Hôm nay,  

Những Nhà Văn Yêu Mèo

20/01/202300:00:00(Xem: 4057)

van hoc nam mao
Hình minh họa


1. Ernest Hemingway

van hoc nam mao 2
Sinh thời, Hemingway, tác giả của “Ngư ông và biển cả” vào bất cứ lúc nào cũng có nuôi chừng vài chục con mèo.  Ngôi nhà của ông ở Key West, Florida, trở thành viện bảo tàng có khoảng 40 cho đến 50 con mèo sáu ngón (polydactyl cat).  Tất cả đều được đặt tên của những nhân vật nổi tiếng.  Đám mèo sáu ngón này là hậu duệ của con mèo Snow White do một vị thuyền trưởng tặng cho Hemingway.

Năm 1943, ông viết thư cho Hadley Mowrer, người vợ đầu tiên, đại ý như sau: “Cứ mỗi lần một con, mình không chú ý, đến chừng nhận ra thì số mèo đã quá đông.  Khuôn viên này rất rộng lớn nên ít khi chúng ta nhìn thấy chúng, cho đến khi, đến giờ cho mèo ăn.  Chúng phóng nhanh, chạy rầm rập như một đám di dân đến giờ phát thức ăn.”  Lũ mèo của ông luôn luôn được đối đãi như thượng khách.  Ông có một phòng ngủ dành riêng cho mèo của khách đến chơi trong căn nhà ở Cuba.  Những con mèo bình thường không có gì đặc sắc cũng được ông gọi là “purrfactories” và “love sponges.”  Purrfactories, đại khái, là những cỗ máy sản xuất ra tiếng kêu hài lòng của mèo.  Love sponge ám chỉ sự thu hút cảm tình của mèo. 

Trong số tác phẩm của Hemingway, có một truyện ông viết về mèo, đó là Cat in the Rain.  Hai vợ chồng người Mỹ ở trong một khách sạn sang trọng vào một ngày mưa dầm.  Con mèo con bị mắc mưa núp dưới cái bàn.  Người vợ ra ngoài mưa, được người phụ nữ nhân viên của khách sạn che dù, để mang con mèo vào nhưng không tìm thấy con mèo.  Người chồng tiếp tục đọc sách.  Người vợ nói: “Không hiểu tại sao em muốn giúp con mèo ấy quá.  Em muốn nuôi con mèo đáng thương ấy.  Tội nghiệp con mèo bị mắc mưa.”  Mưa tạnh, người giúp việc trong khách sạn đem con mèo vào.  Con mèo là biểu tượng cho ước mơ thầm kín của người vợ, có lẽ là một đứa con, và một cuộc sống khác với cuộc sống hiện tại.  Thí dụ như, cô sẽ có mái tóc dài có thể búi thả lỏng sau gáy thay vì mái tóc ngắn như tóc đàn ông, có con mèo nằm trên lòng phát ra những tiếng ngân rù rù trong cổ tỏ vẻ hài lòng và:
“Em muốn được ngồi ở bàn ăn với những đồ dùng bằng bạc của riêng em, trên bàn ăn nến đốt lung linh.  Ước gì thời tiết hiện tại đang là mùa xuân, em được chải tóc trước tấm gương to, em có con mèo con, và em muốn có quần áo mới.”  Thật ra, cô vợ đòi ông chồng chú ý đến mình vì tình cảm của họ đang dần phai nhạt.  Con mèo con là biểu tượng cho tất cả những thứ cô vợ đang thèm muốn. Cô vợ thú nhận vì không có được những thứ cô muốn nên cô muốn có con mèo. 

Mặc dù nhiều người cho rằng giống mèo bội bạc, lạnh nhạt, Hemingway nghĩ khác.  “Con mèo có tình cảm rất chân thật; khác với loài người, vì lý do này nọ, loài người có thể che giấu cảm xúc của mình, nhưng con mèo thì không.” 
 
2. Ray Bradbury

van hoc nam mao 3
 
Cuối thập niên 1950, Ray Bradbury và vợ, hơn năm mươi năm sống trong căn nhà ở Cheviot Hills, Los Angeles với 22 con mèo.  Với Bradbury, mèo không chỉ là thú cưng.  Chúng hòa nhập với tiến trình sáng tạo của ông.  “Đó là bí quyết của hành trình sáng tạo.  Bạn phải xem ý tưởng của bạn như là những con mèo vậy: Bạn bắt chúng phải đi theo bạn,” ông viết như thế trong quyển Zen in the Art of Writing.  Bầy mèo của Bradbury gồm có Jack, Win Win, Dingo, và Ditzy; mấy chú mèo này rất nhút nhát, không xuất hiện khi có khách đến chơi.  Nhưng khi tác giả của quyển Fahrenheit 451 bắt đầu ngồi xuống bàn viết trong phòng làm việc ở tầng hầm của ông thế nào cũng có một con mèo đi theo. 

“Tôi có một con mèo, nó là cái đồ chặn giấy trên bàn trong khi tôi viết.”  Với bạn đọc không hề nuôi mèo, không biết thói quen hay tật xấu của loài mèo, tôi xin giải thích như sau.  Mèo thích ngồi lên những tờ giấy, tờ báo trên bàn, thậm chí bàn phím computer để đòi chủ phải chú ý đến mình.

Bradbury có truyện ngắn, vui vẻ, nhẹ nhàng tựa đề là The Cat’s Pajamas.  Hai người trẻ tuổi, một nam một nữ, cùng một lúc bắt gặp một con mèo con ở giữa đường vắng vào giờ chập choạng tối.  Cả hai tranh giành con mèo. Chàng là nhà văn đã viết truyện ngắn về mèo.  Nàng có một con mèo mới chết.  Để thỏa thuận ai sẽ làm chủ con mèo, họ đến một quán ăn thảo luận cho đến khi quán ăn đóng cửa.  Cô hầu bàn bảo họ đến khách sạn gần đấy.  Họ nói chuyện cho đến khi cả hai mỏi mệt và đồng ý nằm trên giường, mặc nguyên quần áo, con mèo nằm giữa.  Họ thỏa thuận với nhau con mèo nhích đến gần người nào thì người đó sẽ là chủ con mèo.  Nàng nói, nàng có một bộ quần áo ngủ may cho con mèo nhưng nó đã chết.  Chàng bảo, người yêu mèo đến độ may quần áo ngủ cho mèo xứng đáng được làm chủ con mèo hoang hai người đang tranh giành.  Cả hai ngủ thiếp đi và khi thức giấc nàng hỏi, có vẻ như con mèo đã nhích gần về phía anh?  Chàng đáp, con mèo thì không nhưng em thì đã.
 
3. Haruki Murakami

van hoc nam mao 4

Trong bài tùy bút The Secret of an Old Cat  Murakami kể rằng ông đã nhờ một người bạn điều hành nhà xuất bản Kodansha Ltd. trông hộ con mèo khi ông du lịch.  Để trả ơn, ông hứa sẽ viết một tiểu thuyết cho nhà xuất bản này.  Quyển sách đó là Norwegian Wood (Rừng Na Uy) trở thành sách bán chạy, tên tuổi ông sáng chói trên toàn thế giới.  Cũng trong bày tùy bút này, tác giả nói về việc viết quyển sách đầu tay của ông Hear the Wind Sing: “Tôi còn nhớ rất rõ những ngày khi tôi viết quyển tiểu thuyết đầu tiên vào ban đêm, với con mèo nằm trên lòng, và tôi nhâm nhi bia.  Con mèo rõ ràng không thích tôi viết tiểu thuyết nên thường quấy phá làm xáo trộn bản thảo của tôi ở trên bàn.”  Mèo xuất hiện vô số lần trong tác phẩm của Karuki Murakami, có khi chỉ là một chi tiết nhỏ nhặt bình thường, đôi khi là dấu hiệu sự không lành sắp xảy ra.  Trong The Wind-Up Bird Chronicle (Nhật ký về con chim vặn dây thiều) nhân vật chính đi tìm một con mèo bị mất tích.  Kafka on the Shore (Kafka trên bờ biển) có nhân vật có thể trò chuyện với những con mèo. 

Trong bài tùy bút On The Death of My Cat Murakami nói về con mèo Kirin chết khi mới 4 tuổi (tương đương với người ở lứa tuổi 30).  Ông đem xác Kirin đi thiêu và tro của Kirin được đưa lên bàn thờ.  Trong nhà Nhật kiểu xưa thường có sẵn bàn thờ để thờ thần và vong linh như thế.  Bên cạnh Kirin ông còn có vài con mèo khác như Muse (tên của một nhân vật trong manga Glass Castle – Lâu Đài Thủy Tinh), Butch và Sundance hai nhân vật trong phim Mỹ, Mackerel, Calico, Scotty, và vài tên nữa.  Murakami cho biết những con mèo của ông có cá tính và suy nghĩ khác nhau.  Con mèo Siame khi sanh con cần được ông nắm tay trợ giúp.

Trong bài tùy bút Abandoning a Cat Murakami kể lại câu chuyện khi ông còn bé, vào khoảng năm 1955 bố ông chở ông bằng xe đạp mang con mèo đem đi bỏ ở gần bờ biển cách nhà độ hai cây số.  Con mèo có thai và gia đình ông không muốn nuôi cả đàn mèo.  Vào thời ấy chuyện mang mèo đi bỏ là chuyện xảy ra khá thường xuyên không ai phê phán hành động này.  Khi về đến nhà cả hai bố con ngạc nhiên là con mèo vừa mới bị bỏ đến chào đón họ.  Không hiểu bằng cách nào nó đã về đến nhà trước và vì thế con mèo được ở lại.

Haruki Murakami cũng có vài truyện ngắn về mèo.  Trong Man-Eating Cats ông kể lại một câu chuyện ông đọc trên báo.  Có bà cụ nuôi mấy con mèo sống trong một chung cư.  Bà cụ qua đời và mấy con mèo đói quá phải ăn xác của chủ.  Trong Town of Cats nhân vật Tengo đi thăm bố, trên xe ông đọc truyện ngắn Town of Cats của một tác giả người Đức.  Nhân vật này thường du lịch không định hướng. Anh ta lên xe lửa, ngắm cảnh, thấy chỗ nào thú vị thì xuống xe, thuê phòng ở chơi dăm ba ngày, lên xe đi tiếp.  Và trong một chuyến đi tương tự, anh ta gặp một thành phố của loài mèo.  Khi hoàng hôn buông xuống đủ thứ loại mèo xuất hiện băng qua cầu để vào thành phố.  Loại mèo này rất to khiến anh ta sợ hãi leo lên tháp chuông giữa thành phố để trốn.  Mấy con mèo bắt đầu làm việc như người ta ở chợ búa, hàng quán, nhà hát, khắp nơi cho đến khi bình minh lên, bọn mèo lại băng qua cầu ra khỏi thành phố và biến mất.  Thành phố trở nên hoang vắng tiêu điều.  Anh ta xuống tháp chuông, tìm một phòng để tạm trú, cứ đêm về là anh leo lên tháp chuông để trốn.  Tò mò muốn biết về cuộc sống của loài mèo cũng như vì sao lại có một thành phố như thế anh ở đó cho đến đêm thứ ba thì loài mèo phát giác ra mùi người ta và bắt đầu săn lùng.  Cũng may cho anh là loài mèo chỉ ngửi thấy mùi nhưng không thể nhìn thấy anh như thể anh ta đã trở thành vô hình.  Sáng hôm sau ra nhà ga để đón xe lửa để thoát khỏi thành phố này.  Và lạ làm sao, xe lửa không còn ngừng lại ở nhà ga này nữa.  Người lái và những nhân viên làm việc trên xe lửa dường như không nhìn thấy anh đang chờ trên sân ga nên không ngừng lại.

“ Này, anh có ngửi thấy mùi người ta?” một trong mấy con mèo nói. “Anh nói tôi mới để ý, tôi thấy có mùi kỳ kỳ đã mấy ngày nay,” một con mèo khác chêm vào, mũi hểnh lên ngoay ngoáy. “Tôi cũng vậy.” Thêm một con mèo lên tiếng.  “Kỳ lạ thật.  Đáng lẽ không thể nào có người ta ở đây,” có kẻ lên tiếng.  “Đúng là như vậy.  Người ta không thể nào lọt vào thành phố của mèo.” “Nhưng mùi người ta thì rất rõ ở chỗ này.” 
  
4. Truman Capote

van hoc nam mao 5

Nổi tiếng với tác phẩm xuất bản năm 1958 Breafast at Tiffany được làm thành phim năm 1961, về một cô gái nghèo ở thôn quê đến New York kiếm sống.  Cô làm nghề cặp bồ với những người nhà giàu có thế lực.  Mỗi buổi sáng cô mua một cái bánh và ly cà phê đến bên ngoài Tiffany, tiệm kim hoàn nổi tiếng của thành phố New York, soi bóng mình trên vách tường kính và ăn sáng.  Tiffany mang cảm giác bình an cho cô.  Nếu không có gương mặt ngây thơ với một thân hình mảnh khảnh như những cô gái chưa kịp lớn của Audrey Helpburn chắc nhân vật Holly Golightly không thể nào chinh phục được khán giả của nghệ thuật điện ảnh với bản tính bốc đồng.  Và nếu thân hình càng bốc lửa thì người ta càng nghĩ Holly làm cái nghề xưa nhất trái đất.  Bù lại Holly có tính phóng khoáng, nhân hậu, đáng yêu, ngay cả cái đãng trí quên chìa khóa cửa kinh niên cũng đáng yêu.  Và cô được một nhà văn nghèo, Paul Varjak, mới bán được truyện ngắn lần đầu tiên đem lòng yêu mến.

Holly có nuôi con mèo sọc màu cam cô không đặt tên.  Con mèo xuất hiện ngay lúc bắt đầu của phim.  Nó được yêu chìu, có thể nhảy lên đầu những người bạn danh tiếng và sang trọng của Holly mà chẳng ai phiền trách.  Holly có cuộc sống vội vàng tạm bợ.  Căn chung cư của cô rất bừa bãi, đồ đạc vứt bừa trong phòng vì thiếu tủ bàn.  Holly bảo rằng: “Nếu tôi tìm được một chỗ nào đó trong cuộc đời có thể làm cho tôi cảm thấy bình an như ở Tiffany, tôi sẽ mua tủ bàn ghế trong phòng, và đặt cho con mèo một cái tên.”

Những diễn tiến không hay xảy ra với Holly. Tin người em trai bị chết vì tai nạn.  Holly bị bắt giam vì bị nghi ngờ liên quan với vua ma túy cô thường đi thăm ở nhà tù Sing Sing.  Sự bắt giam sai lầm này khiến Holly bị vị hôn phu, một nhà ngoại giao nổi tiếng từ chối kết hôn vì sợ tai tiếng.  Paul đón Holly từ nhà giam về bằng xe taxi.  Trên taxi là cả gia tài của Holly kể cả con mèo không tên vì Holly bị đuổi nhà lúc cô bị bắt giam.  Paul vận động sự cứu giúp của O. J. một đại gia có lòng cảm mến Holly, và ông ta thuê một căn phòng cho Holly ở tạm. Paul đưa Holly và con mèo đến căn phòng này.  Holly đang được tại ngoại hầu tra nhưng nhất định bỏ trốn ngăn cản mấy cũng không được.  Holly cãi vã với Paul rồi bế con mèo ra khỏi taxi, đuổi nó đi, giữa cơn mưa tầm tã.  Paul xuống xe đi tìm con mèo.  Holly xuống xe taxi, khóc nức nở, bảo rằng con mèo và nàng thuộc về nhau.  Giữa cơn mưa, Paul và Holly nhận ra là họ yêu nhau từ lâu nhưng không chịu thú nhận.  Rồi họ tìm thấy con mèo núp trong một cái thùng gỗ.  Con mèo trong phim là con mèo đực nổi tiếng đóng phim giỏi có tên là Orangey. 

Phim có kết thúc khác với truyện.  Trong truyện, Holly trốn thoát sang nước ngoài.  Sau mấy tháng đi tìm con mèo, Paul (trong truyện là Buster) thấy con mèo đang ở bên trong cửa kính của một ngôi nhà, được chủ nhà nuôi.  Con mèo đã tìm được nơi trú ngụ, và Paul (Buster) hy vọng rằng Holly ở phương trời nào đó cũng có số phận tốt đẹp như con mèo.
 
5. Bohumil Hrabal

van hoc nam mao 6
 
Nhà văn Tiệp Khắc nổi tiếng với Too Loud a Solitude ­– Quá Ồn Ào Một Nỗi Cô Đơn.  Trong một bài tùy bút, Hrabal viết có năm con mèo: Renda, Segmyler, Schwarzwald, Blackie, và Socks.  Ông thích nhất con mèo Blackie.

“Tôi nhìn em ấy không chán mắt, và em cũng quí mến tôi đến độ nhũn cả người mỗi khi tôi bế em lên kề vào mặt và thì thầm những lời ngọt ngào bên tai em.  Tôi đã đến cái tuổi, yêu một cô gái trẻ đẹp là chuyện ngoài tầm tay bởi vì đầu tôi đã hói và mặt đầy nếp nhăn, tuy vậy mấy con mèo vẫn yêu tôi như những cô gái đã từng yêu tôi khi tôi còn trẻ.”

Ông ở thành phố Prague và có căn nhà ở Kersko ông đến mỗi tuần một vài ngày chỗ yên tịnh để viết văn.  Đang lái xe nếu ông nhận ra đang lái nhanh quá, hay thiếu cẩn thận, ông lo sợ nếu có việc không hay xảy ra sẽ không có ai săn sóc mấy con mèo.  Có khi ông phải đi xe buýt nếu thời tiết xấu làm đường đóng băng.  Ông sẽ dời vào những cái ghế giữa xe, tránh cửa sổ, để được an toàn hơn cũng vì những con mèo.  Ông đến Kersko, năm con mèo được vào trong nhà và ngủ chung giường với ông.  Ông trở lại thành phố năm con mèo phải ở bên ngoài và điều này làm ông luôn áy náy.

“Nhưng mấy con mèo phải sống bên ngoài, và tôi bắt từng con một thả ra ngoài cửa.  Bọn chúng tuột khỏi tay tôi như là những con cá.  Tôi khóa cửa lại và cảm thấy buồn bã, chẳng thua gì những con mèo của tôi.  Tôi bước trên con đường nhỏ dưới hàng thông, dẫn ra cổng, và ra con đường viền bởi hai hàng cây.  Khi tôi ngoái lại nhìn lần cuối, nhìn thấy mọi thứ vẫn như cũ, và điều này luôn làm tôi cảm động.  Từng cái hốc, từng lỗ trống dọc theo hàng rào, có cái đầu của một con mèo thò ra, tất cả là năm cái đầu nhỏ bé, nhìn theo cuộc khởi hành của tôi và thèm ước những điều không thể đổi khác. Chúng mong tôi sớm trở về để chúng tôi có thể sống đầm ấm với nhau trong căn phòng nhỏ bên cạnh cái lò vừa dùng để sưởi vừa dùng để nấu ăn.”
(*Những đoạn trích dẫn in nghiêng trong ngoặc kép do Nguyễn Thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh.)
 
Nguyễn Thị Hải Hà
09/05/2022 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.