Hôm nay,  

Nhớ mùa thu nào quá đỗi

27/09/202220:22:00(Xem: 3525)

japanese lake

(Để tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Minh Phúc)

 

Tính ra, tôi là người quen ba chiều với anh Nguyễn Minh Phúc. Anh là bạn học trang lứa với chị tôi, chị Cẩm Thành. Anh là anh cả của Mỹ Hòa, nhỏ bạn cùng lớp với tôi thời trung học đệ nhất cấp ở trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Anh là bạn thân của anh Dương Thành Vinh, nhà thơ Trầm Thụy Du, người có “để ý” tôi gần nửa thế kỷ trước.

 

Cách đây mấy năm, tôi “gặp” lại anh Nguyễn Minh Phúc trên Facebook sau hơn 40 năm thất lạc. Anh Nguyễn Minh Phúc nhắc nhớ nhiều kỷ niệm ở Quảng Ngãi. Một thuở có vui, có buồn, nhưng ăm ắp thơ nhạc với “Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên”. Trong những câu chuyện anh Phúc kể, thấp thoáng nhiều bóng thơ, dáng văn: Trầm Thụy Du, Mai Sơn, Bùi Tuấn Kiệt, Dương Quang Hùng, Hà Nguyên Thạch, Luân Hoán, Huyền Huyễn Thạch, Từ Nguyên Thạch, Nguyễn Tấn Tư, Bùi Văn Cang, Nguyễn Đức Sơn...

 

Anh Phúc có tám người em. Là anh cả, có lẽ anh thương các em đồng đều. Nhưng hình như anh gần gũi hơn với hai cô em: Mỹ Hòa và Mỹ Hạnh. Trong những trao đổi qua email hoặc messenger, tôi không được nhìn thấy nét chữ viết tay rất đẹp của anh, nhưng tôi thật vui, rạng rỡ trong lòng, khi đọc thư anh viết “Ngọc Thúy thân quý”, anh thường chấm dứt thư với hai chữ “quý em”. Có lẽ anh xem tôi cũng như một đứa em thân thiết, có những đồng cảm, đồng điệu trong lời thơ, tiếng văn.

 

Gặp lại anh Nguyễn Minh Phúc, tôi “chỉ” là em của người bạn học, “chỉ” là bạn của người em gái, “chỉ” là “em gái giữa tim” của người bạn chí thân. Tuy không được là nàng thơ của thi sĩ Nguyễn Minh Phúc, tôi vẫn cảm nhận niềm hạnh phúc, khi nghe anh kể về những ngày tháng cổ tích, để thấy những kỷ niệm tưởng đã nhạt nhòa, tưởng đã trôi vào quên lãng, nay trở thành sống động, ảo diệu. Anh bồi hồi nhắc lại bài thơ anh viết đã lâu, cho một người con gái giờ đã xa. Suốt một đời anh ôm tình buốt nhức/ Đóng đinh mình trên thập giá chung thân/ Tạ ơn em người yêu dấu vạn lần/ Đã cho anh trái tim nhiều đau đớn…(Tạ Ơn Em)

 

Tôi chờ anh tâm sự thêm những nỗi niềm của thời mái tóc còn xanh. Bẵng đi mấy tuần, không thấy anh đăng thơ trên Facebook. Tôi đoán, anh bận. Tôi không dám hối thúc đòi anh kể tiếp chuyện tình đẹp mà buồn của anh. Tôi chỉ lóng ngóng chờ tin. Anh nhắn trên messenger, cho biết anh phải lên Sài Gòn khám bệnh. Tôi mừng, khi anh bảo: “Anh khỏe dần rồi... Hy vọng qua năm mới sẽ lành bệnh.” Thấy anh đều đặn làm thơ đăng trên các trang mạng, tôi vui và cầu nguyện anh được an lành. Qua những mẩu chuyện rời anh kể, nay một chút, mai một tí, tôi dần dà có thể ráp bức tranh nhiệm mầu của dĩ vãng. Tôi chợt có ý nghĩ, cùng anh làm tập truyện về chốn cũ, ngày xưa. Tôi rụt rè đề nghị. Anh từ tốn: “Anh sẽ trả lời em nhé... Hy vọng sẽ thành hiện thực.” Rồi anh lại vắng mặt vài tuần lễ. Nghe đâu anh trải qua một cuộc giải phẫu.

 

Tôi “thấy” anh Phúc giữa giang sơn chữ nghĩa của anh, với biết bao vần thơ óng ả, mượt mà. Hồn thơ của anh tươi nhuận trong gió xuân, rực rỡ trong nắng hè, lãng mạn trong mây thu, mơ màng trong sương đông. Tôi ngỡ trái tim thơ của anh phơi phới suốt bốn mùa của đất trời. Giờ đây, qua những lần nói chuyện với các em của anh, tôi được biết thêm về anh. Anh có đôi lúc cô đơn, nhất là từ khi nhuốm bệnh. Sau nhiều năm vất vả với sinh kế, anh về hưu, nghỉ làm báo, ngưng dạy học, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ. Chút ngậm ngùi trong lời kể của bạn tôi: “Anh Phúc có bốn nhà: nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo.”

 

Những vần thơ ngọt ngào của anh viết cho Mẹ, viết về Mẹ rất cảm động, làm tôi nhớ đến Mạ tôi thật nhiều. À ơi trong ngẩn ngơ chiều/ Mẹ mang câu hát dặt dìu ru tôi/ Ơi à trong bóng đơn côi/ Mẹ giành gánh hết nổi trôi phận người (Với Mẹ tôi)

 

Nghe các em kể, những ngày tháng cuối đời của Mẹ anh, anh quấn quít bên Mẹ, dẫu sức khỏe anh trên đà sút giảm. Chiều nào đẩy mẹ đi chơi/ Thương làn tóc bạc cuộc đời mẹ qua/ Làn hơi thở mẹ đậm đà/Nước trong nguồn bỗng vỡ òa lòng con (Làn hơi Mẹ)

 

Mùa trăng thu năm kia, tôi có dịp ngắm trăng từ Cape Town nước Nam Phi. Như một sắp xếp kỳ diệu, anh Nguyễn Minh Phúc kể cho tôi nghe về những ngày xưa thân ái của anh và anh Dương Thành Vinh (nhà thơ Trầm Thụy Du). Anh Phúc chép bài thơ “Như Nhớ Một Vầng Trăng” gởi cho tôi qua messenger, thực hiện lời gởi gắm của người bạn thân, dẫu đôi chút muộn màng.

 

Có lẽ anh Phúc muốn “bắt đền” cho tôi, vì phải chờ hơn bốn chục năm mới thấy được “vầng trăng”, anh gởi tặng tôi  mấy vần thơ: năm tháng ấy xanh hoài như lá cỏ/ chút nắng vàng ngoan đậu xuống đôi vai/ em thơ ngây thả tóc dài theo gió/mộng thơm hoài theo từng bước chân ai (như mình có lỗi)

 

Giữa tháng Tám năm 2020, anh viết mấy chữ cho tôi, anh đang đọc tập truyện Long Lanh Màu Trời, nhớ nhiều những ngày cũ, bạn xưa. Sau đó, tôi không thấy anh trả lời thư của tôi, cũng như không thấy anh đăng thơ lên sân vườn Facebook của anh. Tôi cảm thấy bất an. Nhưng không dám nghĩ đến những điều chẳng lành xảy ra cho anh. Cùng một lúc, tôi nhận tin nhắn từ nhiều người, anh Nguyễn Minh Phúc đã được Chúa gọi về trời ngày 04 tháng Mười năm 2020. Tôi liên lạc với Mỹ Hòa. Đường dây điện thoại không rõ, hoặc trong cơn xúc động, giọng bạn tôi sũng nước mắt, tôi nghe tiếng được, tiếng mất. Anh Phúc trở bệnh nặng, chuyển lên bệnh viện ở Sài Gòn. Hồi giờ, anh chỉ làm việc ở computer. Rời nhà, anh phải xa bàn viết của anh. Khi biết mình không còn nhiều thời gian nữa, anh Phúc mong muốn được về nhà ở Rạch Giá, để hoàn tất vài việc anh còn đang làm dở dang. Nhưng không kịp nữa, anh đã ra đi, chưa thực hiện dự định của anh. Gia đình, bạn bè bàng hoàng, thảng thốt. Biệt ly nào mà chẳng buồn rơi lệ/ Huống chi là xa cách suốt nghìn năm…(Tiễn Huyền Huyễn Thạch)

 

Mùa trăng thu năm nay, anh Nguyễn Minh Phúc không còn nữa.

 

Anh Phúc thân quý, cám ơn anh đã trao “vầng trăng” cho em. Đã dẫn dắt em viết “Nhớ Một Vầng Trăng”. Những câu thơ anh viết tặng em còn văng vẳng đâu đây: xao xuyến nhớ mùa thu nào quá đỗi/ em bây giờ xa mãi tận nơi đâu/ tôi bỗng thấy chợt như mình có lỗi/ nghe mùa xưa còn vọng tiếng thở dài (như mình có lỗi).

 

Thương và tiếc anh vô vàn. Anh Phúc ơi, em không còn được nghe anh kể những mẩu chuyện của những ngày tháng xa tuy lăng lắc mà rất thân thiết thuở nào. Nhưng những vần thơ của anh, thi sĩ Nguyễn Minh Phúc, vẫn còn đó, cho đời vẫn đẹp, vẫn thơ, vẫn đáng yêu.

 

Nguyện cầu anh, thi sĩ Nguyễn Minh Phúc, sớm yên nghỉ miền vĩnh phúc.

 

-- Hoàng Quân

 

Trích lời trong những bài thơ của Nguyễn Minh Phúc: Tạ Ơn Em, Với Mẹ tôi, Làn hơi Mẹ, Tiễn Huyền Huyễn Thạch, như mình có lỗi

 

Nguyễn Minh Phúc (1957-2020), tên thật và bút hiệu. Quê quán ở Quảng Ngãi.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

 

- Bến tình (tập truyện ngắn, 1999)

- Người đàn bà điên (tập truyện ngắn, 2000)

- Mùi của đàn ông (tập truyện ngắn, 2002)

- Biển của một thời (tiểu thuyết, 2004)

- Khúc lý chiều chiều (tập truyện ngắn, 2005)

- Người khóc mướn (tập truyện ngắn, 2006)

- Người ở lại Hòn Me (tiểu thuyết, 2007)

- Tuyển tập một đời thơ (thơ, 2021)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.