Hôm nay,  

Miền nắng Xuân hồng

2/21/202320:55:00(View: 3430)
Tùy bút

Cô Chúc bên các em học sinh
Cô Chúc bên các em học sinh.


Thuỷ Triều nhắn tin, mời gia đình tôi dự thánh lễ giỗ đầu của Cô Chúc. Vậy mà đã giáp một năm ngày Cô Chúc về với Chúa! Thời gian tựa thoi đưa. Vừa qua một cái Tết con mèo khá lạnh. Ngoảnh đi ngoảnh lại, ai còn, ai mất?

 

Trong lễ tang của Cô năm ngoái, tôi nghe ba cô con gái kể chuyện về Mẹ của mình mà thương! Bao nhiêu tâm tư ùa ra trong nỗi niềm thương nhớ: cách Cô sống, cách Cô dạy con, cách Cô cư xử ở đời. Thuỷ Trân nói, lần đầu đưa bạn trai về, Cô Chúc ngờ ngợ, rồi hỏi tên tiếng Việt, mới biết chàng rể tương lai là học trò Việt ngữ ngày nào. Mà không chỉ chàng rể học tiếng Việt với Cô, mà cả mấy anh em của chàng cũng là học trò của Cô hết! Lắng nghe những câu chuyện gia đình xen trong nước mắt nhớ thương của ba cô con gái làm tôi chạnh lòng. Cô Chúc là một người mẹ tuyệt vời! Cô sẽ luôn ở bên các con và cả nhà, cho dù thân xác Cô đã về với lòng đất.

Di ảnh của Cô Chúc
Di ảnh Cô Chúc.

 

Đám tang của Cô, mọi người đến dự thật đông. Thân bằng quyến thuộc của gia đình, bạn bè của các con. Ba cô con gái tham gia Văn Phòng Giới Trẻ, dạy Giáo lý, dạy Việt ngữ. Ngày thứ Tư lễ tro một tuần sau đám tang Cô, tôi đi lễ, nhớ Cô Chúc, cầu nguyện cho Cô và thăm hỏi các em. Tôi mừng thấy ba chị em đã trưởng thành và có đời sống tốt đẹp. Cô Chúc ra đi ắt cũng an lòng. Cả ba chị em đều chăm sóc cho con cái kỹ lưỡng và chu đáo. Nhìn thấy ba “học trò ruột" của Cô Chúc làm mẹ giỏi như vậy, ai cũng biết đó là di sản Cô đã để lại cho các con, nhất là trong thời gian Cô còn sống, Cô đã chính tay chăm sóc cho cả một đàn cháu ngoại từ lớn đến bé. Thuỷ Tiên thì đã lập gia đình nhiều năm trước, con cái nay đã lớn khôn. Thuỷ Trân thì có hai con nhỏ, còn tay bồng tay bế, một bé mới mấy tháng tuổi khi Cô mất. Thuỷ Trân nói, “Mỗi lần con chăm sóc mấy đứa con của con là con nhớ Mẹ rất nhiều, và con cám ơn Mẹ đã sinh ra con.” Thuỷ Triều thì mê bé Riley như điếu đổ. Con còn nhỏ thì cực nhưng là  niềm vui vô bờ. Mê đến nỗi, hai vợ chồng Thuỷ Triều chọn trông con ở nhà để có thể chăm sóc cho con mình được chu đáo nhất. Hai vợ chồng vừa sửa nhà vừa sinh con, cực mà vui khi xây tổ ấm cho gia đình nhỏ của mình.

 

Thầy Tùng nhớ, Cô Chúc rất vững vàng trong lúc đau bệnh. Ngay cả khi chuẩn bị từ giã cõi đời, Cô rất bình an và vui vẻ, chấp nhận đau đớn, dọn mình sẵn sàng để về nhà Cha. Cô dặn gia đình đừng đau buồn vì việc Cô ra đi là ý Chúa. Cô cùng gia đình chọn áo dài để mặc cho Cô khi tẩm liệm. Cả nhà cùng chọn chiếc áo cô mặc trong lễ cưới của con gái ít năm trước đó. Trong suốt thời gian bị bệnh, Cô âm thầm chịu đựng, không báo cho ai biết, vì Cô không muốn người khác phải lo lắng vì mình, và không muốn họ cảm thấy đau lòng cho Cô. Tin Cô ra đi làm nhiều người bất ngờ là vì vậy. Hơn nữa, trong bao nhiêu năm gắn bó với Trường Việt Ngữ Cộng đoàn Westminster, Cô chưa nghỉ dạy ngày nào. Nếu có công việc gì vào chiều thứ bảy, Cô cũng tìm cách thu xếp để đi dạy Việt ngữ đều đặn. Thậm chí, khi đã phát bệnh, Cô vẫn tiếp tục đi dạy, cho đến một tháng trước khi lâm chung, khi không còn đi lại được và chịu đau đớn nhiều thì Cô mới thôi. Có lẽ vì vậy mà Thầy Tùng thích nhất tấm hình Cô mặc áo dài tím trong một sinh hoạt Việt Ngữ năm nào. Từ ngày Cô mất, Thầy vẫn giữ hình này trong xe để Cô vẫn luôn là người bạn đồng hành với Thầy trên mọi nẻo đường.

 

Trong suốt 26 năm trời, Cô Chúc là người làm vườn chung thuỷ trên cánh đồng văn hoá Việt Nam hải ngoại, kiên trì gieo đến hạt giống cuối cùng trước khi nằm xuống, tại “ngôi trường làng” Việt Ngữ Cộng đoàn Westminster. Những thế hệ ngoại biên hôm nay rất may mắn, vì có rất nhiều những Thầy Cô giáo Việt Ngữ tận tâm như Cô Chúc, nên cánh đồng Việt Ngữ tại Quận Cam và nhiều nơi khác tại hải ngoại vẫn ngày một bừng nở. Và các con của Cô cũng tiếp tục công việc giảng dạy tiếng Việt ngay tại nhà cho thế hệ tiếp nối.

 

Như bao gia đình tỵ nạn khác tại hải ngoại, gia đình Cô Chúc cũng mang theo dấu ấn lịch sử của dân tộc Việt Nam ở cuối thế kỷ 20, khi miền Nam bị cưỡng chiếm và bao nhiêu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Thủy Tiên vừa chào đời đầu năm thì tới tháng Năm, Thầy Tùng đi tù cải tạo ở Thanh Hóa năm năm. Khi Thầy được trả tự do, Thầy Cô có thêm hai cô con gái nữa. Câu chuyện của Cô Chúc là câu chuyện của bao người vợ tù cải tạo, một mình chăm lo cho con dại và góp nhặt để đi thăm nuôi chồng trong những ngày điêu linh của một quê hương bị gông cùm.

 

Trong suốt 74 năm dài, Cô Chúc sống giữa đời với một trái tim người mẹ, một trái tim nhà giáo, một trái tim Việt Nam. Không ai không rơi nước mắt trong lúc tử biệt sinh ly. Mà có những dòng nước mắt vẫn rơi dài sau một năm đằng đẵng tử biệt. Trong thánh lễ giỗ đầu, Thuỷ Trân đọc bài thánh thư mà không khỏi xúc động đến rơi lệ. Thầy Tùng nghẹn ngào ngỏ lời cám ơn Cha chủ tế mà không cầm được nước mắt. Thầy chia sẻ, “Mới đó mà đã một năm. Chúng con  cứ nghĩ là điều này không có thật, nhưng thật ra thì nhà con đã về với Chúa rồi. Chúng con chỉ biết vâng theo thánh ý Chúa và sống tốt đẹp hơn thôi.” Thầy nhớ lại, Cô Chúc cả đời không  bệnh đau chi hết, nhưng khi vào bệnh viện một lần thì đã ra đi nên trong ngày giỗ đầu của Cô, chồng con vẫn còn ngỡ ngàng vì sự ra đi đột ngột và bất ngờ ấy.

 

Mỗi con người rồi sẽ ra đi, nhưng mỗi người cũng sẽ để lại thật nhiều khi đời sống của họ là một chuỗi dài tận hiến, cho đi, yêu thương, và dấn thân cho gia đình và cho xã hội. Cô Chúc đi rồi, nhưng tình mẫu tử ngọt ngào của Cô, tình thương yêu bao la dành cho thân nhân và tha nhân, đời sống yêu thương tận tụy của một nhà giáo của Cô vẫn còn lan chảy quanh đây. Như miền nắng Xuân hồng, mãi tuôn tràn trên những người Cô thương và thương Cô. Còn đọng lại mãi trên đàn con cháu thân yêu, qua những bài học làm người, làm con Chúa, làm người Việt tại Mỹ mà Cô đã dạy không chỉ qua những bài học trên bục giảng, mà qua chính đời sống Đức Tin rất mẫu mực và tuyệt vời của Cô.

 

Cô Chúc ơi, we love you! Xin tạ ơn Chúa đã ban cho đời một người Mẹ, một nhà giáo, một người Công Giáo như Cô. Xin tạ ơn Chúa cho một miền nắng Xuân hồng.

 

– Trangđài Glassey-Trầnguyễn

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.