Hôm nay,  

Mẹ tôi đi lấy chồng

17/09/202221:09:00(Xem: 5393)
Truyện ngắn

sad face of a woman


Mẹ tôi tính đi lấy chồng vào dịp xuân này, mẹ tôi tính đến Tết là sẽ về nhà chồng.

 

Hình như mẹ tôi đã ra khỏi nhà. Tôi không còn nghe tiếng động tịnh nào, cũng không còn tiếng bước chân nhè nhẹ kéo lê trên sàn nhà. Bà đã ra khỏi nhà rồi, bà đi đánh tennis với Skyle, có lẽ, người tình của bà. Hôm nay hơi lạ, từ 7 giờ sáng thức dậy, mẹ tôi đã sửa soạn hí hửng như một đứa bé con lâu ngày mới được đi chơi. Độ này mẹ tôi như một con người mới. Bà hồi xuân hơi trễ? Bà ngây thơ vô tội một cách đáng yêu, dĩ nhiên là đối với tôi thôi. Có lẽ vậy. Tôi thấy tôi người lớn và mẹ tôi đổi chỗ cho tôi, bà trở thành con nít, một thiếu nữ trẻ thì đúng hơn. Tôi kính trọng tình cảm náo nức của mẹ và thấy mẹ trong sáng như ở tuổi 18 vừa lớn lên. Bà trẻ ra yêu đời và hầu như hết hẳn bệnh tật, một số bệnh mãn tính và cấp tính bà đeo sẵn như món trang sức cố hữu từ ngày còn ở Việt Nam.

 

Bà đổi mới, đổi mới như thoát xác, không e dè, không sợ sệt, không ngại ai bình phẩm. Bà  giờ là một con người mới, mới từ hình thức đến nội dung. Tôi xin phép nói theo nhà Phật: Bà đã hóa kiếp, hóa thân ! Cha tôi lui vào căn phòng thiền của ông. Không vui không buồn, ông sống bình thản với hàng chồng sách vở. Ông viết, đọc, hết ngày này sang ngày khác. Ông như quên cuộc sống xung quanh. Ông im lặng, thỉnh thoảng chỉ nói với chúng tôi những điều cần thiết. Nhưng ông không buồn.

 

Cuối tuần có bác Bẩy, bạn cũ của ông ghé chơi, ông vui vẻ đón bác. Tôi thấy bác Bẩy mang tới một hai gói gì nho nhỏ. Cha tôi bày ra hai cái đĩa, xuống bếp lấy hai đôi đũa, hai cái ly và chai rượu. Thế rồi họ rì rầm nói chuyện tới khuya.

 

Gia đình tôi như thế đó! Một gia đình Việt Nam sống ở Mỹ mất hết cả phong độ Việt Nam. Chúng tôi có thể sống được ở đây, hòa nhập được vào xã hội Mỹ này để kiếm tiền, để đi học, đi làm nhưng chúng tôi chưa hẳn thấm nhuần được cái hay ho của người bản xứ, mà hình như chúng tôi đang xa dần dần nền tảng gia đình Á Châu! Không biết rồi những thập niên tới chúng tôi sẽ đi về đâu? Sẽ tấp vào những bờ bến mới nào ở đâu? Hiện tại thì chúng tôi sống biệt lập tình cảm dù vẫn ở cạnh nhau.

 

Mẹ tôi đi làm đều. Mẹ tôi là cột trụ gia đình. Cha tôi yếu không thể làm việc thường xuyên. Mẹ tôi kiếm khá đủ tiền trang trải tiền nhà, tiền chợ, tiền học hành cho chúng tôi. Bà làm việc suốt tuần. Thứ bẩy bà đi chợ mua cả đống đồ hộp gồm thịt, rau, cá và nước uống. Xếp đầy trong tủ lạnh và trong ga-ra.

 

Xong bà viết một bản tin trên trang giấy mang dán trước cửa bếp, đại ý ai muốn ăn một thứ gì tự soạn lấy, nói là sửa soạn chứ chỉ việc khui đồ hộp và hâm nóng là sẵn có ăn ngay. Mẹ tôi chu đáo lắm. Chúng tôi cần mua sắm gì, sách vở, áo quần, tiền túi cứ ghi lên bảng đó, cuối tháng bà thỏa mãn ngay. Ngày cuối tuần còn lại, mẹ tôi ra ngoài và sống với người tình của bà. Ít khi nào chúng tôi gặp mẹ và cha một lần. Chúng tôi bốn anh em, tôi có 3 anh trai và tôi là gái, chúng tôi rất ít, hiếm lắm một cuộc họp mặt gia đình như xưa.

 

Bận rộn. Ai cũng bận rộn. Ba anh tôi, một đi làm, hai còn đi học trung học. Ai cũng có việc riêng của mình, thì giờ chênh lệch nhau. Mọi người vội đi vội về, tắm rửa, ăn gấp gáp, ngủ, nghỉ rồi thức dậy, lại ra đi. Thỉnh thoảng, gặp mặt chào hỏi vài câu rồi tránh lối nhường nhau, kẻ đi trước, người đi sau, đi hết. Họ bỏ tôi bơ vơ một mình.

 

Tôi ở đây chứng kiến họ xoay tròn vòng vòng, mẹ và ba anh tôi. Họ là những con rối, thay nhau đến và đi, đi và đến, như mấy cái hình nộm xoay xoay trong lồng đèn kéo quân làm tôi chóng cả mặt! Cha tôi đứng riêng và tách biệt. Ông khép kín trong thư phòng. Có lúc tôi tức mình, gõ cửa vào phòng. Nhưng tôi không thể ở lâu bên cha tôi được vì ông không để ý gì đến sự có mặt của tôi. Có lúc tôi cũng muốn dọn một phòng tự tu cho tôi. Nhưng không lâu, tôi phải nhẩy vọt ra vì tôi thích nhìn những chiếc xe hơi qua lại trên con đường xa xa vòng vèo bên ngọn đồi trước nhà tôi. Tôi cũng thích ngắm những rặng hoa đào rung rinh đón gió. Tôi thích ngó bà đầm hàng xóm mang chăn mền ra giũ giũ ngoài nắng, và tôi thích thấy những người già co ro đi dạo dưới đường. Tôi cần xem lũ trẻ con đu xích đu và đi xe đạp trong công viên nho nhỏ. Nếu không có họ tôi đã hóa đá, có lẽ, từ mấy năm nay rồi!

 

Tôi cũng không muốn đi học nữa, tại vì việc tôi đi học hay không đi học đối với cha mẹ tôi như không cần thiết và dửng dưng. Tôi đến trường vài tuần rồi chán, tôi tự cho phép tôi ở nhà ít ngày, rồi không biết làm gì hay ho hơn, tôi lại đi học trở lại, thầy cô tôi hỏi tại sao? Tại tôi “bệnh” kèm theo một cái giấy nghỉ bệnh, đơn giản thôi, nói sao cha tôi làm cho tôi vậy.

 

Thỉnh thoảng có những lá thư từ Việt Nam của thân thuộc bay sang, đây là gia vị thay đổi tí chút cho cuộc sống, tôi vừa đọc vừa đoán, lơ mơ nhưng rốt cuộc tôi cũng hiểu. Họ chỉ muốn xin đồ vì họ thiếu thốn quá, có người thiếu thật sự, có người thiếu giả dối! Họ sống với cộng sản mà! Tội nghiệp cả nước đi ăn xin thì ai có thể cưu mang mãi mãi được. Những lá thư đó lạc hậu quá rồi. Mẹ tôi đã chán nản cái chuyện đó, ngựa nản chân bon rồi, nên bà không thèm đọc. Chỉ còn tôi là ngồi táy máy đọc như chơi ô chữ. Chú Bẩy là ai? Dì Năm? Dượng Tám? Chịu, trí nhớ tôi lù mù, hạn hẹp, và bao năm tháng đã xa mờ và tôi đã lớn lên ở đây.

 

Có lần tôi nghịch ngợm nhấc máy điện thoại, bấm đại số của dì Năm ở bên kia bờ đại dương, máy kêu ù ù o o một vài giây, rồi có tiếng hỏi gắt gỏng: “Quỷ sứ, ác ôn không, đứa nào đó, bây kêu giờ này, tao vừa ngủ, mới 2 giờ đêm há…” Tôi hoảng quá bỏ vội cái máy xuống, đi ra ngoài phòng. Thôi dẹp dẹp, không phải việc của mình. Giờ đây nhiều thay đổi lắm, ai biết tôi là ai, mà tôi làm gì có tiền đâu gởi về, tôi lớn rồi, tôi còn là con bé Sáu lùn lếch thếch mang gà mèn đi mua nước đá cục như những năm xưa nữa đâu, có chăng tôi còn nhớ là lối hẻm bên hông nhà tôi có bán nhiều thứ bánh ngon lắm, bánh xèo tôm chấy, bánh cuốn nhân tôm thịt, bánh bột lọc in nguyên con tôm, chè bà ba, chè đậu đỏ bánh lọt. Mấy thứ đó ở quê ngon hơn ở Mỹ này.

 

Những lá thư Việt Nam ấy, những món ăn ngon lành ấy gợi nhớ căn nhà Việt Nam của chúng tôi ở đường Trương Tấn Bửu, gợi nhớ trong tôi cuộc sống của gia đình tôi mấy chục năm trước.

 

Độ ấy mẹ vẫn kể cho tôi nghe chuyện của mẹ, tôi không mấy chú ý lúc đầu. Nhưng ngày qua ngày, lớn lên tôi lại thích nghe, vì bản tính tò mò con nít sắp lớn, thích biết chuyện người lớn. Nhứt là người lớn ấy lại là mẹ mình.

 

Mấy lúc gần đây mẹ bận rộn. Mẹ sắp đi lấy chồng. Người không còn thì giờ kể thêm một lần nào nữa. Tôi cũng muốn quên mà cũng muốn nhớ, lúc muốn nhớ tôi góp nhặt lại đầy đủ chi tiết vì mẹ tôi cứ bảo làm đàn bà con gái khổ lắm ! Khổ là khổ như thế nào?

 

Mười bẩy tuổi mẹ lấy cha tôi. Mẹ đi lấy chồng sớm để tránh bà ngoại sau khó khăn. Về nhà chồng mẹ ngây thơ vụng dại, nhưng có bố ở tuổi chín chắn ở tuổi tam thập nhi lập, mẹ tin bố vì tìm đúng chỗ dung thân. Bố thương mẹ và kín đáo bảo bọc. Cuộc sống đầm ấm tình cảm nhưng rất đạm bạc đến nghèo nàn. Bố tôi dậy học, đồng lương rất khiêm nhường. Sao cái xã hội Việt Nam, nghề dậy học ai cũng quý mà đồng lương quá ít ỏi. Mẹ tôi không thể đi làm phụ bố vì học hành dang dở. Vả lại bà bận con mọn, liên tiếp sáu năm liền với sự ra đời của bốn anh em tôi. Làm sao mẹ tôi đi làm phụ bố tôi nổi.

 

Cái nghèo quả là truân chuyên hết chỗ nói. Tôi oán hận cái nghèo và nhắc tới nó ở mọi khía cạnh tôi vẫn rưng rưng muốn khóc. Và ở một phía rất nhỏ của tôi thôi, mẹ tôi kể rằng mỗi lần bà sinh nở, không có tiền mua thịt nạc kho tiêu, chỉ ăn cơm với muối rang mặn nên mặt cứ vàng khè. Phải đợi tới cuối tháng có lương của ba tôi mới mua được ít thịt ba rọi. Bữa cơm ba tôi ngồi lấy đũa tách riêng từng chút thịt nạc kho lùa vô chén cơm của mẹ tôi, còn da heo và thịt mỡ chia đều cho anh em tôi. Mẹ tôi ăn từ từ nhẩn nha, chờ chồng quay đi, bà gắp vội thịt trong bát chia cho các con. Cứ thế có mấy lát thịt chạy qua chạy lại khắp lượt mọi người.

 

Thời đó, 1970-1975, mà đối với gia đình tôi, rau muống là xa xỉ phẩm. Mẹ tôi chỉ dám mua rau lang, rau dền, rau càng cua về luộc lấy nước chan cơm ăn để có sữa cho con bú. Bố tôi, một ông giáo dạy học nhiều năm, trong vùng Phú Nhuận ai cũng biết bố tôi nghèo, nghèo từ khi mới đến nhận lớp dậy, cho đến lúc có vợ và có 4 con.

 

Hay thật, nghèo mà sao đẻ nhiều con cái như vậy? Tết Tết, chúng tôi hau háu chờ phụ huynh học trò mang đến nhiều đòn bánh tét và nhiều hộp mứt đủ màu. Họ nhân hậu quá, chứ tuyệt nhiên có bao giờ bố mẹ tôi dám mua đồ ăn Tết. Quần áo tụi tôi chuyền nhau mặc đến sờn rách. Nhưng những chuyện nhì nhằng gì trong nhà cũng không thảm bằng chuyện mẹ tôi đi ăn quà. Người ăn một bát bánh canh có tôm khô, giò heo và tiết. Tôi nhớ mẹ tôi cứ kể và nước mắt cứ rơi lã chã là mẹ tôi thèm ăn một tô bánh canh từ lâu lắm rồi, từ ngày có mang anh tôi kia, nhưng lần nào bà cũng nhịn thèm. Vì tiền mua một bát bánh canh là tiền chợ cho cả nhà một ngày đó, thì bà thèm quay quắt, lý trí không còn thắng nổi.

 

Ngồi trong nhà nghe tiếng rao mà mẹ ứa nước miếng, nhưng không dám ăn ở nhà. Sáng hôm sau, xách giỏ ra chợ mua rau, mẹ tôi lại gặp ngay chị bán bánh canh quái quỷ ngồi ngay cổng chợ. Bà hóa liều, ngó trước ngó sau, thấy không có ai quen, bà làm bạo mua một chén ăn vội vàng, húp cạn láng không còn một chút nước. Ngon quá chừng!

 

Tội thay, lúc bà vừa trả tiền đứng lên, thì có bà nội tôi thấy, nội cự nự mẹ là mua về nhà mà ăn, đàn bà ăn quà giữa chợ, ăn vụng chồng con, không hay đâu. Mẹ tôi vừa xấu hổ, vừa tủi thân, giận và uất. Về nhà bà khóc và ói. Trong cơn buồn xót xa, bà nhìn thấy tất cả sự hèn hạ, khó khăn của nỗi cơ hàn!

 

Đi làm thì mẹ không đủ bằng cấp nghề nghiệp. Làm lao công thì mẹ bảo lương không đủ trả người giữ con và quán xuyến việc nhà. Muốn đi buôn thúng bán mẹt, không có vốn, vay mượn ư? Ai dám cho người nghèo vay? “Thằng cho vay là thằng dại, Thằng trả lại là thằng ngu!” Những ý tưởng lộn xộn làm mẹ tôi đau ốm mất ít ngày. Khi ốm no bò dậy, mẹ quyết định nhờ cô hai Tuyết dắt bà đi làm phu sở Mỹ ở Long Bình. Nhà cửa bà thuê người thu vén. Bà xông đi như vũ bão, ai có cản cũng không được.

 

Đời sống chúng tôi vài tháng sau và những ngày sau đó khá hơn. Được ăn cơm với canh và cá thịt. Mỗi lần trái gió trở trời, lỡ mà ốm đau chúng tôi đã được nhìn thấy ông bác sĩ và những viên thuốc tây, thay vì lúc trước toàn là cạo gió bầm lưng và uống nước gừng, nước xả nóng cổ kinh hồn. Cũng có lời khen, cũng có lời chê bai, bình phẩm, nhưng mẹ tôi đi sớm về trễ, đâu có thì giờ để ý. Cha tôi chăm sóc chúng tôi hơn và luôn luôn tận tụy, “gõ đầu trẻ” là nghề của chàng. Mẹ tôi có thêm tiền, cha tôi cũng không có gì thay đổi. Nói vậy chớ áo quần ông cũng tươm tất hơn một chút và đồng nghiệp nhìn ông, có người khé né hơn. Nhưng mặc cái áo mới, ông cũng ngại ngùng, tính ông dè dặt kín đáo.

 

Hai năm sau, cha mẹ tôi mua lại căn nhà đã thuê đã ở từ bao lâu. Ông bà xây cất lại khang trang hơn vì tụi tôi đã lớn lên một chút. Ba mẹ cũng ít còn eo sèo nhau nữa. Cuối năm 1974 bắt sang 1975, đúng lúc nhà tôi đi lần lần ra cuối đường hầm thì không may tiếng súng giao tranh quốc cộng ở quê hương mỗi ngày mỗi tiến về gần thành phố hơn và quyết liệt hơn. Tết 1974 qua đi, cộng sản mù quáng và tàn ác pháo kích lung tung vào các thành phố, nhất là thủ đô Sài Gòn. Cả Miền Nam lên cơn sốt. Cộng sản lấn chiếm đến nơi rồi. Những gia đình có thế lực và giàu có đã lần hồi di tản ra ngoại quốc.

 

Bố mẹ tôi thì thầm bàn tán nhiều ngày nhiều đêm báo chí Sài Gòn đăng tải cảnh Nam Vang ở Miên bị pháo kích đẫm máu, dân miền nam càng kinh hoàng thất đảm. Nay mai đây Sài Gòn sẽ chịu chung số phận thủ đô Cam Bốt?

 

Cha tôi có ý định ở lại quê hương, vả lại bà nội tôi già cả không muốn ra đi. Nhà tôi không giầu có để có thể tự túc. Cha mẹ tôi giằng co bàn tán. Có lúc đã cãi nhau to tiếng. Tiếng súng nổ càng gần hơn, gần thật gần đến nỗi cả hai không dám cãi qua cãi lại xô xát nhau nữa.

 

Cuối cùng mẹ tôi cứ dứt khoát mang cả nhà ra đi. Cha tôi nhường vì thấy tình hình quá nguy kịch! Mẹ tôi đi ra đường rồi lại về nhà rất nhiều lần. Rồi một ngày gần sát cuối tháng 4 may mà chưa quá muộn, mẹ tôi dắt được cả nhà vào phi trường Tân Sơn Nhứt.

 

Nhờ một chiếc xe của sở Mỹ mẹ tôi làm việc, nhờ ông Kyle, người đồng nghiệp của mẹ tôi lái, cả nhà tôi thoát được nhiều vòng rào kẽm gai kiên cố và cả biển người tội nghiệp, nhốn nháo ở cổng trại Phi Long, trực chỉ ra phi đạo, hướng về chiếc phi cơ khổng lồ Mỹ chờ sẵn.

 

Tôi nhớ như in, mẹ tôi vội vã lắm, bà rất tháo vát và nhanh nhẹn, nhỏ bé trong bộ áo quần cũ nát. Cái sắc tay giấy tờ, chỉ có thế, bà luôn đeo bên sườn. Kyle và mẹ tôi trao đổi vài câu nói vội vàng. Tôi có cảm giác mẹ đang chỉ huy việc di tản. Bà gọi là đi tản cư! Đi mau lên, lẹ lên…

 

Chúng tôi, 4 đứa bé được lên cầu thang trước tiên, cha tôi đi theo chúng tôi, theo sau là bà nội kéo chéo áo vừa đi lên vừa lau nước mắt. Mẹ tôi lên sau cùng. Kyle lên sau rốt. Một vài người nữa đi tập hậu. Máy bay đầy nhóc người và nhấp nhổm rồ máy, chạy lướt để cất cánh. Hình như có nhiều tiếng súng bắn theo. Chúng tôi ra đi như có phép mầu của bà tiên phù hộ.

 

Rồi mấy chục năm qua đi như gió lốc!

 

Thời gian đi vùn vụt mà mình không có cách nào nắm bắt. Kyle và mẹ tôi vẫn làm chung sở. Ông không có vẻ gì là đáng ghét, nhưng ông không thể đến gần chúng tôi như những đồng hương Việt Nam. Bây giờ anh em tôi đã lớn. Mẹ tôi vào tuổi 63, 64 gì đó. Vì bà đang xin về hưu. Cha tôi già nua, nay ông được 75, 76 tuổi. Ông vẫn đi lại khó khăn, nhưng ý nghĩ còn khá minh mẫn tuy có một đôi khi lẩn thẩn. Nhưng ông không quên nhắc chừng mẹ tôi là hãy nghiêm chỉnh thi hành những điều khoản bất thành văn mà bà đã cam kết trong “hiệp định di tản“ ngày nào… với người thi ơn cho chúng tôi.

 

Vì lẽ đó, mùa xuân này, mẹ tôi đi lấy chồng. Tôi biết nói gì nữa đây, hỡi trời?

 

Tôi không trách ai cả, kể cả trách cha trách mẹ. Lòng tôi rưng rưng như tuyết rơi ngoài trời, hoa tuyết… hoa tuyết đọng nước, những giọt nước đọng đầy trên cửa kính… lăn dài xuống… xuống mãi.

 

-- Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Quý bạn yêu nhạc muốn ủng hộ đêm nhạc Mắt Nâu với những tình khúc của Hoàng Tử Bé - Jayden Nguyễn tại Coffee Factory (15582 Brookhurst St, Westminster, CA 92683) vào ngày Lễ Tình Nhân, Thứ Sáu, 14 tháng 2, xin vui lòng nhắn tin đến 714-592-8941 để đặt vé.
Tuyết rơi như lông ngỗng, như hoa rụng tùng chùm, bám trên nóc xe, trắng xóa mặt đường và tan dưới lằn bánh xe cán ngang. Hơi lạnh len cả vào chân tóc. Mùa Đông thật sự đã đến.
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Bài viết của nhà thơ Ngu Yên ở Texas “Cảm Xúc Trong Tiếng Hát” có nhiều điều lý thú trong lãnh vực âm nhạc. Ngu Yên đã dấn thân trong hai lãnh vực Thơ, Nhạc… Ngoài các tập thơ đã được ấn hành, khoảng cuối năm 1995 ở Houston, Ngu Yên tổ chức những buổi ra mắt sách, băng nhạc, CD và tổ chức những buổi trình diễn ca nhạc. Năm 1998, Ngu Yên đứng ra thành lập nhóm Viet Art Productions để thỏa mãn sự ham vui theo sở thích cùng nhau vui chơi, tổ chức trên 50 buổi trình diễn như đại hội chợ, trong những dịp lễ, sinh hoạt cộng đồng… ngoài Texas còn có nhiều nơi khác. Vì vậy trong lãnh vực âm nhạc, Ngu Yên có kinh nghiệm và khả năng viết về đề tài nầy… Qua bài viết của tác giả Ngu Yên tạo cho tôi cảm hứng góp phần chia sẻ với “lời bàn Mao Tôn Cương” tế nhị vì cũng ngại làm phật ý với “ca sĩ” trình diễn và góp ý thêm cho sinh động trong chuyện vãn.
Thứ Tư, ngày 15 tháng 1, 2025, gia đình và đông đảo bạn hữu đã đưa tiễn họa sĩ/nhà văn Khánh Trường về nơi an nghỉ ở Peek Family, Westminster. Chương trình tang lễ ngắn gọn nhưng ấm cúng, thân tình, và thật cảm động với nhiều lời phát biểu chia sẻ của gia đình và nghệ sĩ thân hữu. Việt Báo đã đăng tải và chia sẻ nhiều bài viết từ bạn bè, văn hữu trong số báo đặc biệt về Khánh Trường ngày 3 tháng 1, 2025, sau đây là bài điếu văn của con gái út của Khánh Trường, Annie Nguyễn Trường An, đọc bởi chồng Cô trong buổi tang lễ bằng tiếng Anh, Lê Anh Dũng biên dịch sang tiếng Việt.
Khi con đọc những dòng này, ta không còn nữa. Nhiều người quanh đây có lẽ cũng không còn nữa. Lịch sử thay đổi nhanh đến chóng mặt. Ta nhớ năm 1982, một người bạn bảo rằng trong tương lai khi nói chuyện điện thoại, người ta có thể nhìn thấy mặt nhau. Điều ấy là không thể tưởng tượng được. Nhưng vào lúc này, bốn mươi năm sau, mọi thứ diễn ra đúng như vậy. Bốn mươi năm sau nữa, con sẽ ở đâu, làm gì, kỹ thuật tiến bộ đến đâu, ta không biết. Không ai biết. Nếu con đọc lại những dòng này, hãy nghĩ đến ngày hôm nay.
Trước thềm năm mới 2025 DL, thay mặt toàn thể ban biên tập và trị sự Việt Báo Daily News, chúng tôi xin kính chúc quý độc giả, các thân hữu, văn thi nhạc sĩ, cộng tác viên, quý thân chủ quảng cáo, mạnh thường quân… một năm mới an khang, thịnh vượng.
Trong vở hài kịch “As You Like It,” thi hào và kịch tác gia người Anh William Shakespeare (1564-1616) có một câu thoại nổi tiếng: “Cuộc đời này là một sân khấu, Và tất cả nam nữ đều là diễn viên; Họ xuất hiện và ra đi; Và một đời người đóng nhiều vai, Và tuổi thọ của hắn kéo dài trong một vở kịch bảy màn.” Trong câu thoại ở trên, chúng ta thấy Shakespeare nói đến hai điều liên quan đến thân phận con người: Tất cả mọi người đều là diễn viên trên sâu khấu cuộc đời, và đời người thật ngắn ngủi được ẩn dụ trong một vở kịch kéo dài bảy màn. Là diễn viên trên sân khấu cuộc đời, con người có thể là chủ nhân của những hành vi mà họ thao tác, nhưng cũng có thể con người chỉ diễn xuất theo kịch bản của ai đó soạn ra. Trường hợp đầu thì chính con người là tác nhân của những gì họ diễn xuất. Nói cách khác con người thể hiện vai trò của mình trên sân khấu cuộc đời qua chính những gì họ suy nghĩ, nói và hành động, hay nói theo Đạo Phật là các hành nghiệp.
Bằng tất cả tình yêu dành cho chữ nghĩa, hai tác giả trẻ của tập truyện này đang tự trưởng thành qua từng con chữ. Đó không phải chỉ là hành động viết, mà còn là hành trình khám phá bản thân và thế giới xung quanh. Họ viết để “náu thân” trong một góc nhỏ của cuộc đời, để tìm lại niềm tin và ước mơ, nhưng trên hết là để gìn giữ hình bóng Việt Nam trong lòng mình.
Tại Matter Studio Gallery, bắt đầu ngày 8 tháng 12, 2024 và kéo dài đến hết ngày 5 tháng 1, 2025, họa sĩ Nguyễn Việt Hùng sẽ trình làng bộ sưu tập tranh mới nhất mang tên Chances Matter. Đây là dịp hiếm hoi để giới mộ điệu nghệ thuật thâm nhập vào một thế giới sáng tạo riêng biệt, nơi nghệ thuật không chỉ là cái đẹp mà còn là câu chuyện của sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.