Hôm nay,  

Miền nắng Xuân hồng

21/02/202320:55:00(Xem: 3425)
Tùy bút

Cô Chúc bên các em học sinh
Cô Chúc bên các em học sinh.


Thuỷ Triều nhắn tin, mời gia đình tôi dự thánh lễ giỗ đầu của Cô Chúc. Vậy mà đã giáp một năm ngày Cô Chúc về với Chúa! Thời gian tựa thoi đưa. Vừa qua một cái Tết con mèo khá lạnh. Ngoảnh đi ngoảnh lại, ai còn, ai mất?

 

Trong lễ tang của Cô năm ngoái, tôi nghe ba cô con gái kể chuyện về Mẹ của mình mà thương! Bao nhiêu tâm tư ùa ra trong nỗi niềm thương nhớ: cách Cô sống, cách Cô dạy con, cách Cô cư xử ở đời. Thuỷ Trân nói, lần đầu đưa bạn trai về, Cô Chúc ngờ ngợ, rồi hỏi tên tiếng Việt, mới biết chàng rể tương lai là học trò Việt ngữ ngày nào. Mà không chỉ chàng rể học tiếng Việt với Cô, mà cả mấy anh em của chàng cũng là học trò của Cô hết! Lắng nghe những câu chuyện gia đình xen trong nước mắt nhớ thương của ba cô con gái làm tôi chạnh lòng. Cô Chúc là một người mẹ tuyệt vời! Cô sẽ luôn ở bên các con và cả nhà, cho dù thân xác Cô đã về với lòng đất.

Di ảnh của Cô Chúc
Di ảnh Cô Chúc.

 

Đám tang của Cô, mọi người đến dự thật đông. Thân bằng quyến thuộc của gia đình, bạn bè của các con. Ba cô con gái tham gia Văn Phòng Giới Trẻ, dạy Giáo lý, dạy Việt ngữ. Ngày thứ Tư lễ tro một tuần sau đám tang Cô, tôi đi lễ, nhớ Cô Chúc, cầu nguyện cho Cô và thăm hỏi các em. Tôi mừng thấy ba chị em đã trưởng thành và có đời sống tốt đẹp. Cô Chúc ra đi ắt cũng an lòng. Cả ba chị em đều chăm sóc cho con cái kỹ lưỡng và chu đáo. Nhìn thấy ba “học trò ruột" của Cô Chúc làm mẹ giỏi như vậy, ai cũng biết đó là di sản Cô đã để lại cho các con, nhất là trong thời gian Cô còn sống, Cô đã chính tay chăm sóc cho cả một đàn cháu ngoại từ lớn đến bé. Thuỷ Tiên thì đã lập gia đình nhiều năm trước, con cái nay đã lớn khôn. Thuỷ Trân thì có hai con nhỏ, còn tay bồng tay bế, một bé mới mấy tháng tuổi khi Cô mất. Thuỷ Trân nói, “Mỗi lần con chăm sóc mấy đứa con của con là con nhớ Mẹ rất nhiều, và con cám ơn Mẹ đã sinh ra con.” Thuỷ Triều thì mê bé Riley như điếu đổ. Con còn nhỏ thì cực nhưng là  niềm vui vô bờ. Mê đến nỗi, hai vợ chồng Thuỷ Triều chọn trông con ở nhà để có thể chăm sóc cho con mình được chu đáo nhất. Hai vợ chồng vừa sửa nhà vừa sinh con, cực mà vui khi xây tổ ấm cho gia đình nhỏ của mình.

 

Thầy Tùng nhớ, Cô Chúc rất vững vàng trong lúc đau bệnh. Ngay cả khi chuẩn bị từ giã cõi đời, Cô rất bình an và vui vẻ, chấp nhận đau đớn, dọn mình sẵn sàng để về nhà Cha. Cô dặn gia đình đừng đau buồn vì việc Cô ra đi là ý Chúa. Cô cùng gia đình chọn áo dài để mặc cho Cô khi tẩm liệm. Cả nhà cùng chọn chiếc áo cô mặc trong lễ cưới của con gái ít năm trước đó. Trong suốt thời gian bị bệnh, Cô âm thầm chịu đựng, không báo cho ai biết, vì Cô không muốn người khác phải lo lắng vì mình, và không muốn họ cảm thấy đau lòng cho Cô. Tin Cô ra đi làm nhiều người bất ngờ là vì vậy. Hơn nữa, trong bao nhiêu năm gắn bó với Trường Việt Ngữ Cộng đoàn Westminster, Cô chưa nghỉ dạy ngày nào. Nếu có công việc gì vào chiều thứ bảy, Cô cũng tìm cách thu xếp để đi dạy Việt ngữ đều đặn. Thậm chí, khi đã phát bệnh, Cô vẫn tiếp tục đi dạy, cho đến một tháng trước khi lâm chung, khi không còn đi lại được và chịu đau đớn nhiều thì Cô mới thôi. Có lẽ vì vậy mà Thầy Tùng thích nhất tấm hình Cô mặc áo dài tím trong một sinh hoạt Việt Ngữ năm nào. Từ ngày Cô mất, Thầy vẫn giữ hình này trong xe để Cô vẫn luôn là người bạn đồng hành với Thầy trên mọi nẻo đường.

 

Trong suốt 26 năm trời, Cô Chúc là người làm vườn chung thuỷ trên cánh đồng văn hoá Việt Nam hải ngoại, kiên trì gieo đến hạt giống cuối cùng trước khi nằm xuống, tại “ngôi trường làng” Việt Ngữ Cộng đoàn Westminster. Những thế hệ ngoại biên hôm nay rất may mắn, vì có rất nhiều những Thầy Cô giáo Việt Ngữ tận tâm như Cô Chúc, nên cánh đồng Việt Ngữ tại Quận Cam và nhiều nơi khác tại hải ngoại vẫn ngày một bừng nở. Và các con của Cô cũng tiếp tục công việc giảng dạy tiếng Việt ngay tại nhà cho thế hệ tiếp nối.

 

Như bao gia đình tỵ nạn khác tại hải ngoại, gia đình Cô Chúc cũng mang theo dấu ấn lịch sử của dân tộc Việt Nam ở cuối thế kỷ 20, khi miền Nam bị cưỡng chiếm và bao nhiêu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Thủy Tiên vừa chào đời đầu năm thì tới tháng Năm, Thầy Tùng đi tù cải tạo ở Thanh Hóa năm năm. Khi Thầy được trả tự do, Thầy Cô có thêm hai cô con gái nữa. Câu chuyện của Cô Chúc là câu chuyện của bao người vợ tù cải tạo, một mình chăm lo cho con dại và góp nhặt để đi thăm nuôi chồng trong những ngày điêu linh của một quê hương bị gông cùm.

 

Trong suốt 74 năm dài, Cô Chúc sống giữa đời với một trái tim người mẹ, một trái tim nhà giáo, một trái tim Việt Nam. Không ai không rơi nước mắt trong lúc tử biệt sinh ly. Mà có những dòng nước mắt vẫn rơi dài sau một năm đằng đẵng tử biệt. Trong thánh lễ giỗ đầu, Thuỷ Trân đọc bài thánh thư mà không khỏi xúc động đến rơi lệ. Thầy Tùng nghẹn ngào ngỏ lời cám ơn Cha chủ tế mà không cầm được nước mắt. Thầy chia sẻ, “Mới đó mà đã một năm. Chúng con  cứ nghĩ là điều này không có thật, nhưng thật ra thì nhà con đã về với Chúa rồi. Chúng con chỉ biết vâng theo thánh ý Chúa và sống tốt đẹp hơn thôi.” Thầy nhớ lại, Cô Chúc cả đời không  bệnh đau chi hết, nhưng khi vào bệnh viện một lần thì đã ra đi nên trong ngày giỗ đầu của Cô, chồng con vẫn còn ngỡ ngàng vì sự ra đi đột ngột và bất ngờ ấy.

 

Mỗi con người rồi sẽ ra đi, nhưng mỗi người cũng sẽ để lại thật nhiều khi đời sống của họ là một chuỗi dài tận hiến, cho đi, yêu thương, và dấn thân cho gia đình và cho xã hội. Cô Chúc đi rồi, nhưng tình mẫu tử ngọt ngào của Cô, tình thương yêu bao la dành cho thân nhân và tha nhân, đời sống yêu thương tận tụy của một nhà giáo của Cô vẫn còn lan chảy quanh đây. Như miền nắng Xuân hồng, mãi tuôn tràn trên những người Cô thương và thương Cô. Còn đọng lại mãi trên đàn con cháu thân yêu, qua những bài học làm người, làm con Chúa, làm người Việt tại Mỹ mà Cô đã dạy không chỉ qua những bài học trên bục giảng, mà qua chính đời sống Đức Tin rất mẫu mực và tuyệt vời của Cô.

 

Cô Chúc ơi, we love you! Xin tạ ơn Chúa đã ban cho đời một người Mẹ, một nhà giáo, một người Công Giáo như Cô. Xin tạ ơn Chúa cho một miền nắng Xuân hồng.

 

– Trangđài Glassey-Trầnguyễn

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.