Hôm nay,  

Chuyện kể cho K & T

13/11/202317:38:00(Xem: 1946)
Tùy bút

boat-people 2

“Chuyện kể cho K & T” là những câu chuyện của người mẹ kể cho hai con, những đứa trẻ sinh ra và lớn lên bên ngoài tổ quốc. Là tiếng ầu ơ bên nôi ấm khi ngoài trời tuyết đang rơi. Là tiếng lòng của hàng triệu con người bị bứt rời khỏi mảnh đất thương yêu, khỏi căn nhà yêu dấu. Là suy tư của cả một thế hệ muốn truyền đạt lại cho các con nguồn gốc của chúng. Là những gì đã xảy ra trong cuộc đời, trong hành trình gian nan của người Việt tị nạn. Là những câu chuyện của sự sống còn, là sức mạnh đương đầu với nghịch cảnh, là tất cả, tất cả những gì đã hình thành nên một cộng đồng từ cách sống, cách hành xử, cách biết ơn, cách trả ơn…
   Đó là những câu chuyện của những con người bình thường bị cuốn đi trong một cơn lốc. Một cuộc di cư vĩ đại, có máu, nước mắt, và ước mơ!
    Ngày 30/4/75, miền Nam Việt Nam mất vào tay cộng sản, hàng triệu con người bị đánh giạt ra khỏi đất nước mình. Thế nhưng, cuộc chiến đã không ngừng lại ở đó như cái nhìn của thế giới. Người Việt tị nạn vẫn hiện hữu cho lý tưởng Tự Do trên quê hương mình, dù đã cách xa hàng mấy đại dương. Cộng đồng người Việt hải ngoại là một cộng đồng đã không ngừng vươn lên, không ngừng yêu thương, không ngừng tranh đấu để mà gìn giữ nguồn cội và hình thành nên một thế hệ trẻ với ý thức sẽ góp tay xây dựng lại Việt Nam, một nơi chốn mà cha mẹ họ mang nặng món nợ máu xương với những người đã ngã xuống.
    Như những phụ nữ Ukraine lưu vong, khi được hỏi họ sẽ chọn học gì để ổn định cuộc sống. Thật bất ngờ! Câu trả lời của họ là “học gỡ mìn”. Chia sẻ với các nhà báo, những phụ nữ này nói rằng  Nga đã phát động cuộc chiến ở Crimea vào năm 2014. Theo ước tính của chính phủ họ, khi  chiến tranh chấm dứt, phải mất 20 năm mới gỡ được hết bom mìn do cả hai phía cài đặt trên khắp đất nước Ukraine xinh đẹp. Học gỡ mìn sẽ là môn học duy nhất mà họ chọn. Ôi! đẹp làm sao những phụ nữ dũng cảm. Những giấc mơ hồng Ukraine.
    Chúng ta cũng từng có những ước mơ tương tự như thế. Dù năm tháng trôi đi, không ai có thể quên được bao ước vọng những ngày đầu tị nạn. Nhớ những hy sinh vô bờ bến của một lớp người. Những mái ấm chỉ còn lại người mẹ đơn độc và các con. Những người đàn ông đã rời mái nhà, rời tình yêu của họ cho món nợ với quê hương, với đồng đội ở quê nhà. Ngày ấy, người ra đi không mong cầu sẽ có người biết đến mình. Ngoài một số ít những cái tên quen thuộc được nhắc nhở như Trần văn Bá, Mai Văn Hạnh, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng... còn có hàng trăm nấm mồ hoang vu ở vùng rừng núi Thái Lan. Chim ở đó, nắng ở đó còn nhớ bóng dáng họ, lá rừng ở đó còn ủ ấp hình hài, xương thịt họ. Ôi! những người con của đất mẹ. Những giấc mơ xanh Việt Nam.
    Ru Mi, nhà huyền môn người Ba Tư bảo rằng: “Khi ánh sáng ở trong tim, bạn sẽ tìm thấy đường về nhà”. Mỗi người Việt tị nạn là một câu chuyện để kể. Mỗi câu chuyện đều dẫn lối chúng ta trở về với mái nhà của chính mình, với lý tưởng tự do. Và dường như khi con người có đủ thành tâm, khi tha thiết, sắt son với một điều gì, chúng ta có thể biến những điều không thể trở thành có thể. Đó là câu chuyện về lá cờ của miền nam tự do.
    Vào lúc 11 giờ 30 sáng ngày 30/4/75,  quân đội bắc Việt cho hạ lá cờ màu vàng ba sọc đỏ trên nóc Dinh Độc Lập xuống để thay bằng lá cờ của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”. Cùng lúc ấy, nhiều người dân miền nam cũng lặng lẽ đem cờ vàng ra đốt cùng những bộ quân phục của người thân trong gia đình. Nước mắt thầm lặng của họ và những đám khói dang dở trên lối đi tưởng đã là dấu chấm hết cho lá cờ ấy. Thế nhưng mười năm sau, lá cờ ấy lại xuất hiện trên một bản vẽ của cậu bé gốc Việt tại một lớp tiểu học ở Hoa Kỳ.
    Cô giáo của em, một giáo viên trẻ người Mỹ, trao lại bức vẽ cho cậu bé, cô dịu dàng giải thích: “Em vẽ sai rồi, về nhà vẽ lại đi, đây không phải là lá cờ Việt Nam”.
    Hãy tưởng tượng đến đôi mắt ngơ ngác của cậu bé. Có thể cả thế giới đã quên rồi lá cờ ấy, nhưng riêng đối với em, từ thuở còn ngồi trong xe đẩy em đã thấy lá cờ ấy tung bay rợp phố trong các cuộc xuống đường cùng ba mẹ.Và lá cờ ấy, chính là lá cờ của đất nước nơi ba mẹ được sinh ra như đầu đề của bài tập về nhà: “em hãy vẽ lá cờ quốc gia, nơi ba mẹ của em sinh ra”.
    Rồi đến khi cậu bé vẽ lại bức vẽ bằng cờ đỏ sao vàng theo lời cô giáo thì mẹ em không đồng ý. Bà quả quyết với em rằng chỉ có cờ vàng mới là lá cờ của người Việt, mới là biểu tượng của người Việt Nam. Lạ lùng làm sao, như một câu châm ngôn Hãy vươn đến bầu trời, dù không thể hái được vì sao sáng nhất nhưng ít ra, bạn cũng có thể đứng giữa muôn vàn tinh tú để thắp sáng ước mơ của bạn”. Người Việt tị nạn đã thắp sáng lý tưởng tự do của mình. Họ đã làm được điều họ muốn là lên tiếng cho một miền nam bị bức tử. Và nước Mỹ đã lắng nghe họ, tiếng nói của những người Việt Nam yêu chuộng tự do.
    Dù cộng sản đã nhuộm đỏ quê hương, nhưng chủ nghĩa cộng sản chưa bao giờ thực sự chiếm được niềm tin yêu của người dân cả hai miền, nếu không muốn nói là ngược lại. Và lá cờ đỏ sao vàng dù được thế giới công nhận nhưng vẫn hoàn toàn vắng bóng ở những nơi có mặt người Việt hải ngoại. Một dạo ở trong nước, có một số bạn trẻ miền bắc đã lén lút treo cờ vàng. Họ không có món nợ máu xương với cuộc chiến quá khứ, theo tôi, họ chỉ muốn thể hiện lòng yêu mến về một chính thể tự do đã từng hiện diện trên quê hương mình. Tôi ước mong một ngày nào đó, người Việt trong và ngoài nước cùng có chung một biểu tượng. Khi ấy, màu cờ sắc áo không còn quan trọng nữa như suy tư của Hoàng Anh, một bạn trẻ trong nước, nói với phóng viên của Cali Today:
    “… Nếu có một ngày nào đó chế độ VNCH có thể trở lại trên quê hương Việt Nam thì đó thực sự là điều rất tuyệt vời, còn nếu không thì bất kỳ một Đảng phái nào mang lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho Quốc gia và dân tộc Việt Nam tôi cũng sẽ hết lòng yêu mến”.
    Trong rất nhiều năm sau này, với những nỗ lực không ngừng của người Việt tị nạn, Nghị Quyết Cờ Vàng ra đời như một tuyên ngôn tự do. Lá cờ của miền nam tự do, ngày nay không những được công nhận trên nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ mà còn lan sang đến các quốc gia khác như Canada và Australia.
 
***
 
Suốt hai năm trong đại dịch Covid, con đường Bolsa, đại lộ Trần Hưng Đạo vắng tanh. Không ai còn được nhìn thấy màu cờ vàng rợp phố cùng những buổi xuống đường để phản đối những đàn áp ở quê nhà. Chạnh nghĩ, mai này khi chúng ta không còn hiện diện nơi đây. Khi bóng dáng chúng ta chỉ là bụi mờ trên những con phố ở Bolsa, ở Tuly, ở BellAir… thế hệ mai sau sẽ biết gì về những điều từng xảy ra nơi này, vì sao lại có ngôi tượng Đức Thánh Trần và đại lộ mang tên ngài?
    Mỗi chúng ta đều có một câu chuyện để kể. Và mỗi câu chuyện đều mang một ý nghĩa, một lời nhắn nhủ cho các thế hệ tương lai. Xin hãy góp những câu chuyện của bạn với chúng tôi, như góp một đoá hồng tươi thắm dưới chân tượng đài người mẹ Tự Do. Những đoá hồng mà suốt nửa thế kỷ qua, chúng ta đã cùng nhau đặt trên cái nền gạch được xây nên bởi tình yêu và lòng biết ơn.
 

Nguyệt Quỳnh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm thứ Bảy đã trao cho các nhà lãnh đạo châu Phi đang tìm cách làm trung gian hòa giải trong cuộc chiến ở Ukraine một danh sách các lý do tại sao ông tin rằng nhiều đề xuất của họ là sai lầm, dội một gáo nước lạnh vào một kế hoạch đã bị Ukraine bác bỏ phần lớn.
Trong một hồ sơ pháp lý được đưa ra vào cuối ngày thứ Sáu, các công tố làm việc cho Công tố đặc biệt Jack Smith đã thông báo với tòa án rằng thông tin mà họ sẽ chuyển giao cho các luật sư của Donald Trump như một phần của quá trình khám phá sẽ chứa một số thông tin về "các cuộc điều tra đang diễn ra" có thể dẫn đến các cáo buộc mới.
Có lẽ, không ai trên đời này mà không từng ít nhất một lần cảm nghiệm sự cô đơn. Nhiều người sợ hãi cô đơn, nhưng cũng có không ít người thích nó. Thi sĩ và tiểu thuyết gia người Áo Rainer Maria Rilke (1875-1926) vào khoảng những năm từ 1902 đến 1908 đã viết cho một sinh viên 19 tuổi có tên là Franz Xaver Kappus (1883–1966) đang học tại Học Viện Quân Sự ở thành phố Vienna của Áo, mà sau đó người thi sĩ trẻ này đã tập hợp các lá thư của Rilke và in lại trong tác phẩm “Letters to a Young Poet” [Những Lá Thư Cho Một Thi Sĩ Trẻ]: “Điều cần thiết chỉ là điều này: sự cô đơn, sự cô đơn nội tâm bao la. Quay vào bên trong chính bạn và không gặp một ai trong nhiều giờ đồng hồ -- đó là điều bạn cần phải đạt được.”
Từ đầu năm đến giờ, giới truyền thông liên tục đưa những tin tức tốt đẹp về thị trường xe điện (EV) ở Mỹ cũng như trên toàn thế giới. Mẫu xe bán chạy nhất thế giới trong quý 1 trên toàn cầu là chiếc Tesla Model Y với 267,200 chiếc, đứng trên cả những mẫu xe xăng nổi tiếng lâu đời của Toyota như Corolla, Camry… Số lượng xe điện bán ra trên toàn cầu tăng gấp ba chỉ trong ba năm, từ 2020 đến 2022. Các hãng chế tạo xe hơi lớn trên thế giới đều đưa ra nhiều mẫu xe điện mới, khiến cho khách hàng ngày càng có nhiều lựa chọn hơn khi mua xe điện. Đặc biệt phải nhắc đến vấn đề giá. Hiện nay đã có nhiều mẫu xe điện tại Mỹ có giá không cao hơn so với các mẫu xe xăng. Đó là chưa kể đến những khoản hoàn thuế ưu đãi dành cho xe điện. Nếu tính thêm những khoảng ưu đãi từ chính phủ liên bang, tiểu bang, mẫu xe điện Tesla Model 3 ở California nay có giá cơ bản chỉ vào khoảng dưới $30,000. Quả thật là rất hấp dẫn nếu so sánh với chỉ cách đây một năm.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà khoa học kỹ thuật kiểm soát hầu hết mọi mặt của môi trường sống, được che chở trong môi trường nhân tạo đến nỗi nếu chúng ta không xem mục thời tiết trên điện thoại di động thì chúng ta không biết bên ngoài nóng hay lạnh; chúng ta nhìn hoa anh đào nở trên màn ảnh và biết trời sang xuân và tuyết rơi trên Tivi là dấu hiệu của mùa đông. Tuy nhiên, mặc dù chúng ta không còn phải dầm mưa dãi nắng như trước, có thể chúng ta lại phải đương đầu với một vấn đề khác mà chúng ta ít để ý đến, đó là ô nhiễm ngay trong không khí mà chúng ta đang hít thở.
Rất lâu trước khi loài người biết viết, người ta đã truyền tai nhau những câu chuyện về linh hồn, ma quỷ và những thứ thình lình xuất hiện trong đêm. Ngày nay, những câu chuyện tương tự vẫn còn được kể lại, có liên quan đến niềm tin tôn giáo, khả năng ngoại cảm, hào quang, phép lạ và ma quỷ… Là một khoa học gia, dĩ nhiên Don Lincoln nghi ngờ về tất cả những niềm tin đó. Khi nói chuyện với những người tin vào những điều đó, Don Lincoln sẽ chỉ ra những mâu thuẫn trong ý tưởng hoặc lý do tại sao ông không chấp nhận kết luận của họ. Thường thì những cuộc trò chuyện này sẽ kết thúc với việc người kia nói: “Tất nhiên là ông không tin rồi. Ông là một khoa học gia mà. Làm gì biết về mấy cái này. Đó là thứ siêu nhiên.”
Chính quyền Texas lại đẩy di dân lên xe buýt và chở vào Caliofrnia: Một nhóm người di cư đến bằng xe buýt ở trung tâm thành phố Los Angeles hôm thứ Tư đã được gửi đến từ Texas trong một hành động mà thị trưởng thành phố L.A. gọi là "đê hèn" của một thống đốc đảng Cộng hòa, AP đưa tin.
Cựu Thứ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Andrew Weissmann đã dự đoán trên MSNBC rằng Công tố đặc biệt của Bộ Tư pháp Jack Smith sẽ truy tố Trump với các tội danh liên quan đến cuộc nổi dậy ở Điện Capitol ngày 6/1/2021 và âm mưu duy trì quyền lực đã được báo trước của Trump sau thất bại của ông trong cuộc bầu cử năm 2020.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.