực hiện thêm nữa. Dù khó khăn, hay nhiều đến bao nhiêu, thì VAALA sẽ luôn tỏa sáng với tinh thần của Y Dịch Lê Đình Điểu.

Năm nay, VAALA bước sang năm thứ 34 – 34 năm cộng đồng Việt hải ngoại có VAALA. Trong đó là 24 năm kể từ ngày Lê Đình Y Sa tự nguyện kết duyên nợ ngỡ chỉ hai năm nhưng thoáng chốc đã hơn hai lần mười năm. Đời người có mấy lần mười năm? Cộng đồng Việt sẽ có VAALA thêm rất nhiều lần 10 năm. Bởi vì, câu châm ngôn mà Lê Đình Y Sa kết thúc câu chuyện là: “Chúng tôi chân cứng đá mềm.”

Kalynh Ngô
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.