Hôm nay,  

Gánh nặng

6/29/202221:05:00(View: 3339)

woman-staring-ahead


Trên m
ột con đường lồi lõm đá chai cứng

Tôi gặp một cô bé

đang cõng cậu em thơ dại

 

“Bé con ơi

Con đang vác gánh nặng quá”

Cô bé lặng nhìn tôi và nói

“Ông ơi, có phải gánh nặng đâu

Đây là em trai con mà!”

 

Tôi sững sờ

Và lời của cô bé

Khắc sâu trong tâm

 

Rồi khi loài người mang khổ đau đè nặng trên vai tôi

Nghị lực đã rời xa tôi

Câu nói ấy lại vang lên

“Có phải gánh nặng đâu

Chỉ là em của ông thôi mà”.

(Theo motspositifs).

 

*

 

Câu chuyện ca cô bé học trò lớp Đệ Tam Yersin

(Chuyện tht t li k ca một thy giáo cũ)

 

Sau khi đọc đoạn văn trên của em, tôi nhớ đến câu chuyện thật của tôi sau đây, về số phận của một học trò lớp Đệ Tam A. Đó là câu chuyện mà khi trở về Pháp tôi kể nhiều lần nhất. Mỗi lần nhớ lại khoảng thời gian tôi ở Việt Nam là tôi lại nhớ đến chuyện của một cô học trò lớp Đệ Tam A mà tôi không hề biết tên, thậm chí cô họ gì tôi cũng không biết. Đó là thời gian nhập học lúc tôi dạy năm thứ nhì ở trường Yersin, Dalat. Lớp Đệ Tam Văn Chương, gồm có 54 học sinh đã ghi danh và hiện diện trong lớp. Tôi không thể nhớ tên các em trong thời gian ngắn ấy được.

 

Vào kỳ nghỉ Giáng Sinh năm ấy, tôi phải lấy máy bay để đến các đồn điền ở DakLak, đó là phương tiện duy nhất để đến Ban Mê Thuột. Ở phi trường Liên Khương Dalat, trong khi chờ đến giờ lên tàu, có thể kéo dài hàng giờ, vì lý do phải nhường ưu tiên cho các chuyến bay quân sự, nên các chuyến dân sự phải kiên nhẫn chờ để cất cánh, một cô gái đã đến chào tôi, và khi nhìn vào ánh mắt ngạc nhiên của tôi, biết rằng tôi không nhận ra, cô ấy vội xin lỗi và nói rằng cô chỉ học lớp của tôi trong thời gian rất ngắn, ở lớp Đệ Tam có học cổ ngữ, và sau đó cô phải nghỉ học để chăm lo cho các em của mình từ khi mẹ cô qua đời.

 

Biết rằng chờ chuyến bay rất lâu và chán, cô bé ân cần mời tôi đến nhóm bạn của cô ấy để nói chuyện cho vui. Cô kể rằng gia đình có sống trong một ngôi làng xa thành phố Đà Lạt, cả nhà nhờ vào hoa lợi của một xưởng cưa nhỏ để mưu sinh, nhưng rồi cha mẹ cô đều đã mất nên cô phải quán xuyến xưởng cưa để các em trai và gái của cô có thể tiếp tục đi học ở trường trung học Yersin; cô bé con kể tên các học trò trong lớp của tôi mà tôi không thể nhớ tên hết được, nhưng tôi không hề nghi ngờ về tính xác thực của những điều cô nêu ra. Bỗng dưng gương mặt của cô bé hiện ra trong tâm trí tôi và tôi nhớ lại cô bé đã có lần yêu cầu tôi một điều.

 

– Có phải em là người đã yêu cầu tôi nói chậm hơn một chút vào đầu năm học, đúng không?

 

– Dạ thua thầy đúng rồi. Đáng lý ra em không nên nói như vậy. Em xin lỗi đã tỏ ra bất lịch sự với thầy.

 

– Không sao đâu, em đã làm đúng và tôi có lời khen em đã tỏ ra can đảm đưa tay lên để yêu cầu một việc thật hoàn toàn chính đáng.

 

Tôi đã nhớ lại lần em phát biểu hôm đó và đã trấn an em rằng học trò có quyền đặt câu hỏi hoặc cho thầy cô biết về những khó khăn để tiếp thu bài học, mà tôi không thú nhận với cô rằng lúc còn ngồi ghế trung học, tôi đã là một chuyện gia đưa tay phát biểu, trong những giờ học vật lý, bởi vì tôi là một đứa rất chậm hiểu bài giảng của thầy.

 

Được nói chuyện với cô bé thật là thú vị khi phải chờ máy bay trong hơn hai tiếng, và thời khắc đã trôi qua rất nhanh đến nỗi tôi thật tiếc nuối sao thời gian không kéo dài thêm nữa. Khi loa phóng thanh thông báo lên tàu, cô ấy và tôi phải chia tay. Tôi nghĩ rằng có lẽ tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô bé bởi vì cô đã không còn đến trường nữa.

 

Sau biến cố Tết Mậu Thân 68, và trường lớp đã sinh hoạt trở lại, tôi lại gặp cô bé ở khu Hòa Bình Đà Lạt, và cô lại lễ phép đến chào tôi. Lần này thì tôi nhận ra cô bé ngay và hỏi thăm về gia đình cô, nhất là tôi rất lo âu không biết họ có bị tổn thất vì diễn biến phức tạp của thời sự hay không. Cô trấn an tôi và nói rằng họ không bị ảnh hưởng và các em của cô vẫn đến trường Yersin. Cô hỏi thăm tôi rất kỹ càng về tình trạng của tôi, vì người nhà cô đã cho biết về tất cả những khó khăn mà tôi phải đương đầu từ sau cuộc dội bom xuống khu Pasteur tôi ở, phá hủy căn nhà, và việc tôi đã mất hết toàn bộ những vật dụng cần thiết của tôi. Cô ấy xin lỗi khi biết đất nước của mình là nguyên do gây nên những phiền nhiễu cho tôi và trong ánh mắt buồn não của cô tôi đã nhìn thấy sự cảm thông chân thật cho tất cả những thầy cô từ Pháp qua, nạn nhân của biến cô. Cô bé thật vui tươi, trên môi luôn nở nụ cười, làm lây lan không khí chan hòa khiến cho vài phút nói chuyện với cô sẽ làm cho tinh thần bạn phấn chấn lên ngay tức khắc.

 

Rồi tôi gặp lại cô bé lần cuối cùng ở bưu điện và cô lại đến chào tôi. Nhưng lần này tôi rất ngạc nhiên: Tôi nhận thấy bụng cô tròn tròn, và khi thấy tôi nhìn điều khác lạ ấy cô vội vàng nói:

 

– Da, như thầy nhận thấy, em sắp có em bé và đại gia đình của em sẽ lớn thêm ra. Em rất hạnh phúc, thưa thầy ạ.

 

– Tất nhiên rồi em, đây là một sự kiện rất vui và thầy chúc mừng em, mong rằng mọi việc sẽ diễn biến suôn sẻ khi bé chào đời, đó là lúc nào vậy em?

 

Cô bé nói vào khoảng cuối tháng Năm, đó cũng là ngày tôi sẽ trở về Pháp và khi tôi thông báo cho cô biết điều này, cô bảo rằng các em của cô sẽ rất tiếc nhớ tôi.

 

Sau đó chúng tôi tạm biệt nhau. Không lâu sau khi gặp lại cô bé lần ấy, khi tôi trở lại lớp học, trò Mạc Tích Hào đến chào tôi và tỏ ra ngạc nhiên làm sao tôi có thể quen được cô học trò chỉ học vài tuần ở lớp Đệ Tam A. Tôi giải thích rằng chỉ có sự ngẫu nhiên đã khiến cô ấy gặp tôi và cô luôn luôn lễ phép đến chào hỏi tôi. Cậu học trò hỏi tôi có biết lý do vì sao cô ấy bỏ học không. Vừa thấy cô ấy đang mang thai, tôi trả lời rằng có lẽ đó là nguyên nhân cô phải nghỉ học, mặc dù tôi không biết cô ấy đã có gia đình.

 

– Không đúng đâu thưa thầy. Cô ấy vẫn còn độc thân.

 

Tôi chẳng hiểu tí gì cả.

 

– Vậy thầy không hề hay biết về thảm kích của gia đình cô ấy sao?

 

– Không, tôi không biết gì cả!

 

Và rồi cậu kể cho tôi nghe rằng hai năm trước đây, cha cô ấy là đại biểu của thôn làng đã bị bọn Việt Cộng xét xử vào một đêm nọ, bị toà án nhân dân kết tội và bị hành quyết ngay trước mắt gia đình ông. Vợ ông ấy đã phải tiếp tục quản lý xưởng cưa để các con có thể tiếp tục việc học ở những trường tư thục của Pháp. Thế nên con gái lớn của họ đã vào học lớp Đệ Tam của tôi. Kế tiếp, ba tuần sau ngày nhập học, bọn cướp đã vào tấn công xưởng cưa vào ban đêm để cướp tiền bạc. Chúng hãm hiếp người mẹ, rồi lại làm hại luôn cả đứa con gái lớn; khi người mẹ tìm cách can thiệp thì bị chúng giết. Và để bồi thêm cho nỗi khốn khổ ấy, thật không may khi cô bé đã mang thai vì sự hãm hại của bọn chúng.

 

Tôi đứng sững, kinh ngạc không vì câu chuyện thảm thương về số phận của cô bé, vì tôi đã biết bọn cướp gồm những kẻ đào ngũ từ các quân đội đang xung đột hung hãn như thế nào khi chính tôi đã từng chứng kiến cảnh chúng xâm nhập vào nhà một chủ đồn điền ở Lâm Đồng vào một buổi tối, bọn Việt Cộng đã giết cả gia đình. Nhưng vì tôi không bao giờ cảm nhận được rằng cô bé đã chứng kiến và là nạn nhân của chừng ấy thảm kịch mà không tỏ lộ bất cứ điều gì, và tôi đã được an ủi khi phải chờ đợi chuyến bay lâu như thế, được cô bé kể về các em của cô trong những lớp học khác nhau, rồi cô bé lại lo âu cho những thầy cô người Pháp sau khi gặp bao nhiêu vấn đề vì cuộc tấn công năm 68, trong khi chỉ với tuổi đời 17 cô đã phải nhận trách nhiệm nuôi dạy bốn em gái và hai em trai.  

 

Và giờ đây, mỗi khi tôi có nỗi u sầu, tôi không thể nào không nghĩ đến cô bé và phương cách cô đã vượt qua từng ấy thử thách bằng thái độ tích cực. Tôi luôn tự nhắc nhở mình, những mối bận tâm nhỏ bé hằng ngày của tôi, cho dù nghiêm trọng thế nào cũng chẳng đáng bao nhiêu so với những gì cô ấy đã gánh chịu và đau khổ.

 

Khi tôi kể lại chuyện này để mọi người giải thích về những khó khăn họ phải gánh chịu, thì được biết rằng đối với người Châu Á, chịu những điều như vậy là bình thường vì họ theo thuyết định mệnh của truyền thống Phật giáo. Tôi không biết điều này có giải thích được thái độ kín đáo và can đảm của cô học trò trẻ kia không, nhưng tôi thật khâm phục cô ấy vô cùng. Cử chỉ của cô ấy sẽ luôn tồn tại mãi trong tôi như một tấm gương về nghệ thuật sống, của người không nhắm vào việc làm người khác bực bội vì những khổ đau của chính mình mà tự giác can đảm chịu khổ, không oán thán vô ích.

 

Cuối cùng, chính cô học trò đã cho thầy giáo của cô một bài học có phẩm chất rất cao về nghệ thuật sống, và đối với tôi, bài giáo huấn của cô có giá trị gấp nhiều lần so với tất cả những bài học về sử địa mà tôi có thể mang đến cho cô bé.

 

– Tháilan dịch từ lời kể của thầy Michel Michaut, thầy giáo trường Yersin Dalat.

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.