Hôm nay,  

Những điều mẹ dạy

03/08/202221:07:00(Xem: 3848)
Tùy bút Mùa Vu Lan

nguyencau

 

Tôi là út trong một gia đình có năm anh chị em. Năm tôi lên chín, cha qua đời. Năm ấy mẹ vừa bốn mươi sáu tuổi. Tôi quấn quít bên mẹ và người chị thứ ba nhiều nhất, kể cả những năm lên học trường huyện. Mẹ và chị chắc cũng thương tôi út ít, lại mồ côi cha sớm nên dành hết những lo lắng, săn sóc và chìu chuộng tôi trong khả năng có thể của gia đình.

 

Mẹ tôi là con thứ. Trước khi lấy chồng, mẹ được học chữ Nho và sau này về nhà chồng, lại được ông nội cho đi học thêm quốc ngữ, một trường hợp hiếm có trong bối cảnh nông thôn Việt Nam ngày ấy. Có lẽ nhờ tiếp thu, dù không nhiều, cả hai dòng văn hóa đó, lại sống trong một gia đình nề nếp nên mẹ tôi thường vận dụng lời thánh hiền trong việc dạy dỗ con cái, điều mà chúng tôi ít để ý và phần tôi, mãi đến sau này mới nghĩ ra.

 

Không rõ ngày xưa, khi bắt đầu học chữ Nho, mẹ có bắt đầu bằng Tam thiên tự hay không nhưng điều chắc chắn là bà thường nói nhiều về Minh tâm bửu giám (quyển sách mà khi bắt đầu kiếm được những đồng tiền đầu tiên trong cuộc đời, tôi đã mua để tặng mẹ). Những ngày còn ở bên mẹ hoặc về thăm nhà sau một tuần lễ trọ học, thường nghe mẹ nói với tôi hoặc khi đàm đạo với khách hàng những câu rút từ Minh tâm bửu giám để khuyên răn hay lý giải một điều gì đó trong cuộc sống đời thường.

 

Như bất kỳ một chú bé nhà quê nào khác, những trò chơi ấu thơ của tôi cũng theo thời vụ: bắt cào cào, châu chấu, đá banh, thả diều, bắt ve sầu . . . Tôi ít được chơi hoàn toàn tự do thỏa thích như những bạn đồng lứa vì bị mẹ “kìm kẹp” nhắc nhở.

 

Còn mãi một ấn tượng sâu sắc, ảnh hưởng đến tình cảm, tính cách tôi sau này là lần dùng ná cao su bắn chết một chú bồ chao trên cành mận thấp trước sân nhà. Khi tôi phát hiện ra thì hai chú chim con đang được mẹ mớm mồi và tập chuyền cành. Sau khi bắn rơi con chim mẹ, tôi mang vào khoe thành tích với mẹ để chuẩn bị chạy ra hạ tiếp cả bầy. Mẹ nhìn xác con chim, không nói lời nào, có vẻ buồn buồn, mãi một lúc lâu sau mới hỏi: “Giả sử mẹ kiếm thức ăn về cho con, đến nhà, một người nào đó chờ sẵn và bắn chết mẹ thì con lúc đó sẽ như thế nào? Bây giờ con lại còn muốn bắn chết con chim bố khi đang kêu khóc về cái chết của vợ mình!” Phải nói thật lòng, lúc đó mặc dầu hiếu thắng nhưng tôi vẫn cảm được điều mẹ nói và thấy xấu hổ, để rồi từ đó về sau, tôi không bao giờ còn có ý định bắn chim nữa.

 

Một trưa hè nọ, ở nhà chỉ có hai mẹ con tôi. Không gian rộng lớn và vắng vẻ tràn đầy tiếng ve rên rỉ ngoài vườn. Tôi ngồi chơi khi mẹ đang khâu vá ngoài hiên. Không hiểu sao trong tâm trí cậu bé non nớt ấy thoáng hiện lên ý nghĩ về cái chết. Tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, chết là gì? Chết rồi, người ta sẽ đi về đâu?” Mẹ bảo: “Con còn nhỏ quá, hỏi điều đó làm gì ? Bây giờ cha đã mất, các anh chị rồi sẽ có vợ, có chồng. Ai rồi cũng phải lo cho gia đình họ. Còn con, giờ phải gắng học để sau này khỏi khổ”. Có lẽ, với tôi đó là lần nhắc nhở quan trọng nhất, lớn lao nhất mà tôi mãi mang theo để định hướng cho đời mình. Sau này, khi lên cấp 3 và cả ở đại học, bà còn nhắc nhở đôi lần nhưng chỉ cần một lần, lần đầu tiên mà tôi đã ghi lại ở trên.

 

Tôi sinh ra vốn nhỏ con, ốm yếu, lúc nhỏ vẫn hay đau vặt, cảm cúm luôn. Mẹ tôi thường phải cạo gió cho tôi, những lúc như thế đau không chịu thấu, có khi phải bò lăn bò càng trên chiếu. Mẹ bảo: “Con cứ tưởng tượng như mình đang làm điều gì sai trái, bị cảnh sát bắt vào tù tra khảo thì sẽ thấy việc mẹ cạo cho con nào có ăn thua gì”. Bà chỉ nói như thế mà tôi “ngộ” hẳn ra để thấy cái đau bỗng nhẹ không. Hoan hô mẹ, mẹ đúng là bà tiên với chiếc đũa phép quá nhiệm màu!

 

 

Bắt đầu năm 1965, chiến tranh lan ra khắp nông thôn miền Nam, gia đình tôi phải về phố tránh bom đạn. Ba gia đình anh chị vẫn ở chung với mẹ và tôi. Nhà không rộng, các cháu lại thường đùa giỡn chọc phá, đuổi bắt nhau, vốn lo sợ các cháu chạy té, mẹ hay nhắc nhở. Lời nhắc lặp lại nhiều lần tôi vẫn nhớ như in: “Vui chừng nào thì buồn chừng đó, cười bao nhiêu thì khóc bấy nhiêu đó cháu!” Sau này khi đã đọc ít nhiều, tôi tự hỏi phải chăng cái tư tưởng âm trung hữu dương căn đã được mẹ “cụ thể hóa” qua lời nhắc đó?

 

Lớn lên, có gia đình, tôi vẫn hay dùng những câu ngày xưa mẹ nói để nhắc vợ con. Đến nỗi, vợ tôi cũng “lậm”, gặp việc lại thốt lên: “Kiến bất thủ như tầm thiên lý” (*).

 

Có dịp tâm tình với mẹ, tôi ta thán về cái nghèo của mình, bà thường an ủi: “Thiên sanh nhân hà nhân vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn?”**.  Sau này mỗi lần bế tắc trong cuộc sống tôi lại nhớ mẹ, nhớ lại câu trên để cảm thấy . . . nhẹ lòng!

  

Mẹ ơi, ngày xưa, con cứ tưởng thằng con út ốm yếu này vẫn được ở bên mẹ hoài để được chở che, dạy bảo, săn sóc. Nhưng cuộc đời đã đẩy con đi xa mẹ, từ một tuần của những năm trường huyện đến vài ba tuần của những năm trường tỉnh, đến cả tháng của những năm sinh viên, rồi sau này là miệt mài một hai năm mới về dăm ba ngày với mẹ. Biết mẹ luôn đợi chờ, mong ngóng con cháu về chơi (nhất là những ngày tết, ngày hè), nhưng nợ cơm áo đời thường đã đẩy đưa để rồi dẫu trong lòng không muốn, chúng con bỗng như trở thành những đứa con bất hiếu!

 

Có những năm, đi chùa nhân lễ Vu Lan, được gắn cái bông hồng lên ngực, thấy hạnh phúc vì mình đang còn mẹ nhưng sau đó lại thấm thía buồn vì tính ra mình đã xa mẹ gần bốn mươi năm!

 

Nhà thơ Tường Linh chỉ mới xa mẹ có mấy năm thôi mà đã thốt lên:

 

Mẹ nghìn xa, sáu năm rồi mẹ hỡi

Con không về tóc mẹ trắng nhiều không?

Mùa mưa bấc gió sông Thu lành lạnh

Lửa ai nhen cho mẹ bớt se lòng?

 

Các cháu nay đều rất chăm học và rất thương yêu loài vật. Chỉ cần một câu nhắc qua là các cháu đã tự ý thức. Phải chăng trong chúng có được những tích cách đó là nhờ thừa hưởng gène trội của bà?

 

Ngày xưa khi dạy chúng con điều hơn lẽ thiệt trong cuộc đời, mẹ dẫn cả Minh tâm bửu giám, “giáo án” đó đâu có phần “yêu cầu tư tưởng” phải đạt. Nhưng chính những lời dạy ấy đến bây giờ con vẫn còn nhớ, vẫn thực hiện và dạy lại con cái mình. Tất cả há chẳng nói lên rằng mẹ chính là Cô Giáo Đầu Tiên Và Vĩ Đại Nhất của anh chị em chúng con đó sao?

 

Nguyễn Hoàng Quý

 

(*) Kiến bất thủ như tầm thiên lý: Tạm dịch là thấy (một món đồ, một vật cần dùng bỏ rơi vãi đâu đó trong nhà) mà không cất giữ thì sẽ phải tìm cả ngàn dặm.

 

(**) Thiên sinh nhân hà nhân vô lộc – Địa sinh thảo hà thảo vô căn: Tạm dịch là Trời đã sinh ra người thì không ai là không có lộc (Trời). Đất đã sinh cây cỏ thì không cây cỏ nào không có rễ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.